- 1. Các yếu tố cấu thành tội cho vay nặng lãi
- 2. Khung hình phạt tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- 2.1. Khung hình phạt chính và hình phạt bổ sung
- 2.2. Hướng dẫn xác định "Thu lợi bất chính"
- 2.3. Cách Tòa án tính toán và cộng dồn các khoản phí bất hợp pháp để xác định lãi suất thực
- 2.4. Tham khảo hình phạt qua bản án xét xử tội cho vay lãi nặng
- 3. So sánh và đối chiếu các quy định pháp luật liên quan
- 3.1. So sánh giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự
- 3.2. Đối chiếu "Tội cho vay lãi nặng" với các tội danh liên quan khi có dấu hiệu đi kèm
- 4. Phân tích các tranh cãi pháp lý và đề xuất hoàn thiện
- 4.1. Các quan điểm về việc tịch thu tiền gốc cho vay
- 4.2. Những bất cập trong quy định hiện hành và đề xuất hoàn thiện
- Kết luận
Để đấu tranh hiệu quả với loại tội phạm này, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định "Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" tại Điều 201. Đồng thời, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP (có hiệu lực từ ngày 24/12/2021) để hướng dẫn chi tiết việc áp dụng điều luật này. Báo cáo này sẽ đi sâu phân tích các quy định pháp luật, thực tiễn xét xử và những tranh cãi pháp lý xung quanh tội danh này, nhằm cung cấp một cái nhìn toàn diện và chuyên sâu.
Vậy, hiểu thế nào về tội cho vay nặng lãi?
Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015) được hiểu là hành vi cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Đây là một tội phạm xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, đồng thời gây ảnh hưởng tiêu cực đến quyền và lợi ích hợp pháp của người vay.
1. Các yếu tố cấu thành tội cho vay nặng lãi
Các yếu tố cấu thành tội phạm này được xác định như sau :
Khách thể của tội phạm: Tội cho vay lãi nặng xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước về tín dụng, cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, và lợi ích của công dân.
Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự. Một điểm đáng chú ý là nếu người phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong quản lý công quỹ và dùng công quỹ cho vay lãi nặng mang tính chất bóc lột, họ vẫn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này với tình tiết tăng nặng quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Mặt khách quan của tội phạm: Bao gồm hai dấu hiệu chính:
- Hành vi cho vay với lãi suất cao: Hành vi khách quan là cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Theo Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, lãi suất vay do các bên thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay. Do đó, nếu lãi suất cho vay từ 100%/năm trở lên (gấp 05 lần mức 20%/năm) thì hành vi cho vay có dấu hiệu của tội cho vay lãi nặng. Việc quy định cụ thể mức lãi suất này tạo ra một ranh giới định lượng rõ ràng giữa hành vi dân sự thông thường và hành vi có dấu hiệu tội phạm hình sự. Ngưỡng 100%/năm là một tiêu chí khách quan, giúp các cơ quan tiến hành tố tụng có cơ sở vững chắc để xác định hành vi vi phạm, giảm thiểu sự tùy tiện trong quá trình áp dụng pháp luật.
- Thu lợi bất chính hoặc các điều kiện khác: Để cấu thành tội phạm, hành vi cho vay lãi nặng phải đáp ứng thêm một trong các điều kiện sau: (1) Thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; (2) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm; hoặc (3) Đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. "Thu lợi bất chính" được định nghĩa là số tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự và các khoản thu trái pháp luật khác của người vay.
Mặt chủ quan của tội phạm: Người phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Họ nhận thức rõ hành vi này gây nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả và mong muốn hậu quả đó xảy ra, hoặc tuy không mong muốn nhưng vẫn để mặc cho hậu quả đó xảy ra. Mặc dù mục đích thu lợi bất chính là bản chất của hành vi cho vay lãi nặng, nhưng mục đích này không phải là một dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm. Điều này có nghĩa là, việc xác định tội phạm tập trung vào hành vi khách quan (cho vay với lãi suất cao và thu lợi bất chính) hơn là vào ý định cụ thể của người phạm tội. Cách tiếp cận này giúp mở rộng phạm vi áp dụng của điều luật, đảm bảo rằng những hành vi gây thiệt hại cho xã hội do cho vay lãi nặng vẫn bị xử lý, ngay cả khi người phạm tội có thể biện minh bằng các mục đích khác ngoài việc trục lợi tuyệt đối.
2. Khung hình phạt tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Nội dung Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tội danh này như sau:
Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Điểm i, khoản 2, Điều 2 của Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã sửa đổi nội dung Điều 201 như sau: "i) Thay thế cụm từ “lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất” bằng cụm từ “lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất” tại khoản 1 và cụm từ “Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên” bằng cụm từ “Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên” tại khoản 2 Điều 201;"
2.1. Khung hình phạt chính và hình phạt bổ sung
Điều 201 Bộ luật Hình sự 2015 quy định các khung hình phạt chính và hình phạt bổ sung cho tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự như sau:
Khung hình phạt chính:
- Khoản 1: Người nào cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
- Khoản 2: Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Hình phạt bổ sung (Khoản 3): Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Việc Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP hướng dẫn "xem xét áp dụng nghiêm khắc hình phạt tiền là hình phạt chính đối với người thực hiện hành vi phạm tội" và "trường hợp hình phạt chính được áp dụng không phải hình phạt tiền thì phải xem xét áp dụng nghiêm khắc hình phạt bổ sung là hình phạt tiền" cho thấy một định hướng chính sách rõ ràng. Cách tiếp cận này ưu tiên tước đoạt lợi nhuận bất chính của người phạm tội, đây là một biện pháp răn đe trực tiếp và hiệu quả đối với một tội phạm cơ bản dựa trên sự bóc lột tài chính. Hơn nữa, quy định về hình phạt bổ sung "cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định" thể hiện một biện pháp phòng ngừa tái phạm chủ động. Bằng cách tước bỏ khả năng của cá nhân trong việc nắm giữ các vị trí hoặc thực hiện các công việc có thể tạo điều kiện cho hoạt động cho vay lãi nặng trong tương lai (ví dụ, trong các dịch vụ tài chính hoặc tiệm cầm đồ), pháp luật hướng tới việc phá vỡ năng lực hoạt động của tội phạm. Điều này phản ánh một chiến lược toàn diện không chỉ dừng lại ở việc trừng phạt mà còn bao gồm cả phòng ngừa tội phạm.
2.2. Hướng dẫn xác định "Thu lợi bất chính"
Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, có hiệu lực từ ngày 24/12/2021, đóng vai trò là văn bản hướng dẫn pháp luật quan trọng, cung cấp cơ sở để áp dụng thống nhất Điều 201 Bộ luật Hình sự 2015 trong thực tiễn xét xử.
Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP đã đưa ra định nghĩa và hướng dẫn cụ thể về "thu lợi bất chính" và cách tính lãi suất thực:
- Trích dẫn và giải thích: Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP quy định: “Thu lợi bất chính” là số tiền lãi thu được sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm theo quy định của Bộ luật Dân sự và các khoản thu trái pháp luật khác của người vay. Điều này nhấn mạnh rằng chỉ phần lãi suất vượt quá giới hạn hợp pháp (20%/năm theo Điều 468 BLDS 2015) mới được coi là bất chính.
- Phân tích các khoản thu trái pháp luật khác được cộng dồn: Để ngăn chặn hành vi lách luật, Khoản 1 Điều 4 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP hướng dẫn rằng, trường hợp người thực hiện hành vi cho vay lãi nặng thu thêm các loại phí từ người vay (như phí hợp đồng, phí tư vấn, phí dịch vụ, phí liên lạc...), thì các khoản tiền này sẽ được cộng dồn với tiền lãi để xác định tổng lãi suất thực tế và tổng số tiền thu lợi bất chính khi xem xét trách nhiệm hình sự. Việc bổ sung rõ ràng "các khoản thu trái pháp luật khác" vào định nghĩa "thu lợi bất chính" là một phản ứng pháp lý trực tiếp đối với các thủ đoạn tinh vi của "tín dụng đen". Các đối tượng này thường ngụy trang lãi suất cắt cổ dưới dạng các loại "phí" khác nhau nhằm né tránh các quy định về giới hạn lãi suất và trách nhiệm hình sự. Bằng cách quy định rõ ràng rằng các khoản phí này phải được cộng gộp vào tiền lãi để xác định lợi nhuận bất chính, Nghị quyết đã bịt kín một lỗ hổng tiềm ẩn, đảm bảo rằng bản chất bóc lột thực sự của giao dịch được nhận diện và truy tố. Điều này cho thấy sự linh hoạt và khả năng thích ứng của khung pháp lý trong việc đối phó với các phương thức phạm tội ngày càng phát triển.
2.3. Cách Tòa án tính toán và cộng dồn các khoản phí bất hợp pháp để xác định lãi suất thực
Việc xác định lãi suất thực và thu lợi bất chính là một quá trình đòi hỏi sự tỉ mỉ và tuân thủ các hướng dẫn của Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP.
Phương pháp tính toán cụ thể:
- Tòa án sẽ tổng hợp tất cả các khoản tiền mà người vay đã trả hoặc phải trả cho bên cho vay, bao gồm tiền lãi theo thỏa thuận và tất cả các loại phí phát sinh (phí hợp đồng, phí tư vấn, phí dịch vụ, v.v.).
- Tổng số tiền này sau đó được quy đổi thành tỷ lệ phần trăm trên số tiền gốc vay trong một khoảng thời gian nhất định (thường là theo năm) để xác định lãi suất thực tế.
- "Thu lợi bất chính" được tính bằng cách lấy tổng số tiền lãi và các khoản phí bất hợp pháp đã thu được trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất hợp pháp tối đa 20%/năm của khoản tiền vay.
- Trong trường hợp cho vay bằng tài sản khác (không phải tiền), giá trị của tài sản đó sẽ được quy đổi thành tiền tại thời điểm chuyển giao tài sản vay để làm cơ sở tính toán.
- Nếu giao dịch dân sự chưa hết thời hạn mà bị phát hiện, số tiền thu lợi bất chính sẽ được xác định dựa trên số tiền mà người vay thực tế đã trả.
- Nếu giao dịch đã hết hạn nhưng người vay chưa trả hoặc mới trả được một phần tiền lãi, số tiền thu lợi bất chính vẫn được xác định trên cơ sở của cả thời gian của giao dịch dân sự.
Ví dụ minh họa cách tính lãi suất thực và thu lợi bất chính:
Ví dụ 1 (Từ Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP, Điều 3, Khoản 1, Ví dụ 1): Nguyễn Văn A cho Nguyễn Văn B vay 300 triệu đồng trong 2 tháng, lãi 90 triệu đồng. Khi hết 1 tháng, B mới trả 45 triệu đồng thì hành vi bị phát hiện.
- Lãi suất hợp pháp tối đa (20%/năm) cho khoản vay 300 triệu đồng trong 1 tháng là: 300.000.000 VNĐ * (20%/12) = 5.000.000 VNĐ.
- Số tiền thu lợi bất chính được xác định là: 45.000.000 VNĐ (tiền thực tế đã trả) - 5.000.000 VNĐ (tiền lãi hợp pháp) = 40.000.000 VNĐ.
Ví dụ 2 (Từ Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP, Điều 3, Khoản 1, Ví dụ 2): Nguyễn Văn A cho Nguyễn Văn B vay 300 triệu đồng trong 2 tháng, lãi 80 triệu đồng đã được trừ trước vào tiền gốc (thực tế A chỉ giao cho B 220 triệu đồng). Khi hết 1 tháng thì bị phát hiện.
- Lãi suất hợp pháp tối đa (20%/năm) cho khoản vay 300 triệu đồng trong 1 tháng là: 300.000.000 VNĐ * (20%/12) = 5.000.000 VNĐ.
- Số tiền thu lợi bất chính được xác định là: 80.000.000 VNĐ (tiền lãi đã trừ trước) - 5.000.000 VNĐ (tiền lãi hợp pháp) = 75.000.000 VNĐ.
Ví dụ 3 (Từ Bản án số: 20/2024/HS-ST): Bị cáo Đỗ Thị M cho vay 10.000.000 đồng, thu lãi 12.000.000 đồng trong 240 ngày.
- Lãi suất thực tế là 5.000 đồng/triệu/ngày, tương đương 0.5%/ngày hoặc 182.5%/năm. Mức này gấp 9.125 lần mức lãi suất cao nhất được phép cho vay theo Bộ luật Dân sự (20%/năm).
- Số tiền lãi hợp pháp (20%/năm) cho khoản vay 10.000.000 đồng trong 240 ngày là: (10.000.000 VNĐ / 12 tháng / 30 ngày * 20%) * 240 ngày = 1.333.333 VNĐ.
- Số tiền thu lợi bất chính: 12.000.000 VNĐ (lãi đã thu) - 1.333.333 VNĐ (lãi hợp pháp) = 10.666.667 VNĐ.
Các ví dụ cụ thể và quy tắc chi tiết để tính toán "thu lợi bất chính" và "lãi suất thực" nêu trên cho thấy những thách thức thực tiễn mà các điều tra viên và tòa án phải đối mặt. Các đối tượng cho vay lãi nặng thường sử dụng các sơ đồ phức tạp, chẳng hạn như khấu trừ lãi suất ngay từ đầu hoặc cấu trúc các khoản vay với nhiều loại phí ẩn, để che giấu chi phí vay thực sự và gây khó khăn cho việc truy vết lợi nhuận bất chính. Sự cần thiết của những hướng dẫn chi tiết như trong Nghị quyết chỉ ra rằng đây là những vấn đề phổ biến trong các vụ án thực tế. Điều này cũng hàm ý rằng việc truy tố thành công không chỉ đòi hỏi chuyên môn pháp lý mà còn cần năng lực điều tra tài chính mạnh mẽ để làm sáng tỏ các giao dịch phức tạp và định lượng chính xác lợi nhuận bất chính, vốn là yếu tố then chốt để xác định trách nhiệm hình sự và mức án.
2.4. Tham khảo hình phạt qua bản án xét xử tội cho vay lãi nặng
Thực tiễn xét xử các vụ án cho vay lãi nặng cho thấy sự đa dạng trong tình tiết và cách thức áp dụng pháp luật của Tòa án. Các bản án thường được công bố công khai trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao (congbobanan.toaan.gov.vn) , cung cấp cái nhìn cụ thể về việc áp dụng Điều 201 BLHS 2015 và Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP.
Bản án tiêu biểu 1: Vụ án Hà Thị N (Bản án số: 71/2024/HS-ST ngày 25/11/2024 của TAND tỉnh Hà Nam)
Tình tiết vụ án tóm tắt: Vào ngày 14/5/2024, Hà Thị N đã cho chị Đỗ Thị Phương Mai vay 100.000.000 đồng với lãi suất 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày tại thôn Phú Thứ, xã Tiên Hiệp, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Đến ngày 19/6/2024, N tiếp tục cho chị Mai vay thêm 100.000.000 đồng với mức lãi suất tương tự tại khu công nghiệp Đồng Văn II, phường Duy Minh, thị xã Duy Tiên. Tổng số tiền lãi N đã nhận từ chị Mai là 46.800.000 đồng.
Cách xác định lãi suất và thu lợi bất chính của Hội đồng xét xử:
- Mức lãi suất áp dụng là 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tương ứng với 109,5%/năm.
- Hội đồng xét xử xác định mức lãi suất này gấp 5,475 lần mức lãi suất cao nhất được quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự (20%/năm).
- Số tiền thu lợi bất chính mà Hà Thị N đã thu được do tính lãi suất vượt quá mức quy định của pháp luật là 38.252.056 đồng.
Mức hình phạt đã được áp dụng và lý do: Bản án chỉ nêu Hà Thị N bị buộc tội "cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" theo Điều 201 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015. Dựa trên mức thu lợi bất chính là 38.252.056 đồng, hành vi này thuộc khung hình phạt tại Khoản 1 Điều 201 BLHS 2015 (thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng), với mức phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
Bản án tiêu biểu 2: Vụ án Đỗ Thị M (Bản án số: 20/2024/HS-ST)
Tình tiết vụ án tóm tắt: Trong một trường hợp, một người vay (NLQ1) đã vay Đỗ Thị M 10.000.000 đồng với lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày. NLQ1 đã trả lãi được 12.000.000 đồng trong 240 ngày. Trong một lần khác, NLQ1 cùng vợ tiếp tục vay M 10.000.000 đồng với lãi suất tương tự, M cắt lãi trước 01 tháng là 1.500.000 đồng và NLQ1 đã trả lãi được 10.500.000 đồng trong 07 tháng.
Cách xác định lãi suất và thu lợi bất chính của Hội đồng xét xử:
- Lần 1: Lãi suất thực tế là 5.000 đồng/triệu/ngày, tương đương 0.5%/ngày hoặc 182.5%/năm. Mức này gấp 9.125 lần mức lãi suất cao nhất được phép cho vay theo Bộ luật Dân sự (20%/năm). Số tiền lãi hợp pháp (20%/năm) cho khoản vay 10.000.000 đồng trong 240 ngày là 1.333.333 đồng. Số tiền thu lợi bất chính: 12.000.000 đồng (lãi đã thu) - 1.333.333 đồng (lãi hợp pháp) = 10.666.667 đồng.
- Lần 2: Lãi suất thực tế cũng là 5.000 đồng/triệu/ngày. Mặc dù có việc cắt lãi trước 1.500.000 đồng, Hội đồng xét xử vẫn tính toán thu lợi bất chính dựa trên tổng số tiền lãi đã thu được và trừ đi phần lãi hợp pháp tương ứng với thời gian vay thực tế. Tổng thu lợi bất chính từ cả hai lần vay sẽ được cộng dồn để xác định trách nhiệm hình sự.
Mức hình phạt đã được áp dụng và lý do: Bản án không nêu mức hình phạt cụ thể cho Đỗ Thị M mà chỉ tập trung vào cách tính thu lợi bất chính. Tuy nhiên, với tổng số tiền thu lợi bất chính từ hai lần vay, nếu đạt từ 30.000.000 đồng trở lên, bị cáo sẽ bị xử lý theo Khoản 1 Điều 201 BLHS 2015.
Bản án tiêu biểu 3: Vụ án Dương Văn B (Bản án số: 04/2025/HS-ST ngày 22/01/2025 của TAND Quận 6, TP. Hồ Chí Minh)
Tình tiết vụ án tóm tắt: Bị cáo Dương Văn B (Bảo) bị Tòa án nhân dân Quận 6, TP. Hồ Chí Minh xét xử về tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự". Chi tiết cụ thể về các khoản vay, lãi suất và cách tính thu lợi bất chính không được cung cấp trong thông tin có sẵn.
Cách xác định lãi suất và thu lợi bất chính của Hội đồng xét xử: Mặc dù không có chi tiết tính toán, việc bản án áp dụng Khoản 2 Điều 201 BLHS 2015 ngụ ý rằng bị cáo đã thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, là ngưỡng để áp dụng khung hình phạt tăng nặng.
Mức hình phạt đã được áp dụng và lý do: Bị cáo Dương Văn B bị phạt 08 (tám) tháng tù về tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự", thời hạn tù tính từ ngày 01/8/2024. Ngoài ra, bị cáo còn bị phạt bổ sung 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng theo Khoản 3 Điều 201 BLHS 2015. Mức phạt tù này phản ánh tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, đặc biệt khi thu lợi bất chính ở mức cao, đồng thời hình phạt bổ sung tiền nhằm tước đoạt một phần lợi ích kinh tế từ hành vi phạm tội.
Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến tội cho vay nặng lãi, vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162 để được đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm của Công ty luật Minh Khuê giải đáp.
3. So sánh và đối chiếu các quy định pháp luật liên quan
Hoạt động cho vay lãi nặng có thể bị xử lý ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào tính chất và mức độ vi phạm. Việc phân biệt giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự, cũng như đối chiếu với các tội danh liên quan khi có dấu hiệu đi kèm, là rất quan trọng để áp dụng pháp luật chính xác.
3.1. So sánh giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự
| Tiêu chí phân biệt | Vi phạm hành chính (Nghị định 144/2021/NĐ-CP) | Tội phạm hình sự (Điều 201 BLHS 2015) |
| Căn cứ pháp lý |
Điểm đ Khoản 4 Điều 12 Nghị định 144/2021/NĐ-CP |
Điều 201 Bộ luật Hình sự 2015 |
| Hành vi vi phạm |
Kinh doanh dịch vụ cầm đồ cho vay tiền có cầm cố tài sản hoặc không đăng ký ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự mà cho vay tiền có cầm cố tài sản hoặc không cầm cố tài sản nhưng lãi suất cho vay vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự (tức là vượt quá 20%/năm). |
Cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (tức là từ 100%/năm trở lên). |
| Ngưỡng thu lợi bất chính/Điều kiện định tội |
Không quy định ngưỡng thu lợi bất chính cụ thể để xử phạt hành chính. Chỉ cần lãi suất vượt quá 20%/năm. |
Phải thỏa mãn một trong các điều kiện sau: Thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm; hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. |
| Mức phạt/Hình phạt |
Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. |
Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm, hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm, tùy theo mức độ thu lợi bất chính. |
| Biện pháp khắc phục hậu quả/Hình phạt bổ sung |
Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được từ hành vi cho vay lãi vượt mức quy định. |
Có thể bị phạt tiền bổ sung từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. |
Một điểm bất cập đáng kể là sự không nhất quán về ngưỡng lãi suất giữa quy định xử phạt hành chính và quy định truy cứu trách nhiệm hình sự. Cụ thể, hành vi cho vay được coi là vi phạm hành chính nếu lãi suất vượt quá 20%/năm , trong khi để cấu thành tội phạm hình sự, lãi suất phải gấp 05 lần trở lên mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, tức là từ 100%/năm trở lên. Điều này tạo ra một "khoảng trống" pháp lý đối với các trường hợp cho vay với lãi suất nằm giữa 20%/năm và 100%/năm. Mặc dù các hành vi trong khoảng này vẫn là bất hợp pháp theo dân sự và có thể bị xử phạt hành chính, chúng không tự động dẫn đến trách nhiệm hình sự theo Điều 201 Bộ luật Hình sự 2015, trừ khi đạt ngưỡng thu lợi bất chính hoặc có yếu tố tái phạm từ vi phạm hành chính hoặc bản án trước đó. Sự khác biệt này có thể gây khó khăn trong việc thực thi pháp luật, tạo điều kiện cho một số đối tượng cho vay lãi nặng hoạt động dưới ngưỡng hình sự nhưng vẫn bóc lột người vay một cách đáng kể, đồng thời làm phức tạp việc xác định tình tiết "đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này" trong bối cảnh hình sự.
3.2. Đối chiếu "Tội cho vay lãi nặng" với các tội danh liên quan khi có dấu hiệu đi kèm
Hoạt động cho vay lãi nặng, đặc biệt là trong bối cảnh "tín dụng đen", thường không chỉ dừng lại ở hành vi cho vay mà còn đi kèm với các hành vi đòi nợ trái pháp luật, có thể cấu thành các tội phạm khác, gây ra những hệ lụy nghiêm trọng cho xã hội và an ninh trật tự.
Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170 BLHS 2015):
- Dấu hiệu cấu thành: Tội cưỡng đoạt tài sản được đặc trưng bởi hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản. Bản chất là người phạm tội sử dụng các thủ đoạn uy hiếp tinh thần để làm cho người có trách nhiệm về tài sản lo sợ mà phải giao tài sản cho họ. Mặt chủ quan của tội này là lỗi cố ý trực tiếp, với mục đích chiếm đoạt tài sản.
- Mối quan hệ trong hoạt động đòi nợ: Trong bối cảnh đòi nợ lãi nặng, hành vi cưỡng đoạt tài sản xảy ra khi đối tượng cho vay sử dụng các thủ đoạn uy hiếp tinh thần (như đe dọa tố cáo, đe dọa gây thiệt hại về danh dự, uy tín, hoặc các thủ đoạn khác không nhất thiết là dùng vũ lực ngay lập tức) để buộc người vay hoặc người thân của họ phải giao tài sản ngoài khoản nợ gốc và lãi hợp pháp. Bản chất của tội cho vay lãi nặng là xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, còn tội cưỡng đoạt tài sản là xâm phạm quyền sở hữu tài sản thông qua hành vi uy hiếp tinh thần.
Cần phân biệt rõ giữa "Cưỡng đoạt tài sản" và "Cướp tài sản" trong bối cảnh đòi nợ. Tội "Cướp tài sản" liên quan đến việc sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực ngay lập tức, làm cho nạn nhân rơi vào tình trạng không thể chống cự, buộc phải giao tài sản. Ngược lại, "Cưỡng đoạt tài sản" liên quan đến các mối đe dọa hoặc thủ đoạn khác nhằm uy hiếp tinh thần, nhưng nạn nhân vẫn có thời gian để suy nghĩ, thương lượng hoặc tìm kiếm sự giúp đỡ, không bị buộc phải tuân thủ ngay lập tức. Sự khác biệt tinh tế này trong trạng thái tâm lý và khả năng chống cự của nạn nhân tại thời điểm chuyển giao tài sản là yếu tố then chốt để phân loại tội danh chính xác. Trong thực tiễn, các đối tượng cho vay lãi nặng có thể bắt đầu bằng các chiến thuật cưỡng đoạt và leo thang thành cướp nếu các phương pháp ban đầu không hiệu quả, đòi hỏi cơ quan thực thi pháp luật phải đánh giá cẩn thận các tình huống cụ thể, bao gồm cả yếu tố thời gian và không gian của mối đe dọa, để xác định tội danh phù hợp.
Tội đe dọa giết người (Điều 133 BLHS 2015)
- Dấu hiệu cấu thành: Tội đe dọa giết người được quy định tại Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 2015. Cụ thể, người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trạng thái bất an, lo sợ của người bị đe dọa có thể được đánh giá dựa trên nội dung và hình thức đe dọa, thời gian, địa điểm, tần suất và hoàn cảnh cụ thể khi xảy ra hành vi đe dọa, cũng như thái độ và xử sự của người bị đe dọa sau khi họ bị đe dọa. Mặt chủ quan của tội này là lỗi cố ý, với mục đích của người phạm tội là gây lo sợ cho nạn nhân chứ không có ý định tước đoạt tính mạng của họ.
- Mối quan hệ trong hoạt động đòi nợ: Các đối tượng cho vay lãi nặng thường sử dụng hành vi đe dọa giết người để uy hiếp tinh thần người vay hoặc người thân của họ nhằm gây áp lực trả nợ, đặc biệt khi người vay không có khả năng chi trả. Hành vi này có thể biểu hiện qua lời nói trực tiếp, tin nhắn, cuộc gọi, hoặc các hành động khác làm cho người bị đe dọa thực sự tin rằng mối đe dọa đó có thể trở thành hiện thực và ảnh hưởng đến tính mạng của họ hoặc người thân.
Hướng dẫn của Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP tại Điều 4, Khoản 3, Ví dụ 1, chỉ rõ rằng "Trường hợp người phạm tội thực hiện nhiều hành vi khác nhau liên quan đến việc đòi nợ (như ép buộc lấy tài sản, đánh người vay...) thì tùy từng trường hợp họ phải xử lý trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng. Ví dụ: A đánh B gãy tay để đòi lại số tiền đã cho vay lãi nặng. A phạm tội cố ý gây thương tích và tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự". Điều này làm nổi bật hiện tượng "tội phạm kép" hoặc thậm chí nhiều tội danh cùng tồn tại trong các vụ án cho vay lãi nặng. Tội "cho vay lãi nặng" thường là động cơ hoặc bối cảnh cho các hành vi phạm tội bạo lực hoặc liên quan đến tài sản xảy ra sau đó trong quá trình đòi nợ. Điều này hàm ý rằng các cơ quan thực thi pháp luật và công tố viên phải áp dụng một cách tiếp cận toàn diện, không chỉ tập trung vào hành vi cho vay nặng lãi mà còn điều tra và truy tố tỉ mỉ tất cả các hành vi phạm tội liên quan, dẫn đến việc cộng dồn các tội danh và hình phạt tổng thể nghiêm khắc hơn. Điều này phản ánh quyết tâm của Nhà nước trong việc giải quyết triệt để các tác hại đa chiều do "tín dụng đen" gây ra.
Bảng phân biệt Tội cho vay lãi nặng, Tội cưỡng đoạt tài sản và Tội đe dọa giết người
| Tiêu chí | Tội cho vay lãi nặng (Điều 201 BLHS) | Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170 BLHS) | Tội đe dọa giết người (Điều 133 BLHS) |
| Khách thể bị xâm hại |
Trật tự quản lý kinh tế (tín dụng, tiền tệ); lợi ích của công dân |
Quyền sở hữu tài sản; quyền nhân thân |
Quyền được sống, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe của con người |
| Chủ thể |
Người từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực TNHS |
Người từ đủ 14 tuổi trở lên, có năng lực TNHS (đối với khoản 2, 3, 4); từ đủ 16 tuổi trở lên (đối với khoản 1) |
Người từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực TNHS |
| Mặt khách quan (Hành vi đặc trưng) |
Cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên mức lãi suất cao nhất BLDS (100%/năm trở lên); thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng trở lên hoặc tái phạm |
Đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản |
Đe dọa giết người, làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện |
| Mặt chủ quan (Lỗi, Mục đích) |
Lỗi cố ý; mục đích thu lợi bất chính (không bắt buộc là dấu hiệu cấu thành) |
Lỗi cố ý trực tiếp; mục đích chiếm đoạt tài sản |
Lỗi cố ý; mục đích gây lo sợ cho nạn nhân chứ không phải tước đoạt tính mạng |
| Mối quan hệ/Dấu hiệu đi kèm trong hoạt động đòi nợ |
Thường là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác như cưỡng đoạt, đe dọa giết người khi đòi nợ. |
Thường là hành vi đòi nợ trái pháp luật khi người vay không có khả năng chi trả, sử dụng các thủ đoạn uy hiếp tinh thần để chiếm đoạt tài sản. |
Thường là hành vi đòi nợ trái pháp luật khi người vay không có khả năng chi trả, nhằm gây áp lực tinh thần cho người vay. |
4. Phân tích các tranh cãi pháp lý và đề xuất hoàn thiện
Mặc dù Điều 201 BLHS 2015 và Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP đã tạo hành lang pháp lý quan trọng để xử lý tội cho vay lãi nặng, thực tiễn áp dụng vẫn còn tồn tại một số vướng mắc và tranh cãi, đòi hỏi sự nghiên cứu và hoàn thiện thêm.
4.1. Các quan điểm về việc tịch thu tiền gốc cho vay
Vấn đề tịch thu tiền gốc cho vay trong các vụ án cho vay lãi nặng là một trong những điểm gây tranh cãi trong thực tiễn xét xử. Có ba quan điểm chính được ghi nhận :
Quan điểm thứ nhất: Cho rằng cần tịch thu toàn bộ số tiền gốc cho vay. Ví dụ, trong một vụ án, số tiền gốc cho vay của bị cáo C. là 32.686.170.000 đồng, quan điểm này đề xuất tịch thu toàn bộ số tiền này.
Quan điểm thứ hai: Đề xuất tịch thu toàn bộ số tiền cho vay lần đầu và tiền gốc phát sinh mới, nhưng không tịch thu số tiền gốc quay vòng. Tiền quay vòng được xác định là số tiền cho vay lại từ khoản tiền mà người vay đã trả trước đó. Ví dụ, nếu T. trả tiền vào tài khoản của bị cáo vào ngày "N", và ngày "N + 1" bị cáo cho T. vay tiền, thì số tiền cho vay vào ngày "N + 1" từ tài khoản mà T. trả vào ngày "N" được xác định là tiền quay vòng. Tiền cho vay từ tài khoản khác được xác định là tiền gốc mới phát sinh. Theo quan điểm này, số tiền gốc cho vay bị tịch thu của C. là 2.751.040.000 đồng. Tác giả của một bài viết pháp lý đồng tình với quan điểm này, coi số tiền cho vay quay vòng và tiền phát sinh mới là công cụ phạm tội, do đó chỉ nên tịch thu số tiền này.
Quan điểm thứ ba: Chỉ tính tiền gốc cho vay của lần cho vay nhiều nhất. Theo đó, chỉ tịch thu của C. là 2.171.000.000 đồng.
Về vấn đề này, Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP đã có hướng dẫn tại Điều 6, Khoản 1, quy định rõ: "Khoản tiền người phạm tội dùng để cho vay (tiền gốc) là công cụ, phương tiện phạm tội, bị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước". Ngoài ra, Khoản 2 Điều 6 Nghị quyết cũng quy định: "Khoản tiền lãi theo quy định của Bộ luật Dân sự tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là tiền phát sinh từ tội phạm, bị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước". Hướng dẫn này của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã thống nhất quan điểm về việc tịch thu tiền gốc cho vay, coi đây là công cụ, phương tiện phạm tội, nhằm tước đoạt triệt để lợi ích vật chất từ hành vi phạm tội.
4.2. Những bất cập trong quy định hiện hành và đề xuất hoàn thiện
Mặc dù đã có những nỗ lực đáng kể trong việc hoàn thiện pháp luật về tội cho vay lãi nặng, vẫn còn một số bất cập trong quy định hiện hành và thực tiễn áp dụng, cần được nghiên cứu và đề xuất hoàn thiện :
Về kỹ thuật lập pháp:
- Bất cập: Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã sửa đổi cụm từ "lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất" thành "lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất" tại khoản 1, và "Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên" thành "Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên" tại khoản 2 Điều 201. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 201 vẫn giữ cụm từ "thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng" mà không thêm từ "mà" như khoản 2. Sự thiếu đồng bộ này, dù không gây vướng mắc lớn trong cách hiểu trên thực tế, vẫn làm cho điều luật thiếu chặt chẽ và logic.
- Đề xuất hoàn thiện: Kiến nghị sửa đổi khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 thành: "Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, mà thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này,...". Việc bổ sung từ "mà" sẽ đảm bảo sự thống nhất cao trong toàn bộ Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về xác định tình tiết "đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này":
- Bất cập: Khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 bổ sung dấu hiệu định tội mới là "đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm". Theo Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP, "cho vay lãi nặng" là cho vay với mức lãi suất gấp 05 lần trở lên mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự (tức là từ 100%/năm trở lên). Tuy nhiên, Nghị định số 144/2021/NĐ-CP lại quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi "cho vay tiền... lãi suất cho vay vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự" (tức là chỉ cần vượt quá 20%/năm). Sự thiếu thống nhất giữa hai văn bản này gây khó khăn trong việc xác định tình tiết "đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này" theo khoản 1 Điều 201 BLHS, vì mức lãi suất để bị xử phạt hành chính thấp hơn nhiều so với mức lãi suất để cấu thành tội cho vay lãi nặng.
- Đề xuất hoàn thiện: Kiến nghị sửa đổi cụm từ "đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này" tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 thành "đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cho vay với lãi suất vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự". Điều này sẽ giúp áp dụng dấu hiệu định tội này một cách chính xác và thống nhất.
Về chủ thể của tội phạm (pháp nhân thương mại):
Bất cập: Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định chủ thể của tội cho vay lãi nặng chỉ là cá nhân, không bao gồm pháp nhân thương mại. Điều 76 BLHS 2015 liệt kê 33 tội danh mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự, nhưng không có tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Điều 201). Thực tiễn cho thấy, nhiều tổ chức, công ty tài chính trá hình cũng thực hiện hành vi cho vay nặng lãi, nhưng không có căn cứ pháp lý để xử lý trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân này theo Điều 201 BLHS. Điều này gây bất cập vì các giao dịch cho vay lãi nặng của pháp nhân vẫn diễn ra mà chưa bị xử lý.
Đề xuất hoàn thiện: Kiến nghị sửa đổi, bổ sung phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại tại Điều 76 Bộ luật Hình sự năm 2015 để bao gồm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Điều 201). Cụ thể, Điều 76 cần được sửa đổi, bổ sung để thêm "201" vào danh sách các điều luật mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự. Việc này nhằm đảm bảo xử lý triệt để, kịp thời đối với loại tội phạm này khi được thực hiện bởi pháp nhân thương mại.
Về xác định khoản thu trái pháp luật khác:
- Bất cập: Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP quy định "thu lợi bất chính" bao gồm số tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của BLDS và "các khoản thu trái pháp luật khác của người vay". Tuy nhiên, Nghị quyết này không giải thích cụ thể "các khoản thu trái pháp luật khác" là những khoản thu nào, gây khó khăn trong việc xác định thống nhất trên thực tế. Ví dụ, việc thỏa thuận khoản phạt trả chậm lãi có được coi là khoản thu trái pháp luật hay không còn có nhiều quan điểm khác nhau, do nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận trong giao dịch dân sự.
- Đề xuất hoàn thiện: Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần bổ sung nội dung giải thích cụ thể "các khoản thu trái pháp luật khác" là những khoản thu nào khi sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 01/2021. Điều này sẽ đảm bảo áp dụng thống nhất pháp luật trong thực tiễn.
Kết luận
"Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" theo Điều 201 Bộ luật Hình sự 2015, được hướng dẫn chi tiết bởi Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP, là một công cụ pháp lý quan trọng trong cuộc chiến chống lại "tín dụng đen". Các quy định đã xác định rõ ràng các yếu tố cấu thành tội phạm, khung hình phạt, và đặc biệt là cách thức xác định "thu lợi bất chính" và lãi suất thực tế, bao gồm cả việc cộng dồn các khoản phí bất hợp pháp. Việc này thể hiện sự thích ứng của pháp luật trước các thủ đoạn lách luật tinh vi, nhằm tước đoạt triệt để lợi ích bất chính từ hành vi phạm tội.
Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật vẫn bộc lộ một số khoảng trống và bất cập, đặc biệt là sự không đồng bộ trong kỹ thuật lập pháp, sự thiếu thống nhất giữa ngưỡng lãi suất hành chính và hình sự, việc chưa quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại, và sự thiếu rõ ràng trong việc giải thích "các khoản thu trái pháp luật khác". Những vấn đề này đòi hỏi sự tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống pháp luật để đảm bảo tính chặt chẽ, thống nhất và hiệu quả trong công tác phòng, chống tội phạm cho vay lãi nặng. Việc giải quyết các vướng mắc này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả răn đe, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, và duy trì trật tự quản lý kinh tế, xã hội.