• Luat minh khue
  • Tu van luat
  • Tu van luat ly hon
  • Tu van luat minh khue

Tư vấn luật, Tư vấn pháp luật, Dịch vụ luật sư, luật sư doanh nghiệp, Công ty luật

Tư vấn luật, Tư vấn pháp luật, Dịch vụ luật sư, luật sư doanh nghiệp, Công ty luật

Đề cương giới thiệu luật bảo hiểm xã hội năm 2006

Việc soạn thảo Luật BHXH được sự chỉ đạo sát sao của Đảng, sự tham gia tích cực của các cơ quan nhà nước và ý kiến đóng góp của các đoàn thể, các cơ quan đại diện cho người lao động và người sử dụng lao động nhằm đảm bảo tính khả thi của đạo luật, tạo cơ sở pháp lý cho việc nâng cao hiệu quả việc thực thi chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội ở nước ta.

Luật Bảo hiểm xã hội (viết tắt là BHXH) được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khoá XI . Đây là một đạo luật quan trọng được Đảng, Nhà nước và người lao động hết sức quan tâm. Việc soạn thảo Luật BHXH được sự chỉ đạo sát sao của Đảng, sự tham gia tích cực của các cơ quan nhà nước và ý kiến đóng góp của các đoàn thể, các cơ quan đại diện cho người lao động và người sử dụng lao động nhằm đảm bảo tính khả thi của đạo luật, tạo cơ sở pháp lý cho việc nâng cao hiệu quả việc thực thi chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội ở nước ta.

I- SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG VÀ BAN HÀNH LUẬT BHXH

Bảo hiểm xã hội là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, luôn được ghi nhận trong các văn kiện của Đảng và Hiến pháp qua các thời kỳ. Để tổ chức thực hiện, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về BHXH quy định chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân và công an nhân dân, như: Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ về việc ban hành Điều lệ Bảo hiểm xã hội; Nghị định số 45/CP ngày 15/7/1995 của Chính phủ về việc ban hành Điều lệ Bảo hiểm xã hội đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và công an nhân dân; Nghị định số 01/2003/NĐ-CP ngày 09/01/2003 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Điều lệ Bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 của chính phủ; Thông tư số 07/2003/TT-BLĐTBXH ngày 12/3/2003 của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 01/2003/NĐ-CP ngày 09/01/2003 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Điều lệ Bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ...và nhiều văn bản khác hướng dẫn thực hiện các Nghị định nêu trên.

.Tư vấn thay đổi giấy phép kinh doanh ?

(Luật sư tư vấn luật bảo hiểm xã hội trực tuyến (24/7) gọi số : 1900 6162)

Một số kết quả đạt được:

Thứ nhất, đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội được mở rộng đến người lao động thuộc các thành phần kinh tế. Năm 1996 mới có 3,2 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội thì đến tháng 12/2005 đã lên tới 6,2 triệu người.

Thứ hai, quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành chủ yếu từ sự đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động; quỹ hoạt động theo nguyên tắc hạch toán, cân đối thu chi, độc lập với ngân sách nhà nước và được quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật.

Thứ ba, các chế độ bảo hiểm xã hội đã góp phần ổn định đời sống của người lao động trong quá trình lao động và nghỉ hưu; quy định rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động và nghĩa vụ của người lao động, giải quyết hợp lý hơn mối quan hệ giữa đóng và hưởng, khắc phục một bước tính bình quân nhưng vẫn đảm bảo tính xã hội thông qua việc điều tiết, chia sẻ rủi ro.

Thứ tư, việc quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội đã được thực hiện thống nhất trên cơ sở phân định rõ chức năng quản lý nhà nước với chức năng hoạt động sự nghiệp của bảo hiểm xã hội.

Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số tồn tại:   

Thứ nhất, đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tuy đã được mở rộng nhưng số người tham gia chưa nhiều. Hiện nay, trong khoảng hơn 10 triệu người có quan hệ lao động, mới chỉ có 6,2 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội mà chủ yếu vẫn là lao động ở khu vực nhà nước; số lao động làm việc ở khu vực ngoài quốc doanh tham gia bảo hiểm xã hội thấp, chỉ chiếm khoảng 20% tổng số lao động thuộc diện phải tham gia bảo hiểm xã hội.

Thứ hai, một số quy định trong chế độ bảo hiểm xã hội hiện hành không còn phù hợp, cụ thể:

 Quyền lợi và trách nhiệm của người lao động quy định trong các chế độ, nhất là hưu trí và tử tuất chưa hợp lý; người có thời gian đóng bảo hiểm xã hội ít, về hưu sớm nhưng hưởng chế độ với thời gian dài; tổng số tiền đóng của mỗi người từ khi đi làm đến khi nghỉ hưu, thấp hơn nhiều so với tổng số tiền lương hưu được hưởng. Ngược lại, người có thời gian đóng bảo hiểm xã hội dài nhưng chưa hưởng lương hưu hoặc mới hưởng lương hưu ít năm bị chết, mà thân nhân không đủ điều kiện hưởng trợ cấp tuất hàng tháng thì chỉ được hưởng tối đa 12 tháng lương hưu.

Thứ ba, việc tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội còn một số hạn chế, chưa có giải pháp tích cực để chống tình trạng chiếm dụng, nợ đọng tiền đóng bảo hiểm xã hội. Tồn tại trên là do nhận thức của người sử dụng lao động và người lao động chưa đầy đủ về quyền lợi và trách nhiệm trong việc thực hiện bảo hiểm xã hội ; công tác tuyên truyền về bảo hiểm xã hội chưa được coi trọng; việc thanh tra, kiểm tra chưa được thường xuyên và chưa có các chế tài đủ mạnh để xử lý vi phạm.  Một số quy định về thủ tục, hồ sơ giải quyết chế độ BHXH cho người lao động chưa bảo đảm yêu cầu của cải cách hành chính.

Thứ tư, quỹ bảo hiểm xã hội dài hạn (thực hiện chế độ hưu trí và tử tuất) chưa bảo đảm cân đối lâu dài.

Thứ năm, loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện chưa được quy định cụ thể, nên người lao động không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc có nguyện vọng nhưng chưa được tham gia.

Trong nền kinh tế thị trường người lao động luôn phải đối mặt với những rủi ro do bị mất việc làm, trong khi chính sách về bảo hiểm thất nghiệp cho người bị thất nghiệp chưa được ban hành.

Thứ sáu, hệ thống văn bản pháp luật về bảo hiểm xã hội đa số là những văn bản dưới luật và tản mạn, nên việc thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội còn chưa đồng bộ, thống nhất.

Xuất phát từ tình hình trên, việc ban hành Luật BHXH là rất cần thiết nhằm pháp điển hoá các quy định hiện hành và bổ sung các chính sách bảo hiểm xã hội cho phù hợp với quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo người lao động, bảo đảm an sinh xã hội và đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

II- QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO TRONG VIỆC XÂY DỰNG LUẬT BHXH

Luật BHXH được xây dựng trên cơ sở quán triệt các quan điểm sau:

1. Luật BHXH thể chế hoá đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước thể hiện trong các văn kiện: Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 Khoá IX, Kết luận Hội nghị Trung ương 8 Khoá IX về cải cách chính sách tiền lương, cụ thể hoá “Đề án Cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người có công” và Hiến pháp năm 1992 về quyền của người lao động.

2. Luật BHXH xây dựng trên cơ sở kế thừa và hoàn thiện những quy định trong pháp luật về bảo hiểm xã hội hiện hành, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật; đồng thời tham khảo kinh nghiệm của các nước, đặc biệt là các nước trong khu vực, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

3. Các chế độ bảo hiểm xã hội xây dựng theo nguyên tắc mức hưởng trên cơ sở mức đóng và chia sẻ giữa những người tham gia BHXH, tuỳ theo tính chất của từng chế độ, góp phần thực hiện an sinh xã hội; bảo đảm mối tương quan hợp lý giữa các đối tượng tham gia BHXH ở các thời kỳ khác nhau; bảo đảm quan hệ hài hoà giữa chính sách kinh tế với chính sách xã hội; mở rộng đối tượng tham gia BHXH, các chế độ BHXH và loại hình BHXH; đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước và tiến trình công nghiệp hoá.

4. Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch, được hạch toán tương ứng với từng nhóm chế độ; quản lý và sử dụng theo nguyên tắc cân đối thu- chi, bảo toàn và phát triển; được Nhà nước bảo hộ.

Các quan điểm nêu trên được thể hiện rõ nét trong nội dung các Chương, điều của Luật BHXH tạo nên những thay đổi cơ bản không chỉ phạm vi, đối tượng điều chỉnh; nội dung chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội mà có sự đổi mới về nội dung, cơ chế quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội, về tổ chức bảo hiểm xã hội khi Luật BHXH được thực thi trong cuộc sống.

III-  KẾT CẤU CỦA LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI

Luật BHXH gồm 11 Chương, 141 Điều với nội dung cơ bản như sau:

1. Chương I- Những quy định chung

Chương này gồm 14 Điều (từ Điều 1 đến Điều 14) quy định về phạm vi điều chỉnh; đối tượng áp dụng; giải thích từ ngữ; các chế độ bảo hiểm xã hội; nguyên tắc bảo hiểm xã hội; chính sách của Nhà nước đối với bảo hiểm xã hội; nội dung quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội; cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội; hiện đại hoá quản lý bảo hiểm xã hội; thanh tra bảo hiểm xã hội; quyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn, của đại diện người sử dụng lao động; chế độ báo cáo, kiểm toán và các hành vi bị nghiêm cấm.

2. Chương II- Quyền, trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động, tổ chức bảo hiểm xã hội.

  Chương này gồm 6 Điều (từ Điều 15 đến Điều 20) quy định cụ thể về quyền và trách nhiệm của các bên tham gia bảo hiểm xã hội.

3. Chương III-  Bảo hiểm xã hội bắt buộc 

Chương này gồm 48 Điều (từ Điều 21 đến Điều 68), chia thành 5 Mục, quy định các chế độ của BHXH bắt buộc: chế độ ốm đau; chế độ thai sản; chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; chế độ hưu  trí; chế độ tử tuất.

4. Chương IV: Bảo hiểm xã hội tự nguyện.

Chương này gồm 11 Điều (từ Điều 69 đến Điều 79), chia thành 2 mục, tương ứng với chế độ hưu trí và tử tuất.

5. Chương V: Bảo hiểm thất nghiệp 

Chương này gồm 8 Điều (từ Điều 80 đến Điều 87), quy định đối tượng áp dụng bảo hiểm thất nghiệp; điều kiện hưởng, mức trợ cấp, thời gian hưởng trợ cấp; hỗ trợ học nghề, tìm việc làm; các trường hợp tạm dừng, chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp.

6. Chương VI: Quỹ bảo hiểm xã hội

Chương này gồm 18 Điều (từ Điều 88 đến Điều 105), chia thành 3 mục: quỹ BHXH bắt buộc, quỹ BHXH tự nguyện và quỹ bảo hiểm thất nghiệp.

7. Chương VII: Tổ chức bảo hiểm xã hội

Chương này gồm 3 Điều (từ Điều 106 đến Điều 108), quy định về tổ chức bảo hiểm xã hội, Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội và nhiệm vụ của Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội.

8. Chương VIII: Thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội

Chương này gồm 21 Điều (từ Điều 109 đến Điều 129), quy định về Sổ BHXH, hồ sơ tham gia BHXH, cấp sổ BHXH, hồ sơ và việc giải quyết hưởng các chế độ BHXH, di chuyển việc hưởng BHXH.

9. Chương IX: Khiếu nại, tố cáo về bảo hiểm xã hội

Chương này gồm 3 Điều (từ Điều 130 đến Điều 132), quy định khiếu nại về BHXH; thẩm quyền, trình tự thủ tục giải quyết khiếu nại; tố cáo, giải quyết tố cáo về BHXH.

10. Chương X: Khen thưởng và xử lý vi phạm

Chương này gồm 6 điều (từ Điều 133 đến Điều 138), quy định về khen thưởng; quy định các hành vi vi phạm pháp luật về đóng BHXH, về thủ tục thực hiện BHXH, về sử dụng tiền đóng và quỹ BHXH, về lập hồ sơ để hưởng chế độ BHXH, quy định việc xử lý vi phạm pháp luật về BHXH.

11. Chương XI: Điều khoản thi hành

Chương này gồm 3 Điều (từ Điều 139 đến Điều 141), quy định chuyển tiếp, hiệu lực thi hành và hướng dẫn thi hành Luật BHXH.

 

IV-  MỘT SỐ NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA LUẬT BHXH

1. Phạm vi điều chỉnh  (Điều 1)

Luật BHXH quy định về chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội; quyền và trách nhiệm của người lao động, của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm xã hội; tổ chức bảo hiểm xã hội; quỹ bảo hiểm xã hội; thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội và quản lý nhà nước về bảo hiểm x�� hội.

Luật BHXH quy định các loại hình, chế độ bảo hiểm sau:

- Bảo hiểm xã hội bắt buộc với 5 chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động- bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất.

- Bảo hiểm xã hội tự nguyện với 2 chế độ hưu trí và tử tuất.

- Bảo hiểm thất nghiệp với trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề và hỗ trợ tìm việc làm.

Như vậy, Luật BHXH không chỉ điều chỉnh bảo hiểm xã hội bắt buộc với các chế độ quy định hiện hành mà còn điều chỉnh cả bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm xã hội tự nguyện.

Phạm vi điều chỉnh của Luật nhằm cụ thể hoá quy định trong Hiến pháp và Nghị quyết của Đảng về phát triển các loại hình bảo hiểm xã hội, từng bước mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, góp phần đáp ứng mục tiêu an sinh xã hội. Đối với bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm xã hội tự nguyện tuy là những nội dung mới nhưng đã được quy định trong Bộ luật Lao động. Mặt khác, việc quy định và thực hiện bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm xã hội tự nguyện sẽ tạo cơ sở pháp lý cho việc tham gia bảo hiểm xã hội của đông đảo người lao động, đáp ứng quá trình chu chuyển lao động trong nền kinh tế thị trường, hỗ trợ người lao động khi mất việc làm và là cơ sở từng bước đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

2. Đối tượng áp dụng  (Điều 2)

a) Bảo hiểm xã hội bắt buộc:

* Người lao động tham gia BHXH bắt buộc là công dân Việt Nam, bao gồm:

- Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên;

- Cán bộ, công chức, viên chức;

- Công nhân quốc phòng, công nhân công an;

- Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân;

- Hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn;

- Người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.

* Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho người lao động.

b) Bảo hiểm xã hội tự nguyện:

Công dân Việt Nam trong độ tuổi lao động không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc.

c) Bảo hiểm thất nghiệp:

- Người lao động là công dân Việt Nam làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc mà các hợp đồng này không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng với người sử dụng lao động quy định tại khoản 4 Điều này.

- Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp là cơ quan, tổ chức, cá nhân có sử dụng từ 10 lao động trở lên.

3. Những nội dung mới của các chế độ BHXH bắt buộc so với quy định hiện hành

a) Chế độ ốm đau:

- Bổ sung quy định trường hợp con nhỏ ốm đau người lao động phải nghỉ việc để chăm sóc, không khống chế chỉ thực hiện với con thứ nhất, thứ hai.

- Tăng thời gian nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau (thêm 10 ngày) đối với  người có thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 30 năm trở lên (60 ngày đối với người làm việc trong điều kiện bình thường và 70 ngày đối với người làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm).

- Đối với người mắc bệnh cần điều trị dài ngày, quy định độ dài thời gian hưởng trợ cấp không quá 180 ngày trong một năm, sau đó chuyển sang hưởng mức trợ cấp thấp hơn tuỳ thuộc vào thời gian đóng BHXH, cụ thể như sau:

+ Bằng 65% mức tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng từ đủ 30 năm trở lên;

+ Bằng 55% mức tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng từ đủ 15 năm đến dưới 30 năm;

+ Bằng 45% mức tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng dưới 15 năm.

+ Mức trợ cấp thấp nhất bằng mức tiền lương tối thiểu chung.

- Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia BHXH, nếu người mẹ (hoặc người cha) đã hết thời hạn hưởng chế độ mà con vẫn ốm đau thì người cha (hoặc người mẹ) được hưởng chế độ theo quy định.

b) Chế độ thai sản:

Chế độ này đã thiết kế một số quy định mới nhằm đảm bảo tốt hơn quyền lợi cho người lao động hưởng chế độ thai sản như: tăng số lần nghỉ việc đi khám thai; bổ sung quy định nghỉ 6 tháng đối với lao động nữ là người tàn tật; tăng số ngày hưởng trợ cấp thai sản đối với trường hợp con chết sau khi sinh; bổ sung đối tượng là cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được hưởng trợ cấp thai sản khi người mẹ chết sau khi sinh; bổ sung đối tượng hưởng trợ cấp 1 lần bằng 2 tháng lương tối thiểu chung đối với trường hợp chỉ có người cha tham gia BHXH mà người mẹ chết sau khi sinh con cũng như quy định cụ thể hơn về chế độ đối với lao động nữ đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con.

Một số quy định cụ thể:

- Bổ sung điều kiện được hưởng chế độ thai sản khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi là: người lao động phải đóng BHXH từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.

- Tăng số lần nghỉ việc để đi khám thai: trong thời gian mang thai, lao động nữ được nghỉ việc để đi khám thai 5 lần, mỗi lần 1 ngày (quy định hiện hành là 3 lần).

- Tăng thêm thời gian hưởng trợ cấp thai sản đối với các trường hợp sẩy thai hoặc sau khi sinh con mà con chết đảm bảo lao động nữ có đủ thời gian phục hồi sức khoẻ:

+ Khi sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu thì lao động nữ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản mười ngày nếu thai dưới một tháng; hai mươi ngày nếu thai từ một tháng đến dưới ba tháng; bốn mươi ngày nếu thai từ ba tháng đến dưới sáu tháng; năm mươi ngày nếu thai từ sáu tháng trở lên.

+ Trường hợp sau khi sinh con, nếu con dưới 60 ngày tuổi bị chết thì mẹ được nghỉ việc 90 ngày tính từ ngày sinh con; nếu con từ 60 ngày tuổi trở lên bị chết thì mẹ được nghỉ việc 30 ngày tính từ ngày con chết.

- Quy định đối tượng là nữ bị tàn tật được nghỉ hưởng trợ cấp thai sản 6 tháng.

- Quy định trường hợp chỉ có cha hoặc mẹ tham gia BHXH hoặc cả cha và mẹ đều tham gia BHXH mà mẹ chết sau khi sinh con thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 4 tháng tuổi.

- Sửa đổi mức trợ cấp 1 lần khi sinh con, nhận nuôi con nuôi: Lao động nữ sinh con hoặc người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi thì được trợ cấp một lần bằng 2 tháng lương tối thiểu chung cho mỗi con. Trường hợp chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội mà mẹ chết khi sinh con thì cha được trợ cấp 1 lần bằng 2 tháng lương tối thiểu chung cho mỗi con.

- Mức hưởng trợ cấp thai sản bằng 100% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc.

c) Chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp

* Điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động: Người lao động bị tai nạn và suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên thuộc một trong các trường hợp sau đây:   

- Tai nạn tại nơi làm việc trong giờ làm việc;

- Tai nạn ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động;

- Tai nạn trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý.

* Điều kiện hưởng chế độ bệnh nghề nghiệp: Người lao động bị bệnh thuộc danh mục bệnh nghề nghiệp do Bộ Y tế và Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội ban hành khi làm việc trong môi trường hoặc nghề có yếu tố độc hại và bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên.

* Giám định mức suy giảm khả năng lao động: Bổ sung quy định giám định tổng hợp mức suy giảm khả năng lao động khi người lao động vừa bị tai nạn lao động vừa bị bệnh nghề nghiệp hoặc bị tai nạn lao động nhiều lần hoặc bị nhiều bệnh nghề nghiệp.

* Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp: Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp được chia thành nhiều mức tuỳ thuộc vào từng tỷ lệ suy giảm khả năng lao động. Mức trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được tính gồm có 2 phần: phần trợ cấp tính theo mức suy giảm khả năng lao động được hưởng trên nền mức lương tối thiểu chung và phần trợ cấp tính theo thời gian đóng bảo hiểm xã hội được hưởng trên nền tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội, cụ thể như sau:

- Trợ cấp một lần:

+ Suy giảm 5% khả năng lao động thì được hưởng năm tháng lương tối thiểu chung, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 0,5 tháng lương tối thiểu chung;

+ Ngoài mức trợ cấp trên, còn được hưởng thêm khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, từ một năm trở xuống thì được tính bằng 0,5 tháng, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội được tính thêm 0,3 tháng tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.

- Trợ cấp hằng tháng:

+ Suy giảm 31% khả năng lao động thì được hưởng bằng 30% mức lương tối thiểu chung, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 2% mức lương tối thiểu chung;

+ Ngoài mức trợ cấp trên, hằng tháng còn được hưởng thêm một khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng BHXH, từ một năm trở xuống được tính bằng 0,5%, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH được tính thêm 0,3% mức tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.

- Điều chỉnh mức trợ cấp phục vụ như sau: Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên mà bị liệt cột sống hoặc mù hai mắt hoặc cụt, liệt hai chi hoặc bị bệnh tâm thần thì hằng tháng được hưởng trợ cấp phục vụ bằng mức lương tối thiểu chung. (theo quy định hiện hành là bằng 80% mức lương tối thiểu chung)

- Nâng mức trợ cấp 1 lần đối với trường hợp chết do tai nạn lao động- bệnh nghề nghiệp, cụ thể: Người lao động đang làm việc bị chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc bị chết trong thời gian điều trị lần đầu do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thì thân nhân được hưởng trợ cấp 1 lần bằng 36 tháng lương tối thiểu chung. (Theo quy định hiện hành là 24 tháng mức lương tối thiểu chung)

d) Chế độ hưu trí:

* Điều kiện hưởng lương hưu:

- Đối với cán bộ công nhân viên chức và người lao động: có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên và thuộc một trong các trường hợp sau đây:

            + Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi;

            + Nam từ đủ 55 tuổi đến đủ 60 tuổi, nữ từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi và có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên.

Tuổi đời được hưởng lương hưu trong một số trường hợp đặc biệt khác do Chính phủ quy định.

- Đối với lực lượng vũ trang: có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên và thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Nam đủ 55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi, trừ trường hợp Luật sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam hoặc Luật công an nhân dân có quy định khác;

+ Nam từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi, nữ từ đủ 45 tuổi đến đủ 50 tuổi và có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên.

- Đối với người bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên, đã đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên được hưởng lương hưu hằng tháng với mức thấp hơn so với người đủ điều kiện theo quy định trên khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi trở lên;

+ Có đủ 15 năm trở lên làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành.

* Mức lương hưu:

- Mức lương hưu hằng tháng của người lao động được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH tương ứng với 15 năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%.

- Mức lương hưu hằng tháng của người lao động nghỉ hưu trước tuổi, thì cứ mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định giảm 1%.

- Mức lương hưu hằng tháng thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung.

- Lương hưu được điều chỉnh trên cơ sở mức tăng của chỉ số giá sinh hoạt và tăng trưởng kinh tế. Mức điều chỉnh cụ thể do Chính phủ quy định.

* Trợ cấp một lần khi nghỉ hưu:

- Người lao động đã đóng BHXH trên 30 năm đối với nam, trên 25 năm đối với nữ, khi nghỉ hưu, ngoài lương hưu còn được hưởng trợ cấp một lần.

- Mức trợ cấp một lần được tính theo số năm đóng BHXH kể từ năm thứ 31 trở đi đối với nam và năm thứ 26 trở đi đối với nữ. Cứ mỗi năm đóng BHXH thì được tính bằng 0,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH.

Như vậy, quy định trong Luật không khống chế số tháng được trợ cấp 1 lần khi nghỉ hưu (quy định hiện hành tối đa không quá 5 tháng).

* Trợ cấp BHXH 1 lần đối với người không đủ điều kiện hưởng lương hưu hằng tháng:

- Điều kiện: Người lao động được hưởng BHXH một lần khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Đủ tuổi hưởng lương hưu theo quy định mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH;

+ Suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH;

+ Sau 1 năm nghỉ việc nếu không tiếp tục đóng BHXH và có yêu cầu nhận BHXH một lần mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH;

+ Ra nước ngoài để định cư. 

+ Người lao động thuộc lực lượng vũ trang được hưởng BHXH một lần khi phục viên, xuất ngũ, thôi việc mà không đủ điều kiện để hưởng lương hưu.

- Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần được tính theo số năm đã đóng BHXH, cứ mỗi năm tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH.

* Về mức bình quân tiền lương tháng làm căn cứ tính lương hưu, trợ cấp một lần:

- Đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định và có toàn bộ thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương này thì tính bình quân tiền lương tháng đóng BHXH như sau:

+ Tham gia BHXH trước ngày 01 tháng 01 năm 1995: tính bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của 5 năm cuối trước khi nghỉ hưu.

+ Tham gia BHXH trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 1995 đến ngày 31 tháng 12 năm 2000: tính bình quân của tiền lương tháng đóng BHXH của 6 năm cuối trước khi nghỉ hưu;

+ Tham gia BHXH trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 đến ngày 31 tháng 12 năm 2006: tính bình quân của tiền lương tháng đóng BHXH của 8 năm cuối trước khi nghỉ hưu.

+ Tham gia BHXH từ ngày 01 tháng 01 năm 2007: tính bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của 10 năm cuối trước khi nghỉ hưu.

- Đối với người lao động có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH của toàn bộ thời gian.

- Đối với người lao động vừa có thời gian đóng BHXH thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH chung của các thời gian.

* Quy định về tạm dừng hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng: Người lao động đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng bị tạm dừng hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Chấp hành hình phạt tù nhưng không được hưởng án treo;

- Xuất cảnh trái phép;

- Bị Toà án tuyên bố là mất tích.

e) Chế độ tử tuất

- Mức trợ cấp mai táng được nâng từ 8 lên 10 tháng mức lương tối thiểu.

- Nâng định suất tuất hằng tháng đối với mỗi thân nhân hưởng trợ cấp tuất hằng tháng từ 40% lên 50% mức lương tối thiểu chung.

- Nâng mức trợ cấp tuất một lần cho thân nhân người đang đóng BHXH bị chết, mỗi năm bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công đóng BHXH, không khống chế mức tối đa, thấp nhất bằng 3 tháng. Trợ cấp 1 lần cho thân nhân người đang hưởng lương hưu mà chết, cao nhất bằng 48 tháng lương hưu.

4. Bảo hiểm xã hội tự nguyện

* Đối tượng áp dụng:

Người Việt Nam trong độ tuổi lao động không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc.

* Điều kiện hưởng lương hưu: Người lao động hưởng lương hưu khi có đủ các điều kiện sau đây:

- Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi;

- Đủ 20 năm đóng BHXH trở lên.

Trường hợp nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi nhưng thời gian đóng BHXH còn thiếu không quá 5 năm thì được đóng tiếp cho đến khi đủ 20 năm.

* Cách tính lương hưu, trợ cấp một lần khi nghỉ hưu và BHXH 1 lần hoàn toàn giống với BHXH bắt buộc.

* Chế độ tử tuất: Chỉ thực hiện tuất một lần và quy định như BHXH bắt buộc.

* Quy định liên thông giữa BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện.

Việc thực hiện loại hình BHXH tự nguyện sẽ là điều kiện để mở rộng hơn nữa đối tượng tham gia BHXH. Người lao động tự do, tự tạo việc làm, người làm việc trong khu vực không hưởng tiền lương, tiền công có cơ hội tham gia BHXH để hưởng 2 chế độ hưu trí và tử tuất. Như vậy sẽ có hàng chục triệu người, tuỳ thuộc khả năng của mình, có nguyện vọng lựa chọn việc tham gia loại hình BHXH mới đáp ứng mục tiêu an sinh xã hội trong xu thế phát triển của xã hội.

5. Bảo hiểm thất nghiệp 

* Đối tượng áp dụng:

Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng hoặc hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc không xác định thời hạn ở những nơi có sử dụng từ 10 lao động trở lên.

* Điều kiện hưởng: Người thất nghiệp có đủ các điều kiện sau đây:

- Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi thất nghiệp;

- Đã đăng ký thất nghiệp với tổ chức BHXH;

- Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày kể từ ngày đăng ký thất nghiệp.

* Quyền lợi của người thất nghiệp:

- Mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng liền kề trước khi thất nghiệp.

- Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được quy định như sau:

+ 3 tháng, nếu có từ đủ 12 tháng đến dưới 36 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp;

+ 6 tháng, nếu có từ đủ 36 tháng đến dưới 72 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp;

+ 9 tháng, nếu có từ đủ 72 tháng đến dưới 144 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp;

+ 12 tháng, nếu có từ đủ 144 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp trở lên.

- Được hỗ trợ học nghề: Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được hỗ trợ học nghề với thời gian không quá 6 tháng. Mức hỗ trợ bằng mức chi phí học nghề ngắn hạn theo quy định của pháp luật về dạy nghề.

- Được tư vấn và hỗ trợ tìm việc làm miễn phí.

6. Quỹ bảo hiểm xã hội

a) Quỹ bảo biểm xã hội bắt buộc

- Quỹ BHXH bắt buộc được hạch toán theo từng quỹ thành phần : quỹ ốm đau và thai sản; quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; quỹ hưu trí và tử tuất.

- Mức đóng của người lao động là 5% cho quỹ hưu trí, tử tuất và từ năm 2010 cứ 2 năm tăng 1% cho đến khi đạt mức 8%.

- Mức đóng và phương thức đóng của người lao động Việt Nam làm việc có thời hạn ở nước ngoài do Chính phủ quy định.

- Mức đóng và phương thức đóng của người sử dụng lao động: Hằng tháng, người sử dụng lao động đóng trên quỹ tiền lương, tiền công đóng BHXH của người lao động như sau:

+ 3% vào quỹ ốm đau và thai sản; trong đó người sử dụng lao động giữ lại 2% để trả kịp thời cho người lao động đủ điều kiện hưởng chế độ ốm đau, thai sản và thực hiện quyết toán hằng quý với tổ chức bảo hiểm xã hội;

+ 1% vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;

+ 11% vào quỹ hưu trí và tử tuất; từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng là 14%.

- Các doanh nghiệp nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp trả lương theo chu kỳ sản xuất kinh doanh thì đóng hằng tháng, hằng quý hoặc 6 tháng một lần.

- Quy định về tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất:

+ Trong trường hợp người sử dụng lao động gặp khó khăn phải tạm dừng sản xuất, kinh doanh hoặc gặp khó khăn do thiên tai, mất mùa dẫn đến việc người lao động và người sử dụng lao động không có khả năng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất thì được tạm dừng đóng trong thời gian không quá 12 tháng.

+ Chính phủ quy định cụ thể điều kiện, khoảng thời gian tạm dừng đóng và thẩm quyền quyết định việc tạm dừng đóng.

- Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội không có phụ cấp khu vực.

- Quy định mức trần đóng, cao nhất bằng 20 lần mức lương tối tiểu chung.

- Mức chi phí quản lý bảo hiểm xã hội bắt buộc hằng năm trích từ tiền sinh lời do hoạt động đầu tư quỹ và bằng mức chi phí quản lý của cơ quan hành chính nhà nước.

- Quy định nguyên tắc đầu tư quỹ: Hoạt động đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội phải bảo đảm an toàn, hiệu quả và thu hồi được khi cần thiết.

b) Quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện

* Mức đóng và phương thức đóng của người lao động:

- Mức đóng hàng tháng bằng 16% mức thu nhập người lao động lựa chọn đóng bảo hiểm xã hội; từ năm 2010 trở đi, cứ 2 năm một lần đóng thêm 2% cho đến khi đạt mức đóng là 22%.

- Mức thu nhập làm cơ sở để tính đóng BHXH được thay đổi tuỳ theo khả năng của người lao động ở từng thời kỳ, nhưng thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung và cao nhất bằng 20 tháng lương tối thiểu chung.

- Người lao động được lựa chọn một trong các phương thức đóng hằng tháng, hằng quý hoặc 6 tháng một lần.

c) Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp

- Quỹ được sử dụng để chi trả trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp, hỗ trợ đào tạo nghề, hỗ trợ tìm việc làm và chi phí quản lý.

- Người lao động đóng 1% tiền lương, tiền công tháng; người sử dụng lao động đóng 1% tổng quỹ tiền lương, tiền công tháng của những người tham gia bảo hiểm thất nghiệp, Nhà nước hỗ trợ từ ngân sách bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của người lao động và mỗi năm chuyển một lần.

7. Một số nội dung khác:

Luật BHXH đã quy định cụ thể quyền và trách nhiệm của các bên tham gia bảo hiểm xã hội, của tổ chức bảo hiểm xã hội, của các cơ quan, tổ chức có liên quan, trước hết là các quy định về quyền và trách nhiệm của các chủ thể tham gia BHXH: người lao động và người sử dụng lao động; quyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn, của đại diện người sử dụng lao động; quyền và trách nhiệm của tổ chức BHXH; quy định chế độ báo cáo về quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội. Các quy định trên góp phần nâng cao nhận thức về vai trò, trách nhiệm và tạo nên sự gắn kết tích cực hơn trong việc tham gia BHXH nhằm đáp ứng một cách tốt nhất quyền và lợi ích của người lao động, người sử dụng lao động trong quá trình tham gia bảo hiểm xã hội.

Ngoài việc bổ sung, hoàn thiện các chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc nhằm khắc phục cơ bản các bất cập của các quy định hiện hành sẽ được thực hiện trong năm 2007, thì một trong những quy định mới trong Luật BHXH đó là thủ tục thực hiện BHXH. Nội dung này được kết cấu thành một chương gồm 21 Điều, quy định một cách cụ thể về hồ sơ, trách nhiệm của các bên, quy trình giải quyết thực hiện từng chế độ BHXH quán triệt nguyên tắc việc thực hiện BHXH phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHXH.

Các quy định về nội dung quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội, cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội trong việc xây dựng, hoạch định chính sách, chế độ, tổ chức thực hiện, thanh kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội, sẽ tạo nên việc thực thi pháp luật bảo hiểm xã hội tốt hơn, tích cực hơn các quy định của Luật BHXH.

 

IV- TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Luật BHXH có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2007; riêng đối với bảo hiểm xã hội tự nguyện thì có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2008, đối với bảo hiểm thất nghiệp thì từ ngày 01 tháng 01 năm 2009.

1. Để triển khai Luật BHXH trong năm tới, trước hết cần thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến các nội dung cơ bản của Luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị và người lao động nhằm không chỉ nâng cao về nhận thức, quyền và trách nhiệm mà tạo ra được một sự chuyển đổi căn bản trong việc thực thi các quy định về bảo hiểm xã hội trong điều kiện đã được luật hoá.

2. Cùng với hoạt động trên, các cơ quan được Chính phủ phân công cũng khẩn trương xây dựng, trình Chính phủ ban hành các văn bản hướng dẫn một số Điều quy định trong Luật BHXH theo hướng cụ thể, chi tiết và dễ thực hiện đồng thời rà soát lại các văn bản không còn phù hợp, chấm dứt hiệu lực tạo ra sự đồng bộ, thống nhất trong thực thi. Cụ thể các văn bản hướng dẫn thi hành luật Luật BHXH bao gồm:

- Nghị định của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với cán bộ, công chức và người lao động.

- Nghị định của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với lực lượng vũ trang.

- Nghị định của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội.

- Nghị định của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về bảo hiểm xã hội tự nguyện.

- Nghị định của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về bảo hiểm thất nghiệp.

 

3. Tổ chức các lớp tập huấn nhằm quán triệt đầy đủ các quy định của Luật BHXH, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ tổ chức thực hiện chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội; xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng, các tổ chức từ Trung ương tới cơ sở nhằm tạo ra sự thống nhất cao trong tổ chức thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội.

BỘ TƯ PHÁP - VỤ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

BỘ LAO ĐỘNG-THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI

VỤ BẢO HIỂM XÃ HỘI

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

 

Mọi thông tin cần tư vấn, quý khách vui lòng liên hệ:

Luật Minh Khuê

CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ (MK LAW FIRM)

LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT (24/7) GỌI: 1900 6162

Gửi yêu cầu dịch vụ trực tiếp qua Email    : lienhe@luatminhkhue.vn
Tham khảo dịch vụ và kiến thức pháp luật : http://www.luatminhkhue.vn
© Copyright by MKLAW FIRM

Số lượt đọc 728
GỬI YÊU CẦU DỊCH VỤ TƯ VẤN

Họ và tên(*)

Địa chỉ

Điện thoại(*)

Email(*)

Tiêu đề(*)

Nội Dung(*)

Tìm kiếm

Ví Dụ : Văn bản pháp luật, Van ban luat ...

Chính sách bảo hiểm

Những chế độ cơ bản về bảo hiểm y tế

I. Đối tượng, mức đóng, phương thức và trách nhiệm đóng BHYT:Đóng hằng tháng bằng 4,5% mức tiền lương, tiền công, trong đó chủ sử dụng lao động đóng 2/3, người lao động đóng 1/3, đối với các đối tượng: người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn và có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên;

Hỗ trợ trực tuyến

TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ:

1900 6162

Tư vấn Luật Bảo Hiểm Xã Hội

Gọi : 1900 6162

Dịch vụ nổi bật