• Luat minh khue
  • Tu van luat
  • Tu van luat ly hon
  • Tu van luat minh khue

Tư vấn luật, Tư vấn pháp luật, Dịch vụ luật sư, luật sư doanh nghiệp, Công ty luật

Tư vấn luật, Tư vấn pháp luật, Dịch vụ luật sư, luật sư doanh nghiệp, Công ty luật

Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp

Công ty luật Minh Khuê sưu tầm và biên tập để giới thiệu các quy phạm pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp:

XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH

TRONG LĨNH VỰC TƯ PHÁP THEO NGHỊ ĐỊNH SỐ 60/NĐ-CP

 NGÀY 23 THÁNG 7 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ

 

    Phần thứ nhất

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGHỊ ĐỊNH

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH NGHỊ ĐỊNH MỚI THAY THẾ NGHỊ ĐỊNH 76/2006/NĐ-CP NGÀY 02 THÁNG 8 NĂM 2006

1. Ngày 02/8/2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 76/2006/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp. Kể từ thời điểm đó đến khi ban nhành Nghị định số 60/2009/NĐ-CP ngày 23/7/2009 để thay thế, Nghị định số 76/2006/NĐ-CP đã trở thành cơ sở pháp lý quan trọng trong việc đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Tuy nhiên, sau hơn hai năm triển khai thực hiện, nội dung của Nghị định số 76/2006/NĐ-CP đã phát sinh một số tồn tại, bất cập, như Nghị định quy định thiếu một số hành vi cần phải xử phạt phát sinh trong thực tiễn, mức tiền phạt được quy định trong Nghị định còn thấp nên không bảo đảm tính sức răn đe, giáo dục, phòng ngừa… Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung kịp thời Nghị định số 76/2006/NĐ-CP để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tư pháp trong tình hình mới là cần thiết.

2. Ngày 02/4/2008, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh số 04/2008/UBTVQH12  sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung) để giải quyết những vấn đề thật sự bức xúc trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tế thi hành Pháp lệnh năm 2002 những năm qua. Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung có hiệu lực từ ngày 01/8/2008. Việc ban hành Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung đòi hỏi cũng phải kịp thời sửa đổi, bổ sung các nghị định của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý Nhà nước được ban hành trước khi Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung có hiệu lực, trong đó có Nghị định số 76/2006/NĐ-CP nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của  các quy định trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định về xử phạt vi phạm hành chính với các quy định của Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung, đáp ứng  tình hình đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính hiện nay. Chẳng hạn như khoản 1 Điều 37 Nghị định số 76/2006/NĐ-CP quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Thanh tra viên chuyên ngành Tư pháp đang thi hành công vụ là 200.000 đồng, nhưng Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Thanh tra viên chuyên ngành là 500.000 đồng. Khoản 2 Điều 37 Nghị định  số 76/2006/NĐ-CP quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chánh Thanh tra Sở Tư pháp là 20.000.000 đồng, nhưng Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chánh Thanh tra Sở (bao gồm cả Chánh Thanh tra Sở Tư pháp) là 30.000.000 đồng, do đó, Nghị định số 76/2006/NĐ-CP cần phải được sửa đổi để quy định nâng thẩm quyền xử phạt của các chức danh nói trên cho phù hợp với Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung.

3. Trong thời gian vừa qua, một số văn bản  quy phạm pháp luật mới đã được ban hành như Luật Luật sư (thay thế Pháp lệnh Luật sư trước đây), Luật Trợ giúp pháp lý, Luật Thi hành án dân sự, Pháp lệnh sửa đổi,  bổ sung một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002... Đây là cơ sở pháp lý rất quan trọng, làm thay đổi  nhiều nội dung của các hành vi vi phạm được quy định tại Nghị định số 76/2006/NĐ-CP (như một số hành vi trước đây được coi là vi phạm, nay theo các luật mới được ban hành thì không được coi là vi phạm, ngược lại, cũng xuất hiện các hành vi vi phạm mới), do đó, việc soạn thảo ban hành Nghị định mới thay thế nghị định số 76/2006/NĐ-CP là vấn đề cấp bách và cần thiết. Nghị định mới thay thế phải bảo đảm các yêu cầu về tính hợp Hiến, hợp pháp, phù hợp với các quy định của Hiến pháp năm 1992, Luật Luật sư, Luật trợ giúp pháp lý, Luật Công chứng, Luật Quốc tịch, Luật Thi hành án dân sự,  Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2008... phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan, bảo đảm tính thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành.

Xuất phát từ  những lý do trên đây, việc soạn thảo và ban hành Nghị định mới quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp để thay thế cho Nghị định  số 76/2006/NĐ-CP hiện hành là cần thiết.

          II. NGUYÊN TẮC, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VIỆC XÂY DỰNG NGHỊ ĐỊNH

          Việc xây dựng Nghị định được tiến hành trên cơ sở các nguyên tắc, quan điểm chỉ đạo sau đây:

          1. Xây dựng Nghị định mới thay thế Nghị định số 76/2006/NĐ-CP hiện hành, trong đó tập trung sửa đổi, bổ sung những vấn đề lớn, bức xúc, nổi cộm phát sinh trong thực tiễn xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp hơn hai năm vừa qua nhằm kịp thời tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

           2. Bảo đảm cho các quy định trong Nghị định mới phù hợp với các quy định của Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung mới ban hành, bổ sung một số quy định còn thiếu để việc thực hiện Nghị định được thống nhất, đồng bộ và khả thi trong thực tiễn.

3. Kịp thời cập nhật, bổ sung những quy định trong các luật mới được ban hành sau khi Nghị định số 76/2006/NĐ-CP có hiệu lực nhằm bảo đảm sự đầy đủ, toàn diện của văn bản như một số quy định trong Luật Công chứng ngày 29 tháng 11 năm 2006; Luật Quốc tịch Việt Nam ngày 13 tháng 11 năm 2008; Luật Thi hành án dân sự ngày 14 tháng 11 năm 2008... mà Nghị định số 76/2006/NĐ-CP hiện hành chưa quy định.

          4. Kế thừa những quy định của Nghị định số 76/2006/NĐ-CP hiện hành còn phù hợp và đang phát huy hiệu quả trong thực tiễn xã hội.

III. QUÁ TRÌNH SOẠN THẢO

1. Thực hiện Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 1207/QĐ-BTP ngày 27 tháng 6 năm 2008 về việc thành lập Ban soạn thảo và Tổ biên tập Dự thảo Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp. Ban soạn thảo, Tổ Biên tập đã khẩn trương tổ chức rà soát lại toàn bộ nội dung các quy định trong các văn bản luật, pháp lệnh, nghị định có liên quan để  xúc tiến việc xây dựng Dự thảo Nghị định mới.

2. Bộ Tư pháp cũng đã gửi Công văn số 265/BTP-PLHSHC ngày 03/02/2009 gửi các đơn vị trực thuộc Bộ, Công văn số 266/BTP-PLHSHC ngày 03/02/2009 gửi UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong toàn quốc đề nghị  tổ chức đánh giá sơ kết bước đầu tình hình thi hành Nghị định số 76/2006/NĐ-CP hiện hành trong hơn hai năm qua, nêu rõ những vướng mắc, bất cập trong quá trình thực hiện Nghị định này, đồng thời đưa ra những đề xuất, khuyến nghị cho việc sửa đổi, bổ sung Nghị định hiện hành và báo cáo về Bộ Tư pháp để phục vụ trực tiếp cho việc sửa đổi, bổ sung Nghị định số 76/2006/NĐ-CP (Báo cáo số 61/BC-BTP ngày 08/4/2009  sơ kết đánh giá tình hình thi hành Nghị định số 76/2006/NĐ-CP ngày 02/8/2006 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Tư pháp) .

3. Ngày 02 tháng 3 năm 2009, Bộ Tư pháp đã có Công văn số 570/BTP-PLHS-HC gửi Dự thảo Nghị định (kèm theo Dự thảo Tờ trình Chính phủ) đề nghị các Bộ, ngành, địa phương tham gia ý kiến. Ý kiến của các Bộ, ngành và địa phương tham gia góp ý Dự thảo Nghị định đã được tổng hợp đầy đủ và Ban soạn thảo, Tổ biên tập đã tổ chức nghiên cứu kỹ, nghiêm túc tiếp thu để chỉnh lý Dự thảo (Báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến các bộ, ngành địa phương).

4. Theo ý kiến chỉ đạo của  đồng chí Trưởng Ban Soạn thảo Nghị định, Bộ Tư pháp đã tổ chức tọa đàm tại địa phương với sự tham gia của các đại biểu là những người trực tiếp liên quan đến việc thực thi Nghị định trong thực tiễn để  trao đổi, thảo luận về thực tế thi hành Nghị định này, những tồn tại, bất cập cần sửa đổi, những quy định còn thiếu trong Nghị định hiện hành cần kịp thời bổ sung. Dự thảo Nghị định cũng được đăng công khai trên mạng website của Bộ Tư pháp để mọi tổ chức, cá nhân quan tâm tham gia ý kiến. Trên cơ sở đó, Dự thảo Nghị định mới tiếp tục được hoàn thiện sau quá trình chỉnh lý nhiều lần để tiến hành thẩm định theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

5. Ngày 03 tháng 4 năm 2009, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 728/BTP-QĐ về việc thành lập Hội đồng thẩm định Dự thảo Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp (sửa đổi). Hội đồng thẩm định đã tiến hành phiên họp thẩm định theo đúng trình tự, thủ tục được quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. (Báo cáo số 66/BTP-BC ngày 16 tháng 4 năm 2009  của Hội đồng thẩm định về việc thẩm định đối với Dự thảo Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp kèm theo).

6. Trên cơ sở ý kiến của Hội đồng thẩm định, Ban soạn thảo và Tổ biên tập Dự thảo Nghị định đã tiếp tục nghiên cứu, chỉnh lý hoàn thiện Dự thảo văn bản và hoàn thành các thủ tục cần thiết để trình Chính phủ xem xét, ban hành (Báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến của Hội đồng thẩm định số 77/BC-BTP ngày 28 tháng 4 năm 2009).

          IV. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CƠ CẤU VÀ MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 60/2008/NĐ-CP

          Về cơ bản, tất cả các quy định thuộc nội dung của Nghị định số 76/2006/NĐ-CP hiện hành được giữ lại bảo đảm phù hợp với Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung mới ban hành và  phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội hiện nay, đang phát huy tốt hiệu lực, hiệu quả trong thực tiễn. Bên cạnh đó, một số quy định cụ thể trong Nghị định đã được xem xét, sửa đổi do những quy định này không còn phù hợp với tinh thần Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung mới ban hành hoặc trong thực tiễn thi hành Nghị định hơn hai năm vừa qua đã phát sinh những khó khăn, bất cập. Nghị định cũng được bổ sung nhiều quy định mới sau khi cập nhật các quy định tại một số luật hiện hành trực tiếp liên quan đến nội dung của Nghị định được ban hành sau khi Nghị định số 76/2006/NĐ-CP có hiệu lực.

Nghị định gồm có 6 chương với 64 điều, trong đó, những nội dung sửa đổi, bổ sung chủ  yếu tập trung vào Chương II, cụ thể như sau: 

           - Phần căn cứ pháp lý ban hành Nghị định đã được bổ sung một số luật để bảo đảm cho việc liệt kê các văn bản làm căn cứ pháp lý được đầy đủ và chính xác hơn như Luật Hôn nhân và gia đình ngày 09 tháng 6 năm 2000; Bộ Luật dân sự ngày 14 tháng 6 năm 2005; Luật Luật sư ngày 29 tháng 6 năm 2006; Luật Trợ giúp pháp lý ngày 29 tháng 6 năm 2006; Luật Công chứng ngày 29 tháng 11 năm 2006; Luật Quốc tịch Việt Nam  ngày 13 tháng 11 năm 2008; Luật thi hành án dân sự ngày 14 tháng 11 năm 2008 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 4 năm 2008.

 Chương I. Những quy định chung

 Gồm 6 điều, quy định về những vấn đề chung của Nghị định như: phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Nghị định; nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; cách tính thời hạn, thời hiệu trong xử lý vi phạm hành chính; các hình thức xử phạt chính, bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả... Nội dung Chương này gần như giữ nguyên, chỉ sửa đổi, bổ sung một số câu để bảo đảm phù hợp với Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung, đó là: bỏ cụm từ “hợp đồng cho thuê tài chính” tại Điều 1 thuộc hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm; bổ sung cụm từ “hợp tác quốc tế về pháp luật) tại khoản 1 Điều 1 để bảo đảm tính chính xác và thống nhất với quy định của Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2008 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp; bổ sung quy định “trong trường hợp cá nhân, tổ chức thực hiện vi phạm hành chính được quy định tại Chương II Nghị định này bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tước quyền sử dụng chứng chỉ, giấy phép hành nghề, giấy đăng ký hoạt động, giấy đăng ký tham gia, giấy phép thành lập, thẻ thì cá nhân, tổ chức đó không được phép hành nghề, giấy đăng ký hoặc thẻ đó” tại khoản 2 Điều 5 Nghị định; dẫn chiếu quy định về nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ tại Điều 3, Điều 6 của Nghị định số 128/2008/NĐ-CP ngày 17 tháng 12 năm 2008; sửa đổi quy định về đối tượng áp dụng tại khoản 2 Điều 2; bổ sung các biện pháp khắc phục hậu quả tại khoản 3 Điều 5 Nghị định.

          Chương II. Hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt trong lĩnh vực tư pháp

          Chương II gồm 38 điều (từ Điều 7 đến Điều 44). Nội dung của Chương này được sửa đổi, bổ sung cụ thể như sau:

1. Mục 1 - Các hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt trong hoạt động thi hành án dân sự

 Theo tinh thần của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, nội dung của Mục này được sửa đổi, bổ sung một số hành vi sau: không thực hiện việc phong toả tài khoản của đối tượng phải thi hành án theo quyết định của Chấp hành viên thi hành án; không thực hiện việc tạm dừng đăng ký, tiêu dùng tài sản đã kê biên; không chấp hành quyết định của Chấp hành viên về việc thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người phải thi hành án, của người phải thi hành án đang giữ hoặc của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ; bổ sung biện pháp khắc phục hậu quả buộc tổ chức, cá nhân vi phạm thực hiện các quy định về phong tỏa tài khoản, buộc giao tiền, giấy tờ có giá, buộc trích tiền để thi hành án, khấu trừ tài khoản đối với các hành vi quy định tại điểm e khoản 2, điểm d, đ và e khoản 3 Điều 7.

       2. Mục 2- Hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt trong hoạt động công chứng, chứng thực:

         Theo tinh thần của Luật Công chứng năm 2006, Bộ luật dân sự năm 2005 và Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/7/2007 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, Nghị định đã tách riêng các hành vi vi phạm về chứng thực tại Điều 8 Nghị định số 76/2006/NĐ-CP hiện hành thành các hành vi vi phạm quy định về chứng thực  bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký (Điều 8), chứng thực hợp đồng, giao dịch (Điều 9).

3. Mục 3- Hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt trong hoạt động quản lý hộ tịch, quốc tịch và lý lịch tư pháp

 Bổ sung một số  hành vi vi phạm quy định về đăng ký kết hôn và các hình thức xử phạt tương ứng tại Điều 11 như hành vi làm giả hoặc sử dụng giấy tờ giả mạo để làm thủ tục đăng ký kết hôn, lợi dụng việc đăng ký kết hôn nhằm mục đích trục lợi, mua bán, xâm phạm tình dục, bóc lột sức lao động đối với phụ nữ; bổ sung các hành vi vi phạm quy định tổ chức và hoạt động của Trung tâm hỗ trợ kết hôn tại Điều 12; bổ sung hành vi làm giả hoặc sử dụng giấy tờ giả mạo hoặc thực hiện các hành vi gian dối khác để làm thủ tục đăng ký khai tử, cố ý làm chứng sai sự thật việc chết của người khác vi phạm quy định về đăng ký khai tử tại Điều 13; sửa đổi, bổ sung hành vi quy định tại Điều 15 về quản lý quốc tịch; sửa đổi, bổ sung hành vi vi phạm các quy định về cấp và sử dụng phiếu lý lịch tư pháp, dữ liệu và cơ sở dữ liệu điện tử về lý lịch tư pháp tại Điều 16.

4. Mục 4. Hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt trong hoạt động công chứng

Trên cơ sở quy định của Luật Công chứng năm 2006, Nghị định này đã quy định tách hành vi vi phạm về công chứng thành một nội dung riêng gồm hai điều quy định về các hành vi quy định về chứng thực đối với hợp đồng, giao dịch (Điều 8) và một điều về các hành vi vi phạm quy định về công chứng đối với hợp đồng, giao dịch (Điều 17) đề phân định rõ việc xử phạt giữa các hành vi vi phạm quy định hoạt động công chứng với hoạt động chứng thực; bổ sung hành vi vi phạm về thủ tục công chứng hợp đồng thế chấp bất động sản, di chúc, văn bản thỏa thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận di sản, văn bản từ chối nhận di sản và nhận lưu giữ di chúc (Điều 18); hành vi vi phạm quy định về hồ sơ, thủ tục đề nghị bổ nhiệm công chứng viên (Điều 19); bổ sung hành vi vi phạm nghĩa vụ của công chứng viên (Điều 20); bổ sung hành vi vi phạm của tổ chức hành nghề công chứng (Điều 21).

 5. Mục 5. Hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt trong hoạt động giám định tư pháp

Sửa đổi, bổ sung hành vi vi phạm của người giám định tư pháp như: tự ý sửa chữa hoặc tẩy xóa hoặc làm sai lệch kết quả giám định; tự ý sửa chữa hoặc tẩy xóa làm sai lệch nội dung của giấy tờ bổ nhiệm giám định viên; sử dụng thẻ giám định viên tư pháp của người khác hoặc cho người khác sử dụng thẻ giám định viên tư pháp của mình để hành nghề giám định; từ chối kết luận giám định mà không có lý do chính đáng; cố ý đưa ra kết luận giám định sai sự thật; làm giả hoặc sử dụng giấy tờ giả mạo để bổ nhiệm giám định viên; hành vi từ chối kết luận giám định mà không có lý do chính đáng cũng được quy định tại Điều 22 Dự thảo để có căn cứ áp dụng xử phạt đối với các vi phạm này trong thực tiễn. 

6. Mục 6 - Hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt trong hoạt động hành nghề luật sư và tư vấn pháp luật

 Theo tinh thần của Luật Luật sư năm 2006, Nghị định bổ sung một số hành vi và hình thức xử phạt tại các điều từ Điều 23 đến Điều 25; cụ thể: bổ sung điều quy định về hành vi vi phạm quy định về hồ sơ cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư, Giấy đăng ký hành nghề với tư cách cá nhân, Giấy phép hành nghề tại Việt Nam của Luật sư nước ngoài (Điều 23); sửa đổi, bổ sung một số hành vi vi phạm quy định trong hoạt động hành nghề của luật sư (Điều 24); sửa đổi, bổ sung một số hành vi vi phạm quy định về tổ chức hoạt ��ộng của tổ chức hành nghề luật sư (Điều 25); bổ sung hành vi vi phạm quy định về quản lý nhà nước của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư (Điều 26); sửa đổi, bổ sung một số hành vi vi phạm quy định về tổ chức, hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật, Chi nhánh Trung tâm tư vấn pháp luật (Điều 27); sửa đổi, bổ sung một số hành vi vi phạm quy định trong hoạt động tư vấn pháp luật của người thực hiện tư vấn pháp luật để tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý đối với các hành vi vi phạm các quy định của Luật Luật sư trong thực tiễn (Điều 28).

7. Mục 7 - Hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt trong hoạt động bán đấu giá tài sản

 Sửa đổi, bổ sung một số điều (từ Điều 29 đến Điều 32) của Nghị định, cụ thể là: nâng mức phạt và bổ sung một số hành vi vi phạm quy định về trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản; nâng mức phạt và bổ sung một số hành vi vi phạm của người tham gia bán đấu giá tài sản; bổ sung một số hành vi vi phạm quy định về sử dụng Thẻ đấu giá viên; bổ sung hành vi không thông báo cho cơ quan có thẩm quyền nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính về việc đăng ký kinh doanh dịch vụ bán đấu giá tài sản, trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản, doanh nghiệp bán đấu giá tài sản không có đấu giá viên mà vẫn tiến hành cuộc bán đấu giá tài sản; thu các chi phí không đúng quy định của pháp luật...

8. Mục 8 - Hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt trong hoạt động trọng tài thương mại

Nghị định quy định nâng mức phạt và bổ sung một số hành vi vi phạm quy định về tổ chức, hoạt động trọng tài của Trung tâm trọng tài và trọng tài viên quy định tại Điều 33 Nghị định.

         9. Mục 9 - Hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

          Nghị định quy định tách hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật thành một mục riêng, tuy nhiên  vẫn tiếp tục giữ nguyên quy định về hành vi vi phạm quy định về nghĩa vụ của báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật tại Điều 34.

10. Mục 10-  Hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Nghị định bổ sung một số hành vi vi phạm của người được trợ giúp pháp lý; vi phạm quy định về nghĩa vụ của người thực hiện trợ giúp pháp lý, tổ chức thực hiện hoạt động trợ giúp pháp lý và các cơ quan, tổ chức cá nhân khác có liên quan tại các điều của Mục này (từ Điều 37 đến Điều 39).

11. Mục 11- Hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt trong hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm

Mục này gồm 2 điều (Điều 38 và Điều 39) Nghị định bổ sung hành vi giả mạo chữ ký của người có quyền yêu cầu đăng ký trong đơn yêu cầu đăng ký hoặc trong văn bản thông báo; bỏ các hành vi vi phạm quy định về khai thác thông tin trong Sổ đăng ký giao dịch tại Điều 39 Nghị định.

12. Mục 12- Hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt trong hoạt động cho, nhận, nuôi con nuôi

 Bổ sung  một số hành vi vi phạm về nuôi con nuôi của văn phòng con nuôi nước ngoài tại Điều 41 của Dự thảo như không thực hiện chế độ báo cáo theo quy định, tự ý sửa chữa hoặc tẩy xóa làm sai lệch nội dung trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động, không thông báo bằng văn bản cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong thời hạn quy định về việc chấm dứt hoạt động, thay đổi trụ sở, người đứng đầu của văn phòng nuôi con nuôi nước ngoài tại Việt Nam mà chưa được phép của cơ quan có thẩm quyền, làm giả hoặc sử dụng các giấy tờ giả mạo trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động, làm giả giấy phép hoạt động hoặc sử dụng giấy phép hoạt động giả, trực tiếp giới thiệu trẻ em làm con nuôi trái pháp luật và cho cá nhân, tổ chức khác sử dụng giấy phép hoạt động của mình.

13. Mục 13- Hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt trong hoạt động hợp tác quốc tế về pháp luật

Đây là nội dung mới được bổ sung trên cơ sở các quy định của Nghị định số 78/2008/NĐ-CP ngày 17/7/2008 về quản lý hợp tác với nước ngoài về pháp luật, bao gồm các hành vi vi phạm hành chính liên quan đến hoạt động quản lý nhà nước về hợp tác quốc tế, về pháp luật đối với cơ quan chủ quản tiến hành các hoạt động hợp tác với nước ngoài về pháp luật là cơ quan Trung ương của các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp và các đơn vị trực thuộc của cơ quan này. Các hành vi vi phạm điển hình là tự ý triển khai thực hiện hoặc cho phép thực hiện chương trình, kế hoạch, dự án không trên cơ sở văn bản ký kết có hiệu lực theo quy định của pháp luật Việt Nam; đơn vị trực thuộc cơ quan chủ quản tiến hành các hoạt động hợp tác với nước ngoài về pháp luật không thông qua cơ quan chủ quản của mình (khoản 3 Điều 42). Ngoài ra, còn bổ sung một số hành vi như không báo cáo tình hình thực hiện hoạt động hợp tác quốc tế về pháp luật và dự kiến thực hiện chương trình, dự án hợp tác cho thời kỳ tiếp theo quy định của pháp luật; không tuân thủ quy định về thẩm định, phê duyệt đối với các chương trình, dự án hợp tác thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ hoặc chương trình, dự án hợp tác có sửa đổi, bổ sung điều chỉnh dẫn đến thay đổi mục tiêu của chương trình, dự án hợp tác đó (khoản 1, 2 Điều 42).

14. Mục 14- Hành vi vi phạm hành chính khác và hình thức xử phạt

Nghị định quy định hai điều quy định viện dẫn việc xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính về kế toán, thống kê, phí và lệ phí trong lĩnh vực tư pháp sẽ được áp dụng theo quy định của các nghị định của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực này và quy định xử phạt đối với hành vi đưa hối lộ, gây rối hoặc cản trở người thi hành công vụ trong lĩnh vực tư pháp nói chung.

 Chương III. Thẩm quyền xử phạt

           Nội dung Chương này có sự sửa đổi về nâng thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, cấp huyện và thanh tra viên chuyên ngành tư pháp; bổ sung thẩm quyền xử phạt của của người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài để bảo đảm phù hợp với tinh thần Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung. Ngoài ra một số quy phạm viện dẫn văn bản cũng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.

 Chương IV, Chương V, Chương VI

 Nội dung các chương này chủ yếu được giữ như hiện hành, chỉ chủ yếu sửa đổi, bổ sung một số câu chữ, thuật ngữ pháp lý để bảo đảm phù hợp với quy định của Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung, các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành. Đáng chú ý là tại khoản 1 Điều 64 của Chương VI-Điều khoản thi hành có bổ sung quy định “Bộ trưởng Bộ Tư pháp có trách nhiệm tổ chức thi hành Nghị định này, tổ chức việc thống kê về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính” nhằm nâng hiệu lực quản lý nhà nước đối với công tác xử lý vi phạm hành chính, kịp thời có những biện pháp thích hợp để tăng cường hiệu quả của xử phạt vi phạm hành chính./.   

 

 

 

 

Phần thứ 2

IV. GIỚI THIỆU CỤ THỂ VỀ TỪNG NỘI DUNG CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 60/2009/NĐ-CP

1. Về Chương I – Quy định chung

Như các nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, Nghị định số 60/2009/NĐ-CP ngày 25/7/2009 của Chính phủ qui định xử phạt vi phạm trong hành chính trong lĩnh vực tư pháp ( sau đây gọi tắt là Nghị định số 60/2009/NĐ-CP) cũng dành Chương I để qui định những vấn đề chung về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp.Trước tiên đó là phạm vi điều chỉnh của Nghị định được qui định tại Điều 1, theo đó lĩnh vực tư pháp được hiểu là lĩnh vực thi hành án dân sự, công chứng, chứng thực, hộ tịch, quốc tịch, lý lịch tư pháp, giám định tư pháp, đăng kí giao dịch bảo đảm...Đó là các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, được qui định trong nghị định của Chính phủ như Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22-8-2008 qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp. Như vậy khái niệm tư pháp không được hiểu theo nghĩa là hoạt động xét xử của Tòa án như sách báo pháp lý thường đề cập. Ngoài những qui định về đối tượng áp dụng (Điều 2), thời hiệu xử phạt ( Điều 4), hình thức xử phạt (Điều 5), thời hạn được coi là chưa bị xử phạt (Điều 6), Điều 3 Nghị định qui định nguyên tắc cơ bản, quan trọng của việc xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước nói chung, lĩnh vực tư pháp nói riêng. Đó là các nguyên tắc:

+ Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện kịp thời và phải bị đình chỉ ngay.

+ Cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật qui định. Theo qui định tại khoản 11 Điều 3 Nghị định số 128/2008/NĐCP ngày 16- 12- 2008 qui định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2008 (sau đây gọi tắt là Nghị định số 128/2008/NĐ-CP) thì khái niệm pháp luật được hiểu là các văn bản luật của Quốc hội, pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ có qui định về xử phạt vi phạm hành chính. Các văn bản do Thủ tướng chính phủ, Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ban hành để chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện xử lý vi phạm hành chính không được qui định hành vi vi phạm hành chính, hình thức, mức phạt. Trong trường hợp văn bản của cấp Bộ, hoặc văn bản của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân có qui định về xử phạt vi phạm hành chính thì sẽ bị xử lý như đình chỉ thi hành vì văn bản được ban hành trái thẩm quyền.

+ Một hành vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần. Nguyên tắc này được hiểu là: một hành vi vi phạm đã được người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định xử phạt hoặc đã lập biên bản để xử phạt thì người có thẩm quyền không được lập biên bản, ban hành quyết định xử phạt lần thứ hai đối với hành vi đó. Trong trường hợp hành vi vi phạm vẫn tiếp tục được thực hiện mặc dù đã bị người có thẩm quyền xử phạt ra lệnh đình chỉ thì hành vi đó bị áp dụng tình tiết tăng nặng được qui định tại khoản 8 Điều 9 Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính hiện hành. Nếu hành vi vi phạm hành chính đã được người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định xử phạt thì không đồng thời áp dụng biện pháp xử lý hành chính khác đối với hành vi đó. Trong trường hợp hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm bị chuyển hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự mà trước đó đã có quyết định xử phạt vi phạm hành chính thì người đã ban hành quyết định xử phạt phải hủy bỏ quyết định xử phạt; nếu chưa ra quyết định xử phạt thì không xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi đó.

+ Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt về hành vi đó và người có thẩm quyền xử phạt căn cứ vào tính chất, mức độ, nhân thân người vi phạm, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để ra quyết định xử phạt đối với từng người cùng thực hiện hành vi vi phạm hành chính; ví dụ: khoản 2 Điều 10 Nghị định số 60/ 2009/ NĐ-CP qui định phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi cố tình làm chứng sai sự thật trong đăng ký khai sinh. Trong trường hợp này, nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm thì mỗi người đều phải chịu mức phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng chứ không phải tất cả người vi phạm phải chịu mức tiền phạt từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng; mức phạt cụ thể đối với mỗi người, do người có thẩm quyền xử phạt quyết định căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và còn căn cứ vào vai trò của người đó trong vụ vi phạm, như người tổ chức bị mức tiền phạt cao hơn là người thực hiện.....

+ Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm; ví dụ: người điều khiển xe máy đi vào đường ngược chiều và không đội mũ bảo hiểm. Trong trường hợp này, người đó có hai hành vi vi phạm.Theo qui định tại khoản 2 Điều 56 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ( sau đây gọi tắt là Pháp lệnh ), khi quyết định xử phạt một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính (tại cùng một thời điểm ), người có thẩm quyền xử phạt chỉ ra một quyết định xử phạt, trong đó quyết định hình thức, mức phạt đối với từng hành vi vi phạm; nếu các hình thức phạt là phạt tiền thì cộng lại thành mức phạt chung.

Ngoài một số nguyên tắc xử phạt, các trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính cũng là vấn đề cần được quan tâm khi xem xét, quyết định xử phạt.Theo qui định tại khoản 6 Điều 3 Pháp lệnh và Điều 4 Nghị định số 128/ 2008/ NĐ-CP, các trường hợp đó là:

+ Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.

+ Phòng vệ chính đáng là hành vi của một người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích trên.

+ Người thực hiện hành vi do sự kiện bất ngờ, tức là trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó.

+ Người thực hiện vi phạm hành chính trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.

Đối với trường hợp lợi dụng người bệnh mắc tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi để thực hiện hành vi vi phạm hành chính thì tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính phải bị tịch thu, mọi hậu quả do lợi dụng đối tượng này để vi phạm đều phải được khắc phục theo quy định của pháp luật.

2. Về Mục 1- Chương II- Hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt trong hoạt động thi hành án dân sự

Hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt trong hoạt động thi hành án dân sự được qui định tại mục 1 Chương II Nghị định định số 60/2009/NĐ-CP. Các hành vi vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự được qui định tại Điều 162 Luật thi hành án dân sự ngày 14-11-2008 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01-7-2009). Khoản 2 Điều 163 Luật thi hành án dân sự qui định: Mức xử phạt vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự theo qui định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, do đó việc ban hành nghị định qui định hành vi, hình thức xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp nói chung, lĩnh vực thi hành án dân sự nói riêng là rất cần thiết. Trên cơ sở Điều 162 và Điều 163 Luật thi hành án dân sự, Nghị định số 60/2009/NĐ-CP qui định hình thức xử phạt đối với từng vi phạm trong lĩnh vực thi hành án dân sự. Căn cứ tính chất, mức độ của vi phạm, Điều 7 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP đã qui định ba mức phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự, cụ thể như sau:

+ Mức nhẹ nhất là phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng đối với hành vi đã nhận giấy báo, giấy triệu tập lần thứ hai của người có thẩm quyền thi hành án (cụ thể là của chấp hành viên, của thừa pháp lại) nhưng không đến địa điểm ghi trong giấy báo, giấy triệu tập để thực hiện việc thi hành án mà không có lí do không chính đáng. Luật thi hành án dân sự không qui định cụ thể các trường hợp được coi là có lý do chính đáng để không bị xử phạt trong trường hợp người được triệu tập lần thứ hai mà không đến địa điểm ghi trong giấy báo, giấy triệu tập.Tuy nhiên, theo qui định của một số văn bản pháp luật như pháp luật về khiếu nại, tố cáo thì một số trường hợp được coi là có lý do chính đáng như bị ốm đau, đi công tác xa, các trường hợp do thiên tai, địch họa gây ra (lũ lụt, bão...). Trong một số trường hợp này, đương sự phải xuất trình giấy tờ, các bằng chứng khác để chứng minh lý do chính đáng của mình để không bị xử phạt.

+ Mức phạt thứ hai là từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây của người phải thi hành án: cố tình không thực hiện quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời của tòa án hoặc bản án, quyết định phải thi hành ngay; không thực hiện công việc buộc phải làm hoặc không chấm dứt thực hiện công việc không được làm được nêu trong bản án, quyết định của tòa án theo quyết định thi hành án; có điều kiện thi hành án nhưng cố tình trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ thi hành án; không thực hiện yêu cầu của người có thẩm quyền thi hành án về việc cung cấp thông tin, giao các giấy tờ liên quan đến tài sản bị xử lý để thi hành án mà không có lý do chính đáng; không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận theo quyết định công nhận sự thỏa thuận của tòa án.

+ Mức phạt thứ ba là từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi: tẩu tán hoặc làm hư hỏng tài sản thuộc diện kê biên để không thực hiện nghĩa vụ thi hành án hoặc để trốn tránh việc kê biên tài sản để thi hành án; không thực hiện việc tạm dừng đăng ký, sử dụng trái phép, tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc thay đổi tình trạng tài sản đã kê biên; phá hủy niêm phong hoặc hủy hoại tài sản đã kê biên; không chấp hành quyết định của người có thẩm quyền thi hành án về việc khấu trừ tài khoản, trừ vào thu nhập, thu hồi giấy tờ có giá của người thi hành án; không chấp hành quyết định của người có thẩm quyền thi hành về việc thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người phải thi hành án đang giữ hoặc của người phải thi hành án do người thứ ba giữ; không thực hiện việc phong tỏa tài khoản của người phải thi hành án theo quyết định của người có thẩm quyền thi hành án.

Ngoài việc bị phạt tiền, các hành vi vi phạm vừa nêu còn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả, cụ thể: đối với hành vi tẩu tán hoặc làm hư hỏng tài sản thuộc diện kê biên để không thực hiện nghĩa vụ thi hành án hoặc để trốn tránh việc kê biên tài sản để thi hành án; không thực hiện việc tạm dừng đăng ký, sử dụng trái phép; tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu, thay đổi tình trạng tài sản đã kê biên bị áp dụng biện pháp buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu ( như hành vi tẩu tán tài sản thì buộc phải trả tài sản lại nguyên trạng trước khi tài đó bị kê biên...); còn hành vi vi phạm: không chấp hành quyết định của người có thẩm quyền thi hành án về việc khấu trừ vào tài khoản, trừ vào thu nhập, thu hồi giấy tờ của người phải thi hành án, về việc thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người phải thi hành và hành vi không thực hiện quyết định phong tỏa tài khoản của người phải thi hành án theo quyết định của người có thẩm quyền thi hành án thì bị buộc thực hiện phong tỏa tài khoản, buộc giao tiền, giấy tờ có giá trị, buộc trích tiền từ tài khoản, khấu trừ tài khoản. Ngoài việc bị phạt tiền, Nghị định còn buộc đối tượng vi phạm phải thực hiện một số biện pháp khắc phục hậu quả vừa nêu như buộc phải khấu trừ tiền, buộc thu hồi giấy tờ có giá...Vấn đề là ở chỗ: người thi hành công vụ làm thế nào để buộc họ phải khấu trừ tiền, buộc phải phong tỏa tài khoản? Theo chúng tôi, trong các trường hợp này, người thi hành công vụ phải ban hành quyết định buộc người có trách nhiệm phải khấu trừ tiền từ tải khoản, buộc phong tỏa tài khoản... Trong trường hợp họ không thi hành thì đề nghị cấp trên của người đó buộc họ phải thi hành quyết định khấu trừ tiền, thu hồi giấy tờ có giá trị, buộc phong tỏa tài khoản... Để thực hiện nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính phải triệt để (khoản 12 Điều 3 Pháp lệnh), ngoài việc bị phạt tiền, Nghị định số 60/2009/NĐ-CP còn qui định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với các hành vi vi phạm. Mặc dù vậy, có một số hành vi vi phạm trong thi hành án dân sự như hành vi phá hủy niêm phong (điểm c khoản 3 Điều 7) thì ngoài việc bị phạt tiền, không thể áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc khôi phục niêm phong vì đối tượng vi phạm không có khả năng tự mình khôi phục lại niêm phong. Trong trường hợp này, người có thẩm quyền phải niêm phong lại.

Như vậy, so với Nghị định số 76/2006/NĐ-CP ngày 02-8-2006 qui định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp thì các hành vi vi phạm trong lĩnh vực thi hành án dân sự được qui định trong Nghị định số 60/2009/NĐ-CP, về cơ bản, vẫn được giữ nguyên, chỉ bỏ hành vi cố tình không nhận giấy báo, giấy triệu tập của cơ quan thi hành án, quyết định của tòa án (được qui định trong Nghị định số 76/2006/NĐ-CP vừa nêu). Tuy nhiên mức tiền xử phạt đối với một số hành vi đã được nâng lên rất nhiều như hành vi tẩu tán hoặc làm hư hỏng tài sản thuộc diện kê biên, phá hủy niêm phong... đã được nâng khung tiền phạt từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng lên khung tiền phạt từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Việc nâng mức tiền phạt là cần thiết để đảm bảo tính răn đe của pháp luật, qua đó góp phần nâng cao tính hiệu quả, hiệu lực của việc thực thi Luật thi hành án dân sự ngày 14-11-2008.

3. Về Mục 2-Chương II-Hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt trong hoạt động chứng thực

3.1. Cơ sở pháp lý để quy định về hành vi (vi phạm hành chính) VPHC tại Mục này là Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 về công chứng, chứng thực và Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký.

3.2.Nội dung cụ thể của Mục này nhằm thực hiện xu hướng tách biệt hoạt động quản lý nhà nước trong hoạt động công chứng và chứng thực nên các quy định pháp luật về công chứng và chứng thực đã được quy định riêng tại các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau và theo đó, các hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động chứng thực được xây dựng trên cơ sở quy định của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và tiếp tục cụ thể hóa một số quy định về chứng thực hợp đồng, giao dịch tại Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 về công chứng, chứng thực. Trong khi đó, quy định pháp luật về công chứng được thực hiện theo Luật Công chứng năm 2006 và Nghị định số 02/2008/NĐ-CP ngày 04/01/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng.

Cũng từ sự tách biệt về cơ sở pháp lý như nêu trên, phần hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt trong hoạt động công chứng và chứng thực của Nghị định số 60/2008/NĐ-CP đã được bố cục lại so với Nghị định số 76/2006/NĐ-CP mà theo đó, các hành vi vi phạm hành chính về chứng thực đã được tách biệt tại Mục 2 và nhóm các hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt trong hoạt động công chứng tại Mục 4.

Các hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt trong hoạt động chứng thực được quy định tại Mục 2 Chương II Nghị định số 60/2009/NĐ-CP bao gồm Điều 8 và Điều 9 và cụ thể với một số nội dung mới được sửa đổi, bổ sung như sau:

a) Bổ sung hành vi vi phạm mới gồm:

- Hành vi tự ý sửa chữa, tẩy xoá hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung của bản sao có chứng thực (khoản 1 Điều 8).

- Làm giả giấy tờ để làm thủ tục yêu cầu chứng thực (điểm a khoản 2 Điều 8); Làm giả giấy tờ để được chứng thực hợp đồng, giao dịch (khoản 2 Điều 9).

- Sử dụng giấy tờ giả là bản sao có chứng thực (điểm b khoản 2 Điều 8).

b) Phân loại, đánh giá hành vi vi phạm:

Quy định mới đã có sự đánh giá, xác định và phân loại hành vi vi phạm phù hợp hơn để áp dụng hình thức xử phạt và mức phạt tiền tương ứng thể hiện qua việc tách nhóm các hành vi vi phạm liên quan đến tẩy xóa, sửa chữa hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung các giấy tờ (khoản 1 Điều 8) để xử phạt cảnh cáo hoặc áp dụng mức phạt tiền thấp hơn nhóm các hành vi làm giả, sử dụng giấy tờ giả mạo (khoản 2 Điều 8).

c) Lược bỏ một số hành vi vi phạm đã được quy định tại Nghị định số 76/2006/NĐ-CP:

Hành vi vi phạm về môi giới chứng thực đã được lược bỏ trên cơ sở các quy định pháp luật mới về xã hội hóa hoạt động công chứng nên một khối lượng lớn các hoạt động dịch vụ liên quan đến mảng công chứng, chứng thực đã được các văn phòng công chứng tư thực hiện nên về cơ bản giải quyết được tình trạng quá tải của các phòng công chứng nhà nước như thời gian trước. Bên cạnh đó, hành vi này cũng không còn những quy định pháp luật nội dung cấm thực hiện nên việc xác định cụ thể hành vi vi phạm thực hiện trên thực tế như thế nào cũng không rõ ràng và phù hợp hoạt động chứng thực trong thực tiễn nên không bảo đảm tính khả thi.

d) Lưu ý:

Về cơ bản mức xử phạt tiền đối với các hành vi vi phạm quy định về chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký không có sự thay đổi và vẫn giữ ở mức như quy định tại Nghị định số 76/2006/NĐ-CP.

Bên cạnh đó, mặc dù đã có bổ sung thêm một số hành vi vi phạm mới nhưng do không làm thay đổi nội dung của hành vi vi phạm cũng như đối tượng tác động nên các hình thức xử phạt bổ sung cũng được giữ nguyên.

4. Về Mục 3- Chương II-Hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt trong hoạt động quản lý hộ tịch, quốc tịch và lý lịch tư pháp:

Hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt trong hoạt động quản lý hộ tịch, quốc tịch và lý lịch tư pháp được quy định tại Mục III Nghị định số 60/2009/NĐ-CP. Về cơ bản, nội dung của Mục 3 của Nghị định số 60/2009/NĐ-CP là sự kế thừa lại phần lớn các quy định của Nghị định số 76/2006/NĐ-CP vẫn còn phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội hiện nay, đang phát huy tốt hiệu lực, hiệu quả trong thực tiễn. Bên cạnh đó, Nghị định cũng được bổ sung nhiều quy định mới cho phù hợp với  Luật Quốc tịch, Luật Lý lịch tư pháp được ban hành sau khi Nghị định số 76/2006/NĐ-CP có hiệu lực thi hành.

Mục 3 của Nghị định số 60/2009/NĐ-CP gồm 7 điều (từ Điều 10 đến Điều 16) quy định hành vi vi phạm và hình thức xử phạt liên quan đến hoạt động đăng ký khai sinh (Điều 10); đăng ký kết hôn (Điều 11); tổ chức và hoạt động của Trung tâm hỗ trợ kết hôn (Điều 12); hoạt động đăng ký khai tử (Điều 13); đăng ký giám hộ; đăng ký việc nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính hộ tịch; xác định lại dân tộc; xác định lại giới tính; bổ sung hộ tịch; điều chỉnh hộ tịch; cấp giấy xác định tình trạng hôn nhân (Điều 14); quản lý quốc tịch (Điều 15) và hoạt động cấp và sử dụng phiếu lý lịch tư pháp, dữ liệu và cơ sở dữ liệu điện tử về lý lịch tư pháp (Điều 16).

a) Về các hành vi vi phạm và hình thức xử phạt liên quan đến hoạt động đăng ký khai sinh (Điều 10):

Căn cứ vào tính chất và mức độ vi phạm, các hành vi vi phạm quy định về đăng ký khai sinh được áp dụng theo ba mức phạt, cụ thể như sau: 

- Khoản 1 Điều 10 quy định phạt tiền từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng đối với người có trách nhiệm phải đi đăng ký khai sinh cho trẻ em không thực hiện việc đăng ký trong thời hạn do pháp luật quy định. Việc đăng ký khai sinh cho trẻ chậm, không đúng thời hạn là hành vi vi phạm xảy ra tương đối phổ biến trong thực tiễn, đặc biệt tại khu vực miền núi, biên giới, hải đảo. Điều này không những vi phạm quyền được khai sinh của trẻ được quy định tại Bộ Luật Dân sự, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em mà còn gây khó khăn không nhỏ đối với công tác quản lý nhà nước về hộ tịch. Chính vì vậy, Nghị định số 60/2009/NĐ-CP tiếp tục giữ lại quy định xử phạt đối với hành vi vi phạm này và áp mức phạt nhẹ nhất của Nghị định nhằm đảm bảo việc thực thi của quyết định xử phạt, nhất là đối với những người dân sống tại các địa bàn có điều kiện kinh tế khó khăn.

- Khoản 2 Điều 10 quy định phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với các hành vi vi phạm quy định về người làm chứng, hồ sơ đăng ký khai sinh tại Điều 15 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch. Bên cạnh việc áp dụng phạt tiền, các hành vi vi phạm vừa nêu còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả. Cụ thể, đối với các hành vi tự ý sửa chữa, tẩy xóa hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung giấy tờ để làm thủ tục đăng ký khai sinh còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung  tịch thu giấy tờ đã bị sửa chữa, tẩy xóa, bị làm sai lệch nội dung; Đối với hành vi cố tình làm chứng sai sự thật trong đăng ký khai sinh; người đi khai sinh cam đoan không đúng sự thật, người có thẩm quyền xử phạt sẽ đề nghị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ Giấy khai sinh đã cấp và buộc đăng ký khai sinh theo đúng quy định của pháp luật.

- Khoản 3 Điều 10 quy định phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính về thủ tục đăng ký khai sinh: hành vi làm giả hoặc sử dụng giấy tờ giả mạo để làm thủ tục đăng ký khai sinh; thực hiện hành vi gian dối khác để được đăng ký khai sinh nhằm mục đích trục lợi; làm giả hoặc mượn giấy khai sinh của người khác để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

Ngoài việc bị phạt tiền, các hành vi vi phạm nêu trên còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả kèm theo. Đối với hành vi làm giả hoặc sử dụng giấy tờ giả mạo để làm thủ tục đăng ký khai sinh; thực hiện hành vi gian dối khác để được đăng ký khai sinh nhằm mục đích trục lợi sẽ bị tịch thu giấy tờ đã bị sửa chữa, tẩy xóa, bị làm sai lệch nội dung hoặc giấy tờ giả mạo, đồng thời, người có thẩm quyền xử phạt đề nghị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ Giấy khai sinh đã cấp và buộc đăng ký khai sinh theo đúng quy định.

b) Về các hành vi vi phạm và hình thức xử phạt liên quan đến hoạt động đăng ký kết hôn (Điều 11):

          Trên cơ sở kế thừa các quy định của Điều 13 Nghị định số 76/2006/NĐ-CP, Điều 11 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP tiếp tục quy định phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi  tự ý sửa chữa, tẩy xóa hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung giấy tờ để làm thủ tục đăng ký kết hôn (khoản 1 Điều 11); phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với các hành vi sử dụng giấy tờ của người khác để làm thủ tục đăng ký kết hôn; làm giả hoặc sử dụng giấy tờ giả mạo để làm thủ tục đăng ký kết hôn và các hành vi gian dối khác khi đăng ký kết hôn (khoản 2 Điều 11). Bên cạnh đó, Nghị định cũng bổ sung thêm một số quy định sau:

- Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi cam đoan không đúng về tình trạng hôn nhân để làm thủ tục đăng ký kết hôn hoặc để được cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân sử dụng vào mục đích khác (khoản 3 Điều 11); Việc bổ sung quy định này tại Nghị định số 60/2009/NĐ-CP là xuất phát thực tiễn trong thời gian qua, nhiều người lợi dụng sự quản lý lỏng lẻo của cơ quan quản lý nhà nước về hộ tịch đối với hoạt động đăng ký kết hôn để xin giấy xác nhận tình trạng hôn nhân không đúng, cam đoan không đúng về tình trạng hôn nhân để kết hôn với nhiều người hoặc để sử dụng vào các mục đích khác, gây ra nhiều hậu quả tiêu cực đặc biệt đối với phụ nữ và trẻ em.

          - Phạt tiền từ từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với các hành vi môi giới kết hôn bất hợp pháp; lợi dụng việc đăng ký kết hôn nhằm mục đích trục lợi, xâm phạm tình dục, bóc lột sức lao động. Việc bổ sung quy định này nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các cơ quản lý nhà nước trong lĩnh vực này vì thực tiễn vừa qua đã xảy ra nhiều vụ việc liên quan đến môi giới kết hôn bất hợp pháp đặc biệt với người nước ngoài nhằm mục đích trục lợi, kết hôn giả tạo, không dựa trên cơ sở tự nguyện của cả hai bên nhưng lại chưa có chế tài xử lý khiến các cơ quan quản lý nhà nước về hộ tịch lúng túng, trong việc xử lý đối với các hành vi này.

c) Về các hành vi vi phạm quy định tổ chức và hoạt động của Trung tâm hỗ trợ kết hôn (Điều 12):

Các quy định về hành vi vi phạm và hình thức xử phạt về tổ chức và hoạt động của Trung tâm hỗ trợ kết hôn tại Điều 12 của Nghị định số 60/2009/NĐ-CP là quy định mới so với Nghị định số 76/2006/NĐ-CP. Cơ sở pháp lý của Điều 12 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP là các quy định về tổ chức và hoạt động của Trung tâm hỗ trợ kết hôn tại Mục 3 của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài (từ Điều 21 đến Điều 27). Việc bổ sung quy định này tại Nghị định số 76/2006/NĐ-CP nhằm đảm bảo hoạt động của các Trung tâm hỗ trợ kết hôn theo đúng nguyên tắc nhân đạo, phi lợi nhuận, không lợi dụng hoạt động hỗ trợ kết hôn để kinh doanh dịch vụ môi giới kết hôn hoặc lợi dụng việc hỗ trợ kết hôn nhằm mua bán phụ nữ, xâm phạm tình dục đối với phụ nữ hoặc vì mục đích trục lợi khác. Tuỳ theo tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm, Nghị định quy định ba mức phạt đối với các hành vi vi phạm quy định tổ chức và hoạt động của Trung tâm hỗ trợ kết hôn, cụ thể như sau: 

          - Mức nhẹ nhất là phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm liên quan đến chế độ báo cáo, quản lý, sử dụng các loại sổ sách, biểu mẫu; công bố công khai và thu thù lao thực hiện các hoạt động hỗ trợ kết hôn và các hành vi tự ý sửa chữa, tẩy xóa hoặc làm sai lệch nội dung giấy đăng ký hoạt động hoặc giấy tờ trong hồ sơ đề nghị cấp Giấy đăng ký hoạt động (khoản 1 Điều 12);

- Mức thứ hai là phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với các hành vi vi phạm các quy định về thủ tục đăng ký hoạt động, sử dụng Giấy đăng ký hoạt động; thủ tục đăng ký thay đổi nội dung hoạt động của Trung tâm hỗ trợ kết hôn và hành vi ép buộc người được hỗ trợ kết hôn đưa thêm tiền hoặc lợi ích vật chất khác ngoài khoản thù lao theo quy định (Khoản 2 Điều 12);

- Mức thứ ba là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với các hành vi thực hiện các hoạt động hỗ trợ kết hôn khi Giấy đăng ký hoạt động đã hết hạn hoặc chưa được cấp Giấy đăng ký hoạt động mà đã hoạt động; thực hiện hoạt đ��ng hỗ trợ kết hôn nhằm mục đích xâm phạm tình dục, bóc lột sức lao động hoặc nhằm mục đích trục lợi khác; không đủ điều kiện hoạt động hỗ trợ kết hôn theo quy định (Khoản 3 Điều 12).

Ngoài việc áp dụng phạt tiền, khoản 4 Điều 12 quy định cụ thể các hình thức xử phạt bổ sung tước quyền sử dụng Giấy đăng ký hoạt động từ 01 tháng đến 03 tháng hoặc không thời hạn; tịch thu giấy tờ đã bị sửa chữa, tẩy xóa, bị làm sai lệch nội dung hoặc giấy tờ giả mạo; tịch thu số lợi bất hợp pháp thu được do vi phạm hành chính đối với từng hành vi vi vi phạm cụ thể.

d) Về các hành vi vi phạm quy định về đăng ký khai tử (Điều 13):

Về cơ bản, Điều 13 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP là sự kế thừa lại nội dung của Điều 14 Nghị định số 76/2006/NĐ-CP quy định xử phạt đối với hoạt động đăng ký khai tử. Tuy nhiên, liên quan đến thủ tục đăng ký khai tử, Nghị định số 60/2009/NĐ-CP bổ sung hành vi vi phạm “cố ý làm chứng sai sự thật việc chết của người khác”. Theo đó, người làm chứng trong trường hợp cố tình khai báo gian dối, không đúng sự thật việc chết của người khác sẽ bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng (điểm b khoản 4 Điều 13). Ngoài việc bị phạt tiền, cá nhận, tổ chức vi phạm bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là hủy bỏ hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ Giấy chứng tử đã cấp và hướng dẫn việc khai tử lại theo đúng quy định của pháp luật. 

 đ) Về các hành vi vi phạm quy định khác về quản lý hộ tịch:

Điều 14 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP quy định xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính khác về quản lý hộ tịch: hành vi vi phạm về thủ tục đăng ký giám hộ; đăng ký việc nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính hộ tịch; xác định lại dân tộc; xác định lại giới tính; bổ sung hộ tịch; điều chỉnh hộ tịch; cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Nghị định số 60/2009/NĐ-CP vẫn giữ nguyên các hành vi vi phạm và hình thức xử phạt so với Nghị định số 76/2007/NĐ-CP (Điều 15). Tuy nhiên, để đảm bảo tính chính xác, tính thống nhất về mặt ngôn ngữ pháp lý, Nghị định có sửa đổi, bổ sung một số thuật ngữ pháp lý, chẳng hạn như “tự ý sửa chữa, tẩy xóa hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung giấy tờ…” (khoản 1 Điều 14);  “..sử dụng giấy tờ giả mạo hoặc thực hiện hành vi gian dối khác…” (khoản 2 Điều 14). Nội dung cụ thể của Điều 14 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP như sau:       

- Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong các hành vi cố tình làm chứng sai sự thật và tự ý sửa chữa, tẩy xóa hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung giấy tờ để làm các thủ tục về hộ tịch nêu trên  theo quy định.

- Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi làm giả hoặc sử dụng giấy tờ giả mạo hoặc thực hiện hành vi gian dối khác để làm thủ tục theo quy định nhằm mục đích trục lợi.

Ngoài việc bị phạt tiền, các hành vi vi phạm trên còn bị áp dụng thêm hình thức xử phạt bổ sung  tịch thu giấy tờ đã bị sửa chữa, tẩy xóa, bị làm sai lệch nội dung hoặc giấy tờ giả mạo đối với hành vi vi phạm.

e) Về các hành vi vi phạm các quy định về quản lý quốc tịch (Điều 15):

Về cơ bản, nội dung Điều 15 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP vẫn giữ nguyên như Điều 16 Nghị định số 76/2007/NĐ-CP. Tuy nhiên, để đảm bảo phù hợp với Luật Quốc tịch năm 2008, tại khoản 1 Điều 15 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP bỏ các quy định xử phạt đối với hành vi vi phạm về hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam, cấp Giấy chứng nhận mất quốc tịch Việt Nam, không có quốc tịch Việt Nam của Nghị định số 76/2007/NĐ-CP và bổ sung thêm quy định xử phạt đối hành vi vi phạm về “hồ sơ đề nghị đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam”. Nội dung cụ thể của Điều 15 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP như sau:

- Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi tự ý sửa chữa, tẩy xóa hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung các loại giấy tờ hoặc cố ý khai báo không đúng sự thật trong hồ sơ đề nghị xin nhập, trở lại hoặc thôi quốc tịch Việt Nam; hồ sơ đề nghị đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam.

- Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi làm giả hoặc sử dụng giấy tờ giả mạo để làm thủ tục về quốc tịch.

Ngoài việc bị phạt tiền, cá nhân, tổ chức vi phạm còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tịch thu giấy tờ đã bị sửa chữa, tẩy xóa, bị làm sai lệch nội dung hoặc giấy tờ giả mạo đối với hành vi vi phạm và các biện pháp khắc phục hậu quả là đề nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy tờ xác nhận về đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam, trở lại hoặc thôi quốc tịch Việt Nam; hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam đã cấp chưa quá 05 năm đối với hành vi vi phạm.

          f) Về các hành vi vi phạm các quy định về cấp và sử dụng phiếu lý lịch tư pháp, dữ liệu và cơ sở dữ liệu điện tử về lý lịch tư pháp (Điều 16):

          Trên cơ sở các quy định tại Điều 8 của Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 về các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động lý lịch tư pháp, Nghị định số 60/2009/NĐ-CP quy định xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động lý lịch tư pháp, cụ thể như sau:

- Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi tự ý sửa chữa, tẩy xóa hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung giấy tờ để làm thủ tục yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp (Khoản 1 Điều 16);

- Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi làm giả hoặc sử dụng giấy tờ giả mạo để làm thủ tục yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp (Khoản 2 Điều 16);

- Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi (a) Khai thác, sử dụng trái phép, hủy hoại dữ liệu lý lịch tư pháp; (b) In, sao chép, thay đổi trái phép dữ liệu lý lịch tư pháp; (c) Sử dụng phiếu lý tịch tư pháp của người khác trái pháp luật; (d) Tự ý sửa chữa, tẩy xóa hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung phiếu lý lịch tư pháp; làm giả phiếu lý lịch tư pháp hoặc sử dụng phiếu lý lịch tư pháp giả (Khoản 3 Điều 16).

Ngoài việc bị phạt tiền, cá nhân, tổ chức vi phạm còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tịch thu giấy tờ đã bị sửa chữa, tẩy xóa, bị làm sai lệch nội dung hoặc giấy tờ giả mạo đối với hành vi quy định tại khoản 1, khoản 2, điểm d khoản 3 Điều 16 và biện pháp khắc phục hậu quả là Đề nghị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ phiếu lý lịch tư pháp đã cấp đối với trường hợp vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 và điểm d khoản 3 Điều 16.

Đối chiếu với quy định của Nghị định số 76/2007/NĐ-CP, Nghị định số 60/2009/NĐ-CP cũng bổ sung quy định việc xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính trong việc khai thác thông tin về lý lịch tư pháp trong cơ sở dữ liệu điện tử được áp dụng theo quy định tại Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghệ thông tin.

5. Về Mục 4- Chương II-Hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt trong hoạt động công chứng.

5.1. Cơ sở pháp lý để quy định các hành vi VPHC tại Mục 4 Chương II là Luật Công chứng năm 2007 và Nghị định số 02/2008/NĐ-CP ngày 04/01/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng.

5.2. Nội dung cụ thể của Mục này có điểm đáng lưu ý là do những thay đổi mang tính cơ bản về căn cứ pháp lý về tổ chức quản lý hoạt động công chứng, chứng thực như đã nêu tại phần I, phần thứ nhất, phần các hành vi vi phạm, hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả trong hoạt động công chứng tại Nghị định số 60/2008/NĐ-CP đã được bố cục tách khỏi hoạt động chứng thực và sửa đổi, bổ sung các quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính như sau:

a) Lược bỏ đối tượng bị xử phạt và hành vi  vi phạm:

- Nghị định mới đã lược bỏ đối tượng bị xử phạt là người dịch tài liệu là cộng tác viên và các hành vi vi phạm, hình thức xử phạt liên quan đến đối tượng này (Điều 9 Nghị định số 76/2006/NĐ-CP) trên cơ sở các quy định pháp luật về trách nhiệm cuối cùng của công chứng viên tại Luật Công chứng và Nghị định số 02/2008/NĐ-CP ngày 04/01/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng. Bên cạnh đó, các quy định như cố ý dịch sai lệch nội dung bản dịch so với tài liệu nhận dịch… không thể thực hiện được việc xử phạt trong thực tế, vì quy định về người dịch tại Điều 18 Nghị định số 79/2007/NĐ-CP rất chung chung và việc xác định việc dịch sai của người dịch là do vô tình hay cố ý là rất khó xác định để tiến hành xử phạt, dễ dẫn đến việc khiếu kiện của người bị xử phạt. Cũng từ các lý do trên, pháp luật hiện hành về công chứng không quy định đối tượng người dịch là cộng tác viên và các hoạt động liên quan đến họ.

- Quy định pháp luật về công chứng không còn đề cập tới hoạt động môi giới nên không thể mô tả hành vi vi phạm này, đặc biệt trong điều kiện hành vi về môi giới trong công chứng không còn phù hợp với các quy định mới về xã hội hóa hoạt động công chứng mà trong đó việc cung cấp các dịch vụ công chứng được thực hiện đa dạng và linh hoạt hơn giúp cho người có nhu cầu dễ dàng tiếp cận các dịch vụ này.

b) Bổ sung các đối tượng bị xử phạt: 

Một điểm khác biệt cơ bản với Nghị định số 76/2006/NĐ-CP là việc các chủ thể có thẩm quyền thực hiện việc công chứng gồm công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng theo quy định của Luật Công chứng năm 2006 không còn là các chủ thể thuộc tổ chức bộ máy nhà nước nên có thể bị áp dụng các quy định xử phạt vi phạm hành chính thay cho việc áp dụng các hình thức xử lý cán bộ, công chức như trước đây và theo đó, các chủ thể này đã được quy định trực tiếp là đối tượng xử phạt tại các Điều 20 và 21 của Nghị định.

c) Bổ sung các hành vi vi phạm:

Trên cơ sở quy định mới về các đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính nói trên và nhằm giúp cho việc xử phạt kịp thời hiệu quả một số hành vi vi phạm mới phát sinh trong thực tiễn quản lý nhà nước về công chứng, Nghị định số 60/2009/NĐ-CP cũng đã bổ sung nhiều hành vi vi phạm liên quan, cụ thể như sau:

- Hành vi gian dối, không trung thực khi thực hiện việc làm chứng (khoản 1 Điều 17);

- Công chứng viên soạn thảo hợp đồng, giao dịch theo đề nghị của người yêu cầu công chứng mà nội dung, ý định giao kết hợp đồng, giao dịch không xác thực, vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội (điểm a khoản 4 Điều 17);

- Thực hiện việc công chứng ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng, trừ trường hợp người yêu cầu công chứng là người già yếu không thể đi lại được, người đang bị tạm giữ, tạm giam, đang thi hành án phạt tù hoặc có lý do chính đáng khác không thể đến trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng (điểm b khoản 4 Điều 17);

- Thực hiện việc công chứng không đúng thời hạn theo quy định (điểm c khoản 4 Điều 17);

- Thực hiện việc sửa lỗi kỹ thuật văn bản công chứng không đúng quy định (điểm d khoản 4 Điều 17);

- Hành vi công chứng viên thực hiện công chứng hợp đồng, giao dịch về bất động sản không đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 37 Luật Công chứng (khoản 5 Điều 17);

- Thực hiện công chứng hợp đồng thế chấp bất động sản ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có một trong số bất động sản mà tổ chức hành nghề công chứng có trụ sở (điểm a khoản 1 Điều 18);

- Thực hiện không đúng quy định về công chứng đối với bất động sản đã được thế chấp để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ và hợp đồng thế chấp đã được công chứng mà sau đó được tiếp tục công chứng để thế chấp bảo đảm cho một nghĩa vụ khác (điểm b khoản 1 Điều 18);

- Thực hiện công chứng di chúc cho cá nhân không phải là người lập di chúc hoặc người lập di chúc bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình hoặc khi có căn cứ cho rằng việc lập di chúc có dấu hiệu bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép (điểm a khoản 2 Điều 18);

- Thực hiện công chứng văn bản thoả thuận phân chia di sản không kiểm tra tính xác thực về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản của người để lại di sản hoặc không kiểm tra để xác định người yêu cầu công chứng đúng là người được hưởng di sản hoặc khi có căn cứ cho rằng việc để lại di sản và hưởng di sản là không đúng pháp luật (điểm b khoản 2 Điều 18);

- Công chứng viên nhận lưu giữ di chúc không niêm phong bản di chúc trước mặt người lập di chúc, không ghi giấy nhận lưu giữ và không giao cho người lập di chúc (điểm c khoản 2 Điều 18);

- Tổ chức hành nghề công chứng nhận lưu giữ di chúc trước khi giải thể hoặc chấm dứt hoạt động không thoả thuận với người lập di chúc về việc chuyển cho tổ chức hành nghề công chứng khác lưu giữ di chúc hoặc không trả lại di chúc và phí lưu giữ di chúc cho người lập di chúc trong trường hợp không thỏa thuận được (điểm d khoản 2 Điều 18);

- Tự ý sửa chữa, tẩy xoá hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung của bản chính các giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền cấp trong hồ sơ đề nghị bổ nhiệm Công chứng viên, cấp Thẻ công chứng viên (khoản 1 Điều 19);

- Làm giả Thẻ công chứng viên, sử dụng Thẻ công chứng viên giả; làm giả hoặc sử dụng giấy tờ giả mạo trong hồ sơ đề nghị bổ nhiệm công chứng viên (khoản 2 Điều 19);

- Tiết lộ thông tin các tài liệu công chứng mà không được sự đồng ý của chủ giấy tờ bằng văn bản trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (điểm b khoản 1 Điều 20);

- Sử dụng thông tin, tài liệu công chứng để xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của người khác (điểm b khoản 1 Điều 20);

- Sách nhiễu, gây khó khăn cho người yêu cầu công chứng (điểm c khoản 1 Điều 20);

- Từ chối công chứng hợp đồng, giao dịch không có lý do chính đáng (điểm d khoản 1 Điều 20);

- Nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ người yêu cầu công chứng ngoài phí công chứng, thù lao công chứng và chi phí khác đã được xác định, thoả thuận (điểm a khoản 2 Điều 20);

- Thực hiện công chứng trong trường hợp mục đích và nội dung của hợp đồng, giao dịch vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội (điểm b khoản 2 Điều 20);

- Thực hiện công chứng trong trường hợp công chứng liên quan đến tài sản, lợi ích của bản thân mình hoặc của những người thân thích là vợ hoặc chồng, cha mẹ đẻ, cha mẹ vợ hoặc cha mẹ chồng, cha mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể, ông bà nội, ông bà ngoại, anh chị em ruột của mình, của vợ hoặc chồng, cháu là con của con trai, cao gái, con nuôi (điểm c khoản 2 Điều 20);

- Sử dụng Thẻ công chứng viên của người khác hoặc cho người khác sử dụng Thẻ công chứng viên của mình để hành nghề công chứng (điểm a khoản 2 Điều 20);

- Không đủ điều kiện hành nghề công chứng theo quy định của pháp luật mà hành nghề công chứng dưới bất kỳ hình thức nào (điểm a khoản 2 Điều 20);

- Không đăng báo hoặc đăng báo không đầy đủ nội dung, số lần theo quy định về nội dung đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng (điểm a khoản 1 Điều 21);

- Vi phạm các quy định về chế độ báo cáo theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; không báo cáo bằng văn bản gửi Sở Tư pháp nơi đăng ký hoạt động trong trường hợp chấm dứt hợp đồng theo quy định của pháp luật; không lập, quản lý, sử dụng các loại sổ sách, biểu mẫu theo quy định (điểm b khoản 1 Điều 21);

- Không niêm yết lịch làm việc, thủ tục công chứng, phí công chứng, thù lao công chứng, nội quy tiếp người yêu cầu công chứng tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng (điểm c khoản 1 Điều 21);

- Không thực hiện đầy đủ thời gian làm việc theo ngày, giờ của cơ quan hành chính nhà nước (điểm d khoản 1 Điều 21);

- Vi phạm quy định về lưu trữ hồ sơ công chứng (điểm đ khoản 1 Điều 21);

- Tự ý sửa chữa, tẩy xoá hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung giấy tờ trong hồ sơ đề nghị đăng ký hoạt động, hồ sơ đề nghị đăng ký thay đổi nội dung hoạt động, quyết định cho phép thành lập Văn phòng công chứng, Giấy đăng ký hoạt động (điểm a khoản 2 Điều 21);

- Văn phòng công chứng không mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên của tổ chức mình theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm (điểm b khoản 2 Điều 21);

- Làm giả hoặc sử dụng giấy tờ giả mạo trong hồ sơ đăng ký hoạt động, hồ sơ đề nghị đăng ký thay đổi nội dung hoạt động, quyết định cho phép thành lập Văn phòng công chứng, Giấy đăng ký hoạt động (điểm a khoản 3 Điều 21);

- Không đăng ký hoạt động với cơ quan có thẩm quyền về hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng (điểm b khoản 3 Điều 21);

- Không đăng ký, thông báo việc thay đổi nội dung đăng ký hoạt động, tên gọi, trụ sở hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng (điểm c khoản 3 Điều 21);

- Hoạt động không đúng nội dung đăng ký hoạt động, tên gọi, trụ sở hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng (điểm d khoản 3 Điều 21);

- Không đủ điều kiện hoạt động công chứng theo quy định của pháp luật mà hoạt động công chứng dưới bất kỳ hình thức nào (điểm đ khoản 3 Điều 21);

c) Nâng mức phạt tiền quy định trong Nghị định số 60/2009/NĐ-CP so với Nghị định số 76/2006/NĐ-CP:

Do sự phát triển của hoạt động công chứng cũng như nhu cầu của xã hội, đồng thời nhằm xác định trách nhiệm hành chính đối với các đối tượng tham gia hoạt động này, đặc biệt là các đối tượng thay mặt nhà nước thực hiện dịch vụ công nên về cơ bản, các hành vi vi phạm trong hoạt động công chứng đều được áp dụng mức xử phạt tiền mới hoặc cao hơn nhiều lần mức phạt cũ như đối với hành vi tự ý sửa chữa, tẩy xoá hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung giấy tờ để công chứng hợp đồng, giao dịch bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng so với mức cũ là từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng.

d) Bổ sung hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả:

- Nghị định số 60/2009/NĐ-CP đã bổ sung thêm một số hình thức xử phạt bổ sung ngoài hình thức tịch thu giấy tờ bị sửa chữa, giả mạo gồm: Tước Thẻ công chứng viên từ có thời hạn hoặc không thời hạn (khoản 3 Điều 18, khoản 3 Điều 20);

So với Nghị định số 76/2006/NĐ-CP, nhiều quy định mới về biện pháp khắc phục hậu quả đã được bổ sung bao gồm:

- Huỷ bỏ hợp đồng, giao dịch đã thực hiện bởi hành vi vi phạm (khoản 7 Điều 17);

- Buộc thực hiện việc công chứng theo đúng quy định của pháp luật đối với các hành vi vi phạm (điểm a khoản 4 Điều 18, điểm a khoản 4 Điều 20).

- Thu hồi văn bản đã công chứng (điểm b khoản 4 Điều 18, điểm c khoản 4 Điều 20).

- Buộc trả lại khoản tiền hoặc lợi ích khác (điểm b khoản 4 Điều 20).

6. Về Mục 5 - Chương II - Hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt trong hoạt động giám định tư pháp

6.1. Cơ sở pháp lý để quy định các hành vi vi phạm hành chính (VPHC) ở Mục này là Pháp lệnh Giám định tư pháp năm 2004 và Nghị định số 67/2005/NĐ-CP ngày 19/5/2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Giám định tư pháp.

6.2. Nội dung cụ thể bao gồm các hành 
 vi VPHC trong hoạt động giám định tư pháp được bố cục tại Điều 22 Mục 5 Chương II Nghị định số 60/2009/NĐ-CP. Về cơ bản, các hành vi vi phạm vẫn được xây dựng trên cơ sở các quy định của Pháp lệnh Giám định tư pháp năm 2004 và Nghị định số 67/2005/NĐ-CP nhưng đã có sự tổng kết, đánh giá quá trình thực hiện để tiếp tục chỉnh lý hoặc bổ sung một số hành vi vi phạm nhằm đáp ứng yêu cầu mới nảy sinh trong thực tiễn, cụ thể như sau:

a) Chỉnh sửa, bổ sung hành vi vi phạm mới gồm:

Một số hành vi vi phạm mới đã được nghiên cứu bổ sung vào Nghị định số 60/2009/NĐ-CP bao gồm:

- Tự ý sửa chữa, tẩy xoá hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung của giấy tờ đề nghị bổ nhiệm Giám định viên (điểm đ khoản 2 Điều 22);

- Sử dụng Thẻ giám định viên tư pháp của người khác hoặc cho người khác sử dụng Thẻ giám định viên tư pháp của mình để hành nghề giám định (điểm e khoản 2 Điều 22);

- Tiết lộ bí mật thông tin mà mình biết được khi tiến hành giám định đối với các vụ án khác (điểm b khoản 3 Điều 22);

- Từ chối kết luận giám định mà không có lý do chính đáng (điểm c khoản 3 Điều 22);

- Cố ý đưa ra kết luận giám định sai sự thật (điểm d khoản 3 Điều 22);

- Làm giả hoặc sử dụng giấy tờ giả mạo trong hồ sơ đề nghị bổ nhiệm giám định viên (điểm đ khoản 3 Điều 22);

- Tự ý sửa chữa, tẩy xoá hoặc có hành vi khác làm sai lệch văn bản giám định (điểm e khoản 3 Điều 22);

- Không đủ điều kiện thực hiện giám định theo quy định của pháp luật mà thực hiện giám định dưới bất kỳ hình thức nào (điểm i khoản 3 Điều 22).

b) Nâng mức phạt tiền trong Nghị định số 60/2009/NĐ-CP so với Nghị định số 76/2006/NĐ-CP:

Nghị định số 60/2009/NĐ-CP có một số ít thay đổi về quy định nâng khung xử phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng lên khung xử phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với các hành vi:

- Cố tình thực hiện giám định trong trường hợp phải từ chối giám định theo quy định (điểm g khoản 3 Điều 22);

- Không ghi nhận trung thực kết quả trong quá trình giám định (điểm h khoản 3 Điều 22);

c) Bổ sung hình thức xử phạt bổ sung:

Để bảo đảm việc xử lý triệt để các hành vi vi phạm cũng như giúp cho việc thi hành được thống nhất, Nghị định số 60/2009/NĐ-CP đã quy định thêm các hình thức xử phạt bổ sung “Tịch thu giấy tờ đã bị sửa chữa, tẩy xoá, bị làm sai lệch nội dung hoặc giấy tờ giả mạo” và xác định cụ thể thời hạn tước quyền sử dụng Thẻ giám định viên là từ 03 tháng đến 06 tháng (điểm a, c khoản 4 Điều 22).

7. Về Mục 6- Chương II-  Hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt trong hoạt động hành nghề luật sư, tư vấn pháp luật

Nội dung xử phạt vi phạm hành chính đối với những hành vi xâm phạm hoạt động quản lý nhà nước về hành nghề luật sư, tư vấn pháp luật được quy định tại Mục 6 từ Điều 23 đến Điều 28 của Nghị định số 60/2009/NĐ-CP. Hiện nay, hoạt động quản lý luật sư và tư vấn pháp luật được điều chỉnh bởi hai hệ thống pháp luật khác nhau là pháp luật về luật sư và pháp luật về tư vấn pháp luật. Tuy nhiên, Nghị định số 60/2009/NĐ-CP quy định gộp hai hoạt động tại Mục 6 do tính chất của hai hoạt động này có sự tương đồng là có thực hiện dịch vụ tư vấn pháp lý cho đương sự. Cơ sở pháp lý để quy định các hành vi vi phạm tại mục này là Luật luật sư, Nghị định số 28/2007/NĐ-CP ngày 26/02/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật luật sư, Nghị định số 131/2008/NĐ-CP ngày 31/12/2008 của Chính phủ hướng dẫn thi hành các quy định của Luật luật sư về tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư và Nghị định số 77/2008/NĐ-CP ngày 16/7/2008 của Chính phủ về tư vấn pháp luật, theo đó, các hành vi vi phạm trong hoạt động này bao gồm hành vi vi phạm quy định về hồ sơ đề nghị cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư, Giấy đăng ký hành nghề luật sư với tư cách cá nhân, Giấy phép hành nghề tại Việt Nam của luật sư nước ngoài (Điều 23); hành vi vi phạm quy định trong hoạt động hành nghề của luật sư (Điều 24); hành vi vi phạm quy định về hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư (Điều 25); hành vi vi phạm quy định về quản lý nhà nước của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư (Điều 26); hành vi vi phạm quy định về tổ chức, hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật, Chi nhánh của Trung tâm tư vấn pháp luật (Điều 27) và hành vi vi phạm quy định trong hoạt động tư vấn pháp luật của người thực hiện tư vấn pháp luật (Điều 28).

Đối với hành vi tại Điều 23 quy định về hồ sơ đề nghị cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư, Giấy đăng ký hành nghề luật sư với tư cách cá nhân, Giấy phép hành nghề tại Việt Nam của luật sư nước ngoài. Đây là những hành vi được xây dựng trên cơ sở Luật luật sư và là những điểm mới so với Nghị định số 76/2006/NĐ-CP. Tiền phạt đối với các hành vi được chia làm hai mức trên cơ sở tính chất của hành vi vi phạm, theo đó, đối với hành vi tự ý sửa chữa, tẩy xoá hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung các giấy tờ trong hồ sơ đề nghị cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư, Giấy đăng ký hành nghề luật sư với tư cách cá nhân, Giấy phép hành nghề tại Việt Nam của luật sư nước ngoài (điểm a khoản 1 Điều 23) và hành vi tự ý sửa chữa, tẩy xoá hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung Chứng chỉ hành nghề luật sư, Giấy đăng ký hành nghề luật sư với tư cách cá nhân, Giấy phép hành nghề tại Việt Nam của luật sư nước ngoài quy định tại điểm b khoản 1 Điều này cá nhân vi phạm sẽ bị xử phạt với mức phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Đối với hành vi làm giả hoặc sử dụng các giấy tờ giả mạo trong hồ sơ đề nghị cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư, Giấy đăng ký hành nghề luật sư với tư cách cá nhân, Giấy phép hành nghề tại Việt Nam của luật sư nước ngoài (khoản 2 Điều 23) cá nhân vi phạm sẽ bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Ngoài xử phạt tiền, cá nhân vi phạm còn bị tịch thu giấy tờ, tài liệu giả mạo được sử dụng để thực hiện nếu thực hiện các hành vi đã nêu trên (khoản 3 Điều 23).

Đối với hành vi vi phạm quy định trong hoạt động hành nghề của luật sư quy định tại Điều 24 của Nghị định số 60/2009/NĐ-CP. Đây là những hành vi vi phạm do luật sư, bao gồm cả luật sư đăng ký hành nghề với tư cách cá nhân, luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam thực hiện trong quá trình hành nghề luật sư. Các hành vi này được xây dựng chủ yếu dựa trên cơ sở Luật luật sư và có nhiều điểm được sửa đổi, bổ sung mới (27 hành vi) so với 07 hành vi vi phạm theo Nghị định số 76/2006/NĐ-CP, các hành vi được bổ sung mới là những hành vi liên quan đến trách nhiệm báo cáo của luật sư trong quá trình tổ chức và hoạt động hành nghề cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, các hành vi liên quan đến hoạt động hành nghề của luật sư…

Điều 24 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP hiện hành chia làm 4 mức phạt trên cơ sở tính chất của hành vi vi phạm, cụ thể, đối với hành vi vi phạm liên quan đến chế độ thông báo của luật sư hành nghề, trường hợp luật sư hành nghề không thực hiện thông báo cho khách hàng về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm nghề nghiệp của mình trong việc thực hiện dịch vụ pháp lý cho khách hàng (điểm a khoản 1); không thông báo bằng văn bản cho cơ quan có thẩm quyền, Đoàn luật sư về việc được cấp Giấy đăng ký hành nghề luật sư với tư cách cá nhân; thay đổi nội dung đăng ký hành nghề luật sư (điểm b khoản 1) và không thực hiện chế độ báo cáo theo đúng quy định về tình hình tổ chức hoạt động; không lập, quản lý, sử dụng các loại sổ sách, biểu mẫu theo quy định (điểm c khoản 1) thì bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng.

Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi của Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân hoạt động không theo đúng lĩnh vực hành nghề ghi trong Giấy đăng ký hành nghề luật sư (điểm a khoản 2); Luật sư đồng thời thành lập hoặc tham gia thành lập hai hay nhiều tổ chức hành nghề luật sư (điểm b khoản 2); cho người khác sử dụng Chứng chỉ hành nghề luật sư, Giấy đăng ký hành nghề luật sư với tư cách cá nhân hoặc Giấy phép hành nghề tại Việt Nam của luật sư nước ngoài để hành nghề luật sư (điểm c khoản 2), hành vi sử dụng Chứng chỉ hành nghề luật sư; Giấy đăng ký hành nghề luật sư với tư cách cá nhân hoặc Giấy phép hành nghề tại Việt Nam của luật sư nước ngoài không phải của mình để hành nghề luật sư (điềm d khoản 2) và hành vi luật sư chuyển giao vụ việc mà mình đã nhận cho luật sư khác làm thay khi chưa được sự đồng ý của khách hàng, trừ trường hợp bất khả kháng (điểm đ khoản 2). Ngoài phạt tiền, luật sư vi phạm các quy định tại điểm a, b, c khoản 2 đã nêu trên còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề luật sư, Giấy phép hành nghề luật sư với tư cách cá nhân hoặc Giấy phép hành nghề tại Việt Nam của luật sư nước ngoài từ 06 tháng đến 12 tháng quy định tại khoản 5 Điều 24 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP.

Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi thực hiện dịch vụ pháp lý mà không ký kết hợp đồng bằng văn bản hoặc có ký kết hợp đồng nhưng nội dung không đúng quy định (điểm a khoản 3); hành vi sách nhiễu, lừa dối, ép buộc khách hàng đưa thêm tiền hoặc lợi ích vật chất khác ngoài khoản thù lao và chi phí đã thoả thuận trong hợp đồng dịch vụ pháp lý (điểm b khoản 3); hành vi từ chối thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí theo quy định của pháp luật khi được yêu cầu (điểm c khoản 3); hành vi tự ý sửa chữa, tẩy xoá hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung Giấy chứng nhận tham gia tố tụng, Giấy phép hành nghề tại Việt Nam của luật sư nước ngoài, Giấy phép hành nghề luật sư với tư cách cá nhân (điểm d khoản 3); hành vi làm giả Giấy chứng nhận tham gia tố tụng, Giấy phép hành nghề tại Việt Nam của luật sư nước ngoài, Giấy phép hành nghề luật sư với tư cách cá nhân (điểm đ khoản 3); hành vi luật sư hành nghề với tư cách cá nhân không đăng ký hành nghề tại cơ quan có thẩm quyền; không mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm (điểm e khoản 3); hành vi luật sư hành nghề khi chưa được cấp Giấy phép đăng ký hành nghề luật sư với tư cách cá nhân hoặc Giấy phép hành nghề tại Việt Nam của luật sư nước ngoài (điểm g khoản 3) và hành vi luật sư hoạt động không theo đúng lĩnh vực hành nghề ghi trong Giấy đăng ký hành nghề luật sư với tư cách cá nhân (điểm h khoản 3). Ngoài bị phạt tiền đối với các hành vi đã nêu, trường hợp luật sư thực hiện hành vi quy định tại điểm b, h khoản 3 Điều 24 đã nêu còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề luật sư, Giấy phép hành nghề luật sư với tư cách cá nhân hoặc Giấy phép hành nghề tại Việt Nam của luật sư nước ngoài từ 06 tháng đến 12 tháng (khoản 5 Điều 24). Bị tịch tịch thu giấy tờ đã bị sửa chữa, tẩy xoá, bị làm sai lệch nội dung hoặc giấy tờ giả mạo đối với hành vi quy định tại điểm d, đ khoản 3 Điều 24 và buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả như buộc thực hiện theo đúng quy định của pháp luật đối với hành vi quy định tại điểm c, e khoản 3 Điều 24 (khoản 6 Điều 24) và buộc hoàn trả số lợi bất hợp pháp thu được nếu thực hiện hành vi quy định tại điểm b khoản 3 Điều 24.

Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối hành vi cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng có quyền lợi đối lập nhau trong cùng một vụ, việc (điểm a khoản 4); hành vi cố ý cung cấp tài liệu, vật chứng giả, sai sự thật (điểm b khoản 4); hành vi xúi giục khách hàng khai sai sự thật hoặc xúi giục khách hàng khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện trái pháp luật (điểm c khoản 4); hành vi tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác (điểm d khoản 4); hành vi móc nối, quan hệ với người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, cán bộ, công chức khác để làm trái quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ, việc (điểm đ khoản 4); hành vi lợi dụng việc hành nghề luật sư, danh nghĩa luật sư để gây ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân (điểm e khoản 4); hành vi luật sư nước ngoài hoạt động không theo đúng hình thức hành nghề của luật sư nước ngoài đã được quy định (điểm g khoản 4); hành vi luật sư nước ngoài tư vấn pháp luật Việt Nam khi chưa có bằng cử nhân luật của Việt Nam và chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu tương tự như đối với một luật sư Việt Nam (điểm h khoản 4); hành vi luật sư nước ngoài tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trước cơ quan tiến hành tố tụng của Việt Nam (điểm i khoản 4); hành vi luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam khi Giấy phép hành nghề tại Việt Nam của luật sư nước ngoài đã hết hạn (điểm k khoản 4) và hành vi không đủ điều kiện hành nghề luật sư theo quy định của pháp luật mà hành nghề luật sư dưới bất kỳ hình thức nào (điểm l khoản 4). Ngoài bị phạt tiền theo mức đã quy định nêu trên, nếu luật sư vi phạm các quy định tại điểm e, g khoản 4 Điều 24 còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề luật sư, Giấy phép hành nghề luật sư với tư cách cá nhân hoặc Giấy phép hành nghề tại Việt Nam của luật sư nước ngoài từ 06 tháng đến 12 tháng.

Đối với hành vi vi phạm quy định về hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư quy định tại Điều 25 của Nghị định số 60/2009/NĐ-CP. Đối tượng bị xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy định tại điều này là tổ chức hành nghề luật sư như Văn phòng luật sư, Công ty luật (gồm công ty luật hợp danh và công ty luật trách nhiệm hữu hạn), Chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài,  Công ty luật trách nhiệm hữu hạn một trăm phần trăm vốn nước ngoài, công ty luật trách nhiệm hữu hạn dưới hình thức liên doanh do không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của tổ chức trong quá trình hoạt động của mình. So với Nghị định số 76/2006/NĐ-CP thì nghị định này bổ sung thêm 08 hành vi và các hành vi còn lại được xây dựng trên cơ sở kế thừa và có sửa đổi, bổ sung về mặt nội dung cho phù hợp với Luật luật sư. Trên cơ sở tính chất của hành vi vi phạm, các hành vi quy định tại Điều này được phân chia thành 4 mức phạt từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng; 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng; 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng; 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Khoản 1 Điều 25 quy định phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi không thông báo bằng văn bản hoặc thông báo không đúng thời hạn cho cơ quan có thẩm quyền, Đoàn luật sư về việc đặt cơ sở hành nghề luật sư ở nước ngoài; chấm dứt hoạt động của cơ sở hành nghề luật sư ở nước ngoài (điểm a khoản 1); hành vi đăng ký thay đổi nội dung đăng ký hoạt động với cơ quan có thẩm quyền không theo đúng thời hạn quy định (điểm b khoản 1); hành vi không thông báo bằng văn bản hoặc thông báo không đúng thời hạn cho cơ quan có thẩm quyền, Đoàn luật sư sau khi được Giấy đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, tạm ngừng và tiếp tục hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư; chấm dứt hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư; Giấy đăng ký hoạt động Chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư; việc thay đổi nội dung đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư; thay đổi nội dung đăng ký hoạt động của Chi nhánh; địa chỉ của Văn phòng giao dịch (điểm c khoản 1); hành vi không thực hiện chế độ báo cáo theo đúng quy định về tình hình tổ chức hoạt động; không lập, quản lý, sử dụng các loại sổ sách, biểu mẫu theo quy định (điểm d khoản 1); hành vi không công bố hoặc công bố không đúng nội dung, thời hạn, số lần, hình thức công bố theo quy định đối với nội dung đăng ký hoạt động, nội dung thay đổi hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư (điểm đ khoản 1) và hành vi tự ý sửa chữa, tẩy xoá hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung Giấy đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, Giấy đăng ký hoạt động Chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư (điểm e khoản 1). Ngoài bị phạt tiền với mức phạt như đã nêu ở trên, tổ chức hành nghề luật sư còn phải chịu hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu giấy tờ đã bị sửa chữa, tẩy xoá, bị làm sai lệch nội dung hoặc giấy tờ giả mạo đối với hành vi quy định tại điểm e khoản 1 Điều 25 (khoản 5 Điều 25) và bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc thực hiện theo đúng quy định của pháp luật nếu thực hiện hành vi quy định tại điểm a, b, c, d, đ khoản 1 Điều này (khoản 6 Điều 25).

Khoản 2 Điều 25 quy định phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi làm giả hoặc sử dụng các giấy tờ giả mạo trong hồ sơ đề nghị đăng ký hoạt động, hồ sơ đề nghị đăng ký thay đổi nội dung hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, Chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư; hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép thành lập chi nhánh, Công ty luật nước ngoài tại Việt Nam; Giấy phép thành lập chi nhánh của Công ty luật nước ngoài tại Việt Nam (điểm a khoản 2); hành vi cho người không phải là luật sư thực hiện hoạt động hành nghề dưới danh nghĩa tổ chức hành nghề luật sư của mình (điểm b khoản 2); hành vi hoạt động không theo đúng lĩnh vực hành nghề ghi trong Giấy đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, Giấy phép thành lập của Chi nhánh, Công ty luật nước ngoài tại Việt Nam hoặc hoạt động không đúng trụ sở đã đăng ký; không có biển hiệu hoặc sử dụng biển hiệu trái với quy định của pháp luật (điểm c khoản 2); Văn phòng giao dịch của tổ chức hành nghề luật sư thực hiện việc cung cấp dịch vụ pháp lý (điểm d khoản 2); hành vi không cử luật sư của tổ chức mình tham gia tố tụng theo phân công của Đoàn luật sư (điểm đ khoản 2); hành vi không cho phép hoặc không tạo điều kiện cho luật sư của tổ chức mình thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí (điểm g khoản 2); hành vi không mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho luật sư của tổ chức mình theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm (điểm h khoản 2). Ngoài bị phạt tiền quy định tại khoản 2 Điều này, tổ chức hành nghề luật sư còn phải chịu hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu giấy tờ đã bị sửa chữa, tẩy xoá, bị làm sai lệch nội dung hoặc giấy tờ giả mạo đối với hành vi quy định tại điểm a khoản 2 Điều này; bị tước quyền sử dụng Giấy đăng ký hoạt động từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều này và bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc thực hiện theo đúng quy định của pháp luật nếu thực hiện hành vi quy định tại điểm đ, e khoản 2 Điều 25.

Khoản 3 Điều 25 quy định phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi thu thù lao luật sư không đúng theo quy định của pháp luật hoặc hợp đồng dịch vụ pháp lý đã được ký kết (điểm a khoản 3); hành vi cho cá nhân, tổ chức khác sử dụng Giấy đăng ký hoạt động, Giấy phép thành lập, Giấy đăng lý hoạt động của Chi nhánh, Công ty luật nước ngoài tại Việt Nam để hành nghề luật sư (điểm b khoản 3); hành vi để cá nhân, tổ chức khác thực hiện dịch vụ pháp lý tại Văn phòng giao dịch của mình (điểm c khoản 3); thay đổi nội dung hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư; Chi nhánh, Công ty luật nước ngoài khi chưa được cấp lại Giấy đăng ký hoạt động theo quy định (điểm d khoản 3) và hành vi của Chi nhánh, Công ty luật nước ngoài hành nghề tại Việt Nam cử luật sư nước ngoài tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trước cơ quan tiến hành tố tụng của Việt Nam. Ngoài bị phạt tiền quy định tại khoản 3 Điều này, tổ chức hành nghề luật sư còn phải chịu hình thức xử phạt bổ sung tước quyền sử dụng Giấy đăng ký hoạt động từ 03 tháng đến 06 tháng nếu thực hiện hành vi quy định tại điểm b, c khoản 3 Điều này và bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc trả lại số tiền thu không đúng quy định nếu thực hiện hành vi quy định tại điểm a khoản 3 Điều này.

Khoản 4 Điều 25 quy định phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi không đủ điều kiện hành nghề luật sư theo quy định của pháp luật mà hành nghề luật sư dưới bất kỳ hình thức nào (điểm a khoản 4); không đăng ký hoạt động với cơ quan có thẩm quyền về hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư; Chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư; Chi nhánh, Công ty luật nước ngoài; Chi nhánh của Công ty luật nước ngoài tại Việt Nam (điểm b khoản 4); hoạt động khi chưa được cấp Giấy đăng ký hoạt động (điểm c khoản 4) và hành vi lợi dụng việc hành nghề luật sư để gây ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân (điểm d khoản 4). Ngoài bị phạt tiền quy định tại khoản 4 Điều này, tổ chức hành nghề luật sư còn phải chịu hình thức xử phạt bổ sung tước quyền sử dụng Giấy đăng ký hoạt động không thời hạn nếu thực hiện hành vi quy định tại điểm d khoản 4 Điều này.

Điều 26 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP quy định 3 mức tiền phạt từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng, từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng, từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định về quản lý nhà nước của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư như Đoàn luật sư tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Liên đoàn luật sư Việt Nam. Đây là một chế định mới được quy định trong Luật luật sư và Nghị định số 131/2008/NĐ-CP. Do đó, các hành vi vi phạm quy định tại Điều này đều là những hành vi mới bổ sung tại Nghị định số 60/2009/NĐ-CP, theo đó, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư khi không báo cáo cơ quan có thẩm quyền về Đề án tổ chức Đại hội nhiệm kỳ, phương án xây dựng Ban Chủ nhiệm, Hội đồng khen thưởng, kỷ luật nhiệm kỳ mới trước khi tổ chức Đại hội nhiệm kỳ (điểm a khoản 1); không gửi cơ quan có thẩm quyền về báo cáo kết quả Đại hội nhiệm kỳ, các giấy tờ khác theo quy định và báo cáo kết quả Đại hội để bãi nhiệm và bầu mới hoặc bầu thay thế Chủ nhiệm, bầu bổ sung uỷ viên Ban Chủ nhiệm, Hội đồng khen thưởng, kỷ luật để trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt kết quả Đại hội theo thẩm quyền (điểm b khoản 1) và không thực hiện báo cáo năm về tình hình tổ chức, hoạt động của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư cho cơ quan có thẩm quyền, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư (điểm c khoản 1) thì tuỳ theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm thì tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi đã nêu.

Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi không phân công tổ chức hành nghề luật sư cử luật sư hoặc trực tiếp cử luật sư hành nghề với tư cách cá nhân tham gia tố tụng theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng (điểm a khoản 2); không gửi quy định, quyết định, nghị quyết được thông qua của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư cho cơ quan có thẩm quyền, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư (điểm b khoản 2); không gửi cơ quan có thẩm quyền hồ sơ đề nghị phê duyệt điều lệ theo quy định (điểm c khoản 2) và hành vi tự ý sửa chữa, tẩy xoá hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung giấy tờ trong hồ sơ đề nghị phê duyệt điều lệ, hồ sơ đề nghị phê chuẩn kết quả Đại hội (điểm c khoản 2). Ngoài bị phạt tiền quy định tại khoản 2 Điều 26, tổ chức hành nghề luật sư còn phải chịu hình thức xử phạt bổ sung tịch thu giấy tờ đã bị sửa chữa, tẩy xoá, bị làm sai lệch nội dung hoặc giấy tờ giả mạo nếu thực hiện  hành vi quy định tại điểm d khoản 2 Điều này.

Khoản 3 Điều 26 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi làm giả hoặc sử dụng các giấy tờ giả mạo trong hồ sơ đề nghị phê duyệt điều lệ, hồ sơ đề nghị phê chuẩn kết quả Đại hội; (điểm a khoản 3); tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư lợi dụng danh nghĩa của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư để gây ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân (điểm b khoản 3). Ngoài bị phạt tiền quy định tại khoản 3 Điều 26, tổ chức hành nghề luật sư còn phải chịu hình thức xử phạt bổ sung tịch thu giấy tờ đã bị sửa chữa, tẩy xoá, bị làm sai lệch nội dung hoặc giấy tờ giả mạo nếu thực hiện hành vi quy định tại điểm a khoản 3 Điều này.

Điều 27 và Điều 28 Mục 6  Nghị định số 60/2009/NĐ-CP quy định đối tượng bị xử phạt là Trung tâm tư vấn pháp luật, Chi nhánh của Trung tâm tư vấn pháp luật và người thực hiện tư vấn pháp luật gồm tư vấn viên pháp luật, Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động cho Trung tâm tư vấn pháp luật và Cộng tác viên tư vấn pháp luật. Cơ sở pháp lý để quy định hành vi này là Nghị định số 77/2008/NĐ-CP ngày 16/7/2008 của Chính phủ về tư vấn pháp luật, theo đó, Nghị định số 60/2009/NĐ-CP bỏ một số hành vi liên quan đến việc không niêm yết danh sách cộng tác viên, danh sách tư vấn viên pháp luật và sửa đổi, bổ sung một số hành vi để phù hợp với nội dung quy định tại Nghị định số 77/2008/NĐ-CP.

Điều 27 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP quy định 4 mức phạt từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng, từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng, từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng và từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với 16 hành vi vi phạm quy định về tổ chức, hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật, Chi nhánh của Trung tâm tư vấn pháp luật. So với Điều 23 Nghị định số 76/2006/NĐ-CP quy định 5 hành vi thì Điều 27 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP ngoài bỏ hành vi liên quan đến niêm yết danh sách đã kế thừa và sửa đổi, bổ sung thêm và hiện nay có 16 hành vi. Theo đó, Điều 27 quy định hành vi vi phạm quy định về tổ chức, hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật, Chi nhánh của Trung tâm tư vấn pháp luật, trong đó, khoản 1 Điều 27 quy định phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi không niêm yết mức thu thù lao tư vấn pháp luật tại trụ sở của Trung tâm theo quy định (điểm a khoản 1); không thực hiện chế độ báo cáo, lập, quản lý, sử dụng các loại sổ sách, biểu mẫu theo đúng quy định (điểm b khoản 1) và xử phạt đối với hành vi không thông báo bằng văn bản cho cơ quan có thẩm quyền đối với trường hợp thay đổi nội dung đăng ký hoạt động; đặt Chi nhánh của Trung tâm tư vấn pháp luật; thay đổi trụ sở, Giám đốc Trung tâm, Trưởng Chi nhánh, Tư vấn viên pháp luật, Luật sư; chấm dứt hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật, Chi nhánh (điểm c khoản 1).

Trung tâm tư vấn pháp luật, Chi nhánh của Trung tâm tư vấn pháp luật nếu thực hiện hành vi phân công người không phải là tư vấn viên pháp luật, luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động cho Trung tâm tư vấn pháp luật, cộng tác viên tư vấn pháp luật để thực hiện tư vấn pháp luật (điểm a khoản 2) và hành vi cử đối tượng không đúng quy định tham gia tố tụng để bào chữa, đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức yêu cầu tư vấn pháp luật đối với vụ việc mà Trung tâm thực hiện tư vấn pháp luật (điểm b khoản 2) sẽ bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi đã nêu trên (khoản 2 Điều 27 của Nghị định số 60/2009/NĐ-CP.

Khoản 3 Điều 27 quy định phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi của Trung tâm tư vấn pháp luật, Chi nhánh của Trung tâm tư vấn pháp luật thực hiện tư vấn khi chưa được cấp Giấy đăng ký hoạt động (điểm a khoản 3); không thực hiện thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động đã ký với luật sư, cộng tác viên và nhân viên của Trung tâm; thực hiện chưa xong các vụ việc mà Trung tâm đã nhận trước thời điểm chấm dứt hoạt động (điểm b khoản 3) và hành vi tự ý sửa chữa, tẩy xoá hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung giấy tờ trong hồ sơ đề nghị cấp Giấy đăng ký hoạt động hoặc Giấy đăng ký hoạt động (điểm c khoản 3). Ngoài bị phạt tiền quy định tại khoản này Trung tâm tư vấn pháp luật, Chi nhánh của Trung tâm tư vấn pháp luật còn phải chịu hình thức xử phạt bổ sung tịch thu giấy tờ đã bị sửa chữa, tẩy xoá, bị làm sai lệch nội dung hoặc giấy tờ giả mạo nếu thực hiện hành vi quy định tại điểm c khoản 3 Điều này (khoản 6 Điều 27) và còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc thực hiện đúng quy định nếu thực hiện hành vi quy định tại khoản 1, 2, điểm b khoản 3 Điều này.

Trung tâm tư vấn pháp luật, Chi nhánh của Trung tâm tư vấn pháp luật nếu thực hiện hành vi làm giả hoặc sử dụng các giấy tờ giả mạo trong hồ sơ đề nghị cấp Giấy đăng ký hoạt động hoặc Giấy đăng ký hoạt động (điểm a khoản 4); xúi giục cá nhân, tổ chức yêu cầu tư vấn pháp luật cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật, khiếu nại, tố cáo, khởi kiện trái pháp luật (điểm b khoản 4) sẽ bị xử phạt tiền với mức phạt từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với các hành vi đã nêu và bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tịch thu giấy tờ đã bị sửa chữa, tẩy xoá, bị làm sai lệch nội dung hoặc giấy tờ giả mạo đối với hành vi quy định tại điểm a khoản 4 Điều này và Tước quyền sử dụng Giấy đăng ký hoạt động từ 03 tháng đến 06 tháng nếu thực hiện hành vi quy định tại điểm b khoản 4 Điều này.

Bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với các hành vi không tiến hành đăng ký hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật; Chi nhánh của Trung tâm tư vấn pháp luật theo quy định tại cơ quan có thẩm quyền (điểm a khoản 5); lợi dụng hoạt động tư vấn pháp luật để trục lợi; gây mất trật tự, an toàn xã hội; ảnh hưởng xấu đến đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc; xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức (điểm b khoản 5); cho cá nhân, tổ chức khác sử dụng Giấy đăng ký hoạt động của mình (điểm c khoản 5); hoạt động không theo đúng lĩnh vực hành nghề ghi trong Giấy đăng ký hoạt động hoặc hoạt động không đúng trụ sở đã đăng ký; không có biển hiệu hoặc sử dụng biển hiệu trái với quy định của pháp luật (điểm d khoản 5); cho cá nhân, tổ chức khác hoạt động tư vấn dưới danh nghĩa của tổ chức mình (điểm đ khoản 5) và thực hiện hành vi khi không đủ điều kiện hoạt động theo quy định của pháp luật mà hoạt động tư vấn pháp luật dưới bất kỳ hình thức nào (điểm e khoản 5). Ngoài bị phạt tiền quy định đã nêu Trung tâm tư vấn pháp luật, Chi nhánh của Trung tâm tư vấn pháp luật còn phải chịu hình thức xử phạt bổ sung tước quyền sử dụng Giấy đăng ký hoạt động không thời hạn nếu thực hiện hành vi quy định tại điểm b khoản 5 Điều này và bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc thực hiện đúng quy định nếu thực hiện hành vi quy định tại điểm a khoản 5 Điều này.

Điều 28 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP quy định xử phạt đối với hành vi của người thực hiện tư vấn pháp luật trong hoạt động tư vấn pháp luật. So với Điều 24 Nghị định số 76/2006/NĐ-CP quy định 3 hành vi của 2 chức danh là tư vấn viên pháp luật, cộng tác viên tư vấn pháp luật thì Điều 28 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP quy định bổ sung 10 hành vi của 3 chức danh tư vấn viên pháp luật là Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động cho Trung tâm tư vấn pháp luật và Cộng tác viên tư vấn pháp luật trên cơ sở nội dung của Nghị định số 77/2008/NĐ-CP.

Khoản 1 Điều này về cơ bản vẫn giữ nguyên những quy định của khoản 1 Điều 24 Nghị định số 76/2006/NĐ-CP và bổ sung thêm hành vi tự ý sửa chữa, tẩy xoá hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung Thẻ tư vấn viên pháp luật hoặc giấy tờ trong hồ sơ đề nghị cấp Thẻ tư vấn viên pháp luật quy định tại điểm d khoản 1 Điều 28. Mức phạt đối với các hành vi quy định tại khoản này vẫn giữ nguyên mức phạt so với khoản Điều 24 Nghị định số 76/2006/NĐ-CP, đối với các hành vi như cố ý tư vấn trái pháp luật (điểm a khoản 1); đòi thêm tiền hoặc lợi ích vật chất khác ngoài khoản thù lao mà Trung tâm tư vấn pháp luật đã thu (điểm b khoản 1) và hành vi lợi dụng danh nghĩa Trung tâm tư vấn pháp luật, lạm dụng danh nghĩa tư vấn viên pháp luật, luật sư, cộng tác viên tư vấn viên pháp luật để thực hiện tư vấn pháp luật nhằm thu lợi cho riêng mình hoặc để tiến hành các hoạt động khác trái pháp luật (điểm c khoản 1) thì người thực hiện tư vấn pháp luật sẽ bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng và bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là  tịch thu số lợi bất hợp pháp thu được nếu thực hiện hành vi quy định tại điểm b, c khoản 1 và bị tước quyền sử dụng Thẻ tư vấn viên pháp luật, Chứng chỉ hành nghề luật sư trong thời hạn 03 tháng đến 06 tháng nếu thực hiện hành vi quy định tại điểm a, b, c khoản 1. Ngoài bị phạt tiền, áp dụng hình thức xử phạt bổ sung đã nêu ở trên, trường hợp người thực hiện tư vấn pháp luật nếu thực hiện hành vi quy định tại điểm b, c khoản 1 Điều này còn bị buộc phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả buộc hoàn trả số tiền hoặc lợi ích vật chất khác.

Các hành vi quy định tại khoản 2 Điều 28 là những hành vi bổ sung mới so với Nghị định số 76/2006/NĐ-CP, theo đó, người thực hiện tư vấn pháp luật sẽ bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi làm giả Thẻ tư vấn viên pháp luật, sử dụng Thẻ tư vấn viên pháp luật giả; làm giả hoặc sử dụng giấy tờ giả mạo trong hồ sơ đề nghị cấp Thẻ tư vấn viên pháp luật (điểm a khoản 2); xúi giục cá nhân, tổ chức yêu cầu tư vấn pháp luật cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật, khiếu nại, tố cáo, khởi kiện trái pháp luật (điểm b khoản 2); lợi dụng hoạt động tư vấn pháp luật để trục lợi; gây mất trật tự, an toàn xã hội ảnh hưởng xấu đến đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức (điểm c khoản 2); tư vấn pháp luật cho các bên có quyền lợi đối lập trong cùng một vụ việc (điểm d khoản 2); tiết lộ thông tin về vụ việc, cá nhân, tổ chức yêu cầu tư vấn pháp luật, trừ trường hợp cá nhân, tổ chức yêu cầu tư vấn pháp luật đồng ý hoặc pháp luật có quy định khác (điểm d khoản 2) và hành vi không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật mà thực hiện tư vấn pháp luật dưới bất kỳ hình thức nào (điểm đ khoản 2). Ngoài bị phạt tiền theo mức trên, người thực hiện tư vấn pháp luật nếu thực hiện hành vi quy định tại điểm b, d, đ khoản 2 còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tước quyền sử dụng Thẻ tư vấn viên pháp luật, Chứng chỉ hành nghề luật sư trong thời hạn 03 tháng đến 06 tháng, tước quyền sử dụng Thẻ tư vấn viên pháp luật, Chứng chỉ hành nghề luật sư không thời hạn đối với hành vi quy định tại điểm c khoản 2 Điều này và bị tịch thu giấy tờ, Thẻ tư vấn viên pháp luật đã bị sửa chữa, tẩy xoá, bị làm sai lệch nội dung hoặc giấy tờ, Thẻ tư vấn viên pháp luật giả nếu thực hiện hành vi quy định tại điểm a khoản 2 Điều này.

8. Về  Mục 7-Chương II- hành vi vi phạm và hình thức xử phạt trong hoạt động bán đấu giá tài sản:

Nội dung xử phạt vi phạm hành chính đối với những hành vi xâm phạm hoạt động quản lý nhà nước về bán đấu giá tài sản đư��c quy định tại Mục 7 từ Điều 29 đến Điều 32 của Nghị định số 60/2009/NĐ-CP. Hiện nay hoạt động quản lý nhà nước về bán đấu giá tài sản được điều chỉnh bởi Nghị định số 05/2005/NĐ-CP ngày 18/01/2005 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản, đây là căn cứ pháp lý để quy định các hành vi vi phạm trong hoạt động quản lý nhà nước về bán đấu giá tài sản quy định tại Mục này.

Điều 29 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP quy định 2 mức phạt đối với hành vi của cá nhân, tổ chức vi phạm quy định về trình tự, thủ tục bán đấu giá tài sản. So với Điều 25 Nghị định số 76/2006/NĐ-CP quy định 5 hành vi thì Điều 29 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP quy định 11 hành vi trên cơ sở kế thừa và có sửa đổi, bổ sung một số hành vi của cá nhân, tổ chức trong quá trình tham gia thủ tục bán đấu giá. Theo đó, khoản 1 Điều 28 bổ sung thêm 4 hành vi là cản trở, gây khó khăn đối với người đăng ký tham gia đấu giá trong thời gian đăng ký mua tài sản bán đấu giá (điểm c khoản 1); hành vi lập danh sách khống về người đăng ký mua tài sản bán đấu giá (điểm d khoản 1); hành vi không lập biên bản về cuộc bán đấu giá tài sản hoặc không ghi kết quả cuộc bán đấu giá vào sổ đăng ký bán đấu giá tài sản (điểm đ khoản 1) và hành vi không thực hiện việc bảo quản tài sản bán đấu giá theo đúng quy định của pháp luật (điềm e khoản 1) và các hành vi được kế thừa từ Nghị định số 76/2006/NĐ-CP là hành vi không thực hiện hoặc không thực hiện đúng quy định về việc niêm yết, thông báo công khai việc bán đấu giá tài sản, xem tài sản bán đấu giá (điểm a khoản 1) và hành vi gian dối để tham gia hoặc cho phép người khác tham gia cuộc bán đấu giá trái với quy định về người không được tham gia đấu giá (điểm b khoản 1). Khi cá nhân, tổ chức thực hiện những hành vi nêu trên sẽ bị áp dụng mức phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng và bị tịch thu số lợi bất hợp pháp thu được nếu thực hiện tất cả các hành vi đã nêu và ngoài ra còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả huỷ bỏ kết quả bán đấu giá tài sản đối với hành vi quy định tại điểm b, d khoản 1 Điều này.

Một điểm đáng lưu ý trong quá trình tiến hành xử phạt vi phạm hành chính đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm trong quá trình tiến hành bán đấu giá tài sản là hiện nay Chính phủ dự kiến bổ sung biện pháp khắc hậu quả là buộc huỷ bỏ kết quả bán đấu giá tài sản nếu thực hiện hành vi quy định tại điểm a khoản 1 Điều này tại Dự thảo Nghị định của Chính phủ về bán đấu giá tài sản (để thay thế Nghị định số 05/2005/NĐ-CP). Việc quy định nêu trên xuất phát từ thực tiễn thi hành pháp luật về bán đấu giá tài sản đối với những vi phạm liên quan đến việc niêm yết, thông báo công khai việc bán đấu giá tài sản, xem tài sản bán đấu giá xảy ra khá nhiều, đây là nội dung quan trọng để đảm bảo thành công cuộc bán đấu giá. Do vậy, khi tiến hành xử phạt đối với hành vi này cần quan tâm đến biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Dự thảo Nghị định của Chính phủ về bán đấu giá tài sản nếu được ban hành.

Khoản 2 Điều 29 quy định phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi cung cấp thiếu chính xác, thiếu trung thực các thông tin, giấy tờ cần thiết liên quan đến tài sản bán đấu giá (điểm a khoản 2); không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định về xác định giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá (điểm b khoản 2); không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định của pháp luật về giám định tài sản bán đấu giá trong trường hợp tài sản phải được giám định theo quy định của pháp luật (điểm c khoản 2); thu tiền đặt trước của người tham gia đấu giá không theo đúng quy định (điểm d khoản 2) và hành vi không trưng bày hoặc hạn chế xem tài sản bán đấu giá, hồ sơ tài sản bán đấu giá trước ngày mở cuộc bán đấu giá tài sản (điểm đ khoản 2), trong đó hành vi quy định tại điểm d, đ khoản 2 là những hành vi mới được bổ sung vào Nghị định số 60/2009/NĐ-CP so với Nghị định số 76/2006/NĐ-CP. Ngoài bị phạt tiền cá nhân, tổ chức vi phạm còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu số lợi bất hợp pháp thu được nếu thực hiện các hành vi quy định khoản này và bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc huỷ bỏ kết quả bán đấu giá tài sản đối nếu thực hiện hành vi quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều này và bị buộc hoàn trả số tiền đặt trước đối với phần thu vượt quá mức quy định nếu thực hiện hành vi quy định tại điểm d khoản 2 Điều này.

Đối với hành vi vi phạm của người tham gia đấu giá (có thể là cá nhân, tổ chức tham gia đấu giá tài sản) Điều 30 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP chỉ quy định 2 hành vi với 2 mức phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng và từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi gian lận về điều kiện tham gia đấu giá tài sản, trừ hành vi quy định tại điểm b khoản 1 Điều 29 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP (khoản 1 Điều 30) và hành vi của người tham gia đấu giá thông đồng, dìm giá trong quá trình tham gia đấu giá và bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc huỷ bỏ kết quả bán đấu giá tài sản đối với hành vi quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này. So với Nghị định số 76/2006/NĐ-CP thì Nghị định số 60/2009/NĐ-CP về cơ bản vẫn giữ nguyên hành vi và chỉ thay đối về mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 30 theo hướng nâng mức phạt từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng lên đến mức phạt từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi gian lận về điều kiện tham gia đấu giá tài sản, trừ hành vi quy định tại điểm b khoản 1 Điều 29 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP.

Đối với hành vi vi phạm quy định về sử dụng Thẻ đấu giá viên quy định tại Điều 31 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP, so với Nghị định số 76/2006/NĐ-CP các hành vi quy định tại nghị định hiện hành được xây dựng trên cơ sở kế thừa Nghị định cũ, có bổ sung một số nội dung trong hành vi quy định tại điểm a, b khoản 1 để đảm bảo tính toàn diện của hành vi và bổ sung thêm hành vi quy định tại điểm c và d khoản 1 của Điều này, theo đó, Nghị định hiện hành quy định một mức phạt tiền duy nhất là từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với các hành vi của Đấu giá viên cho người khác sử dụng Thẻ đấu giá viên của mình để điều hành cuộc bán đấu giá hoặc sử dụng Thẻ đấu giá viên của mình để điều hành cuộc bán đấu giá tại tổ chức không có chức năng bán đấu giá (điểm a khoản 1); sử dụng Thẻ đấu giá viên của người khác để điều hành cuộc bán đấu giá hoặc không có Thẻ đấu giá viên mà vẫn điều hành cuộc bán đấu giá trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (điểm b khoản 1); làm giả Thẻ đấu giá viên, sử dụng Thẻ đấu giá viên giả; làm giả hoặc sử dụng các giấy tờ giả mạo trong hồ sơ đề nghị cấp Thẻ đấu giá viên (điểm c khoản 1) và hành vi tự ý sửa chữa, tẩy xoá hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung Thẻ đấu giá viên hoặc giấy tờ trong hồ sơ đề nghị cấp Thẻ đấu giá viên (điểm d khoản 1). Ngoài bị phạt tiền như đã nêu ở trên, nếu Đấu giá viên vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 31 sẽ bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tước quyền sử dụng Thẻ đấu giá viên trong thời hạn từ 03 tháng đến 06 tháng. Trường hợp vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều này thì đấu giá viên còn bị tịch thu số lợi bất hợp pháp thu được. Nếu vi phạm quy định tại điểm c, d khoản 1 Điều 31 thì đấu giá viên sẽ bị tịch thu giấy tờ, Thẻ đấu giá viên đã bị sửa chữa, tẩy xoá, bị làm sai lệch nội dung hoặc giấy tờ, Thẻ đấu giá viên giả mạo.

Điều 32 của Nghị định số 60/2009/NĐ-CP quy định về xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định của tổ chức có chức năng bán đấu giá tài sản. Tổ chức có chức năng bán đấu giá theo quy định bao gồm Trung tâm dịch vụ bán đấu giá cấp tỉnh, doanh nghiệp bán đấu giá tài sản và các cơ quan, tổ chức khác không có chức năng bán đấu giá tài sản. So với Nghị định số 76/2006/NĐ-CP thì quy định tại Điều 32  Nghị định số 60/2009/NĐ-CP có một số sửa đổi, bổ sung về hình thức xử phạt chính như bổ sung hình thức xử phạt cảnh cáo đối với các hành vi vi phạm liên quan đến chế độ báo cáo quy định tại khoản 1 Điều này, bổ sung một số hành vi liên quan đến quá trình hoạt động quy định tại điểm a khoản 1, điểm b, c khoản 2 và bổ sung biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm c khoản 3 Điều 32. Tổ chức có chức năng bán đấu giá tài sản vi phạm quy định về bán đấu giá sẽ phải chịu các hình thức xử phạt như sau:

Khoản 1 quy định phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản và doanh nghiệp bán đấu giá tài sản thực hiện chế độ báo cáo, lập, quản lý hoặc sử dụng các loại sổ sách, biểu mẫu không đúng quy định (điểm a khoản 1) và không thông báo cho cơ quan có thẩm quyền nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính về việc đăng ký kinh doanh dịch vụ bán đấu giá tài sản (điểm b khoản 1). Ngoài bị phạt tiền theo quy định nêu trên tổ chức có chức năng bán đấu giá tài sản còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc thực hiện theo đúng quy định đối với hành vi quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều này.

Khoản 2 quy định phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối hành vi của cơ quan, tổ chức không có chức năng bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật mà vẫn tiến hành cuộc bán đấu giá tài sản (điểm a khoản 2); trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản, doanh nghiệp bán đấu giá tài sản không có đấu giá viên mà vẫn tiến hành cuộc bán đấu giá tài sản (điểm b khoản 2); thu các chi phí không đúng quy định của pháp luật (điểm c khoản 2); cho cá nhân, tổ chức khác tiến hành hoạt động bán đấu giá tài sản dưới danh nghĩa của mình (điểm d khoản 2). Ngoài bị phạt tiền, cơ quan, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc trả lại số tiền thu không đúng quy định nếu thực hiện hành vi quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều này và buộc huỷ bỏ kết quả bán đấu giá đối với hành vi quy định tại điểm b khoản 2 Điều này. 

             9. Về Mục 8- Chương II-Hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt trong hoạt động trọng tài thương mại:

Nội dung về hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt trong hoạt động trọng tài thương mại được quy định tại Điều 33 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP về hành vi vi phạm quy định về tổ chức, hoạt động trọng tài của Trung tâm trọng tài và trọng tài viên. Điều 33 gồm 6 khoản, trong đó từ khoản 1 đến khoản 4 quy định các hành vi vi phạm cụ thể và mức xử phạt tương ứng; khoản 5 quy định về hình thức xử phạt bổ sung và khoản 6 là về biện pháp khắc phục hậu quả, cụ thể như sau:

9.1. Về hành vi vi phạm và hình thức xử phạt, mức phạt: 

-Khoản 1 Điều 33 quy định phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi: (a) Không thực hiện chế độ báo cáo, lập, quản lý, sử dụng các loại sổ sách, biểu mẫu theo quy định; (b) không thông báo bằng văn bản việc thay đổi Chủ tịch Trung tâm trọng tài, địa điểm đặt trụ sở hoặc danh sách Trọng tài viên của Trung tâm trọng tài, việc thành lập hoặc chấm dứt hoạt động của Chi nhánh, Văn phòng đại diện với các cơ quan có thẩm quyền trong thời hạn quy định.

-Khoản 2 Điều 33 quy định phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi: (a) Tự ý sửa chữa, tẩy xóa hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung giấy tờ trong hồ sơ đề nghị đăng ký thành lập, hồ sơ đề nghị cấp Giấy đăng ký hoạt động, Giấy phép thành lập, Giấy đăng ký hoạt động; (b) Không đăng báo hoặc đăng báo không đúng, không đầy đủ nội dung, số lần quy định khi thành lập Trung tâm trọng tài hoặc lập Chi nhánh, Văn phòng đại diện của Trung tâm trọng tài; không niêm yết hoặc niêm yết không đầy đủ danh sách Trọng tài viên và các nội dung chủ yếu về Trung tâm trọng tài theo quy định.

-Khoản 3 Điều 33 quy định phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi: (a) Hoạt động không đúng với nội dung ghi trong Giấy phép thành lập Trung tâm trọng tài; sửa đổi, bổ sung Điều lệ của Trung tâm trọng tài mà không được sự phê chuẩn của Bộ Tư pháp; (b) Hoạt động khi chưa được cấp Giấy đăng ký hoạt động hoặc Giấy đăng ký hoạt động đã hết hạn; (c) Cho cá nhân, tổ chức khác sử dụng Giấy đăng ký hoạt động của mình; (d) Không thực hiện các quy định thông báo công khai việc chấm dứt hoạt động và hoàn tất thủ tục chấm dứt hoạt động với các cơ quan có thẩm quyền theo quy định; (đ) Làm giả hoặc sử dụng giấy tờ giả mạo trong hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép thành lập, hồ sơ đề nghị cấp Giấy đăng ký thay đổi nội dung hoạt động, Giấy phép thành lập, Giấy đăng ký hoạt động của Trung tâm trọng tài; (e) Không đăng ký việc thay đổi nội dung Giấy phép thành lập tại Sở Tư pháp nơi Trung tâm trọng tài đăng ký hoạt động đúng thời hạn quy định; (g) Không xây dựng quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài hoặc nội dung quy tắc tố tụng của Trung tâm trái với quy định của pháp luật; (h) Không thực hiện đúng chế độ lưu trữ hồ sơ trọng tài; (i) Không cung cấp bản sao quyết định trọng tài theo yêu cầu của các bên tranh chấp hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền; (k) Không xóa tên Trọng tài viên trong danh sách Trọng tài viên của Trung tâm trọng tài khi Trọng tài viên vi phạm nghiêm trọng Điều lệ của Trung tâm trọng tài, quy định của pháp luật.

- Khoản 4 Điều 33 quy định phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi: (a) Tiết lộ thông tin bí mật liên quan đến nội dung vụ tranh chấp mà Trọng tài viên giải quyết gây thiệt hại cho các bên tham gia tố tụng; (b) Ép buộc khách hàng đưa thêm tiền hoặc lợi ích vật chất khác ngoài khoản phí theo quy định; (c) Không đủ điều kiện thực hiện hoạt động trọng tài theo quy định của pháp luật mà hoạt động dưới bất kỳ hình thức nào.

Như vậy, Nghị định số 60/2009/NĐ-CP quy định 14 hành vi vi phạm trong hoạt động trọng tài thương mại, nhiều hơn 8 hành vi so với Nghị định số 76/2006/NĐ-CP, bao gồm cả một số hành vi mới và các hành vi được sửa đổi, bổ sung. Cụ thể, các hành vi mới được quy định tại điểm a, b khoản 1, điểm b khoản 2, điểm b, c, e, g, h, i, k khoản 3, điểm b, c khoản 4 của Điều 33. Đối với các hành vi quy định tại điểm a khoản 2, điểm đ khoản 3 Điều 33 , Nghị định số 60/2009/NĐ-CP giữ nguyên nội dung và mức phạt tối đa như Nghị định số 76/2006/NĐ-CP, tuy nhiên quy định nâng mức phạt tối thiểu từ một triệu đồng lên hai triệu đồng để đảm bảo phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội. Còn lại các hành vi quy định tại điểm a khoản 2, điểm �� khoản 3 Điều 33 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP là các hành vi được cụ thể hóa từ hành vi có hành vi gian dối làm sai lệch hồ sơ thành lập Trung tâm trọng tài được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 29 Nghị định số 76/2006/NĐ-CP.

9.2 Về các hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả:

Hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả được quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều 33 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP, cụ thể như sau:

- Khoản 5 về hình thức xử phạt bổ sung: (a) Tịch thu giấy tờ đã bị sửa chữa, tẩy xóa, bị làm sai lệch nội dung hoặc giấy tờ giả mạo đối với hành vi quy định tại điểm a khoản 2, điểm đ khoản 3 Điều 33; (b) Tước quyền sử dụng Giấy phép thành lập, Giấy đăng ký hoạt động của Trung tâm trọng tài từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi quy định tại điểm a khoản 3 Điều 33; Tước quyền sử dụng Thẻ trọng tài viên từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi quy định tại điểm c khoản 3 Điều 33.

- Biện pháp khắc phục hậu quả: (a) Buộc thực hiện đúng quy định của pháp luật đối với các hành vi quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2, điểm d, e, g, h, i, k khoản 3 Điều 33; (b) Buộc thu hồi số lợi bất hợp pháp đối với hành vi quy định tại điểm b khoản 4 Điều 33.

Như vậy, Nghị định số 60/2009/NĐ-CP quy định hình thức xử phạt bổ sung mới so với Nghị định số 76/2006/NĐ-CP là tước quyền sử dụng Thẻ trọng tài viên từ 03 tháng đến 06 tháng tại điểm b khoản 5 Điều 33 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP. Về biện pháp khắc phục hậu quả, Nghị định số 76/2006/NĐ-CP bổ sung biện pháp buộc thu hồi số lợi bất hợp pháp đối với hành vi ép buộc khách hàng đưa thêm tiền hoặc lợi ích vật chất khác ngoài khoản phí theo quy định.

10. Về Mục 9 - Chương II - Hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

1.1.      Cơ sở pháp lý để quy định các hành vi VPHC tại Mục này là Quyết định số 210/1999/QĐ-BTP ngày 09/7/1999 về việc ban hành Quy chế báo cáo viên pháp luật; Pháp lệnh về tổ chức và hòa giải ở cơ sở năm 1998 và Nghị định số 160/1990/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở.

Tuy nhiên, các quy định về hòa giải ở cơ sở được quy định tại Pháp lệnh về tổ chức và hòa giải ở cơ sở năm 1998 và Nghị định số 160/1990/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở nói trên chỉ là các quy định không trực tiếp về mô hình và trên cơ sở đó việc xác định trách nhiệm cũng mới dừng lại ở việc vận dụng các quy định nói trên. Chính vì vậy, Pháp lệnh về tổ chức và hòa giải ở cơ sở năm 1998 không được nêu là căn cứ pháp lý ban hành Nghị định số 60/2009/NĐ-CP.

1.2.      Nội dung cụ thể của Mục này:

Mặc dù các hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật chỉ được quy định tại 01điều của Nghị định số 60/2009/NĐ-CP nhưng nhóm hành vi vi phạm hành chính này đã được tách riêng với các hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động trợ giúp pháp lý để thành một mục riêng là Mục 9 Chương II. So với Nghị định số 76/2006/NĐ-CP thì có một số điểm mới như sau:

a) Bổ sung đối tượng xử phạt:

Ngoài các đối tượng bị xử phạt được quy định tại Nghị định số 76/2006/NĐ-CP là báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, Trên cơ sở quy định của Pháp lệnh về tổ chức và hòa giải ở cơ sở năm 1998, Nghị định số 160/1990/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở và một số văn bản hướng dẫn thi hành khác thì đối tượng hòa giải viên đã được bổ sung tại khoản 1 Điều 34 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP với hành vi thực hiện các hoạt động không thuộc nhiệm vụ được giao nhằm mục đích vụ lợi.

Tuy vậy, trên cơ sở các quy định về nhiệm vụ của báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, hòa giải viên, Nghị định chỉ quy định hành vi vi phạm của báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật lợi dụng hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật để kích động, gây phương hại đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, truyền thống văn hoá, đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Đối tượng hòa giải viên chưa quy định hành vi vi phạm này vì trách nhiệm pháp lý của họ chưa được xác định rõ ràng.

b) Bổ sung hình thức xử phạt bổ sung:

Nghị định số 60/2009/NĐ-CP quy định thêm một số hình thức xử phạt bổ sung như hình thức xử phạt bổ sung tước quyền Thẻ tuyên truyền viên pháp luật (tại khoản 3 Điều 34 Nghị định).

Bên cạnh đó, việc tước quyền sử dụng Thẻ báo cáo viên pháp luật, Thẻ tuyên truyền viên pháp luật không thời hạn không được áp dụng một cách chung chung đối với các trường hợp vi phạm nghiêm trọng quy định sử dụng chứng chỉ hành nghề hoặc tái phạm mà đã được xác định cụ thể chỉ áp dụng đối với các hành vi lợi dụng hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật để kích động, gây phương hại đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, truyền thống văn hoá, đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 34.

11. Về Mục 10-Chương II-Hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt trong hoạt động trợ giúp pháp lý

          11.1. Cơ  sở pháp lý để quy định các hành vi VPHC tại Mục này là Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 và Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý.

11.2. Nội dung cụ thể của Mục này: Việc xử phạt vi phạm hành chính của Nghị định số 60/2009/NĐ-CP đã có sự bổ sung, hoàn thiện khá nhiều cả về nội dung và bố cục. Trước hết là việc các hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động trợ giúp pháp lý đã được tách khỏi nhóm hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật để thành một Mục riêng với số lượng 3 điều từ Điều 35 đến Điều 37 so với 1 điều của Nghị định số 76/2006/NĐ-CP. Nội dung sửa đổi, bổ sung được cụ thể như sau:

a) Bổ sung và chỉnh lý quy định về đối tượng xử phạt:

- Nghị định số 60/2009/NĐ-CP đã bổ sung Điều 35 quy định xử phạt đối với đối tượng là người được trợ giúp pháp lý. So với các đối tượng vi phạm hành chính trong hoạt động trợ giúp pháp lý khác, đối tượng là người được trợ giúp pháp lý bị áp dụng mức xử phạt cảnh cáo và phạt tiền thấp hơn trừ trường hợp đối tượng không phải là người đủ điều kiện để được trợ giúp pháp lý nhưng có hành vi làm giả hoặc sử dụng các giấy tờ giả mạo để đủ điều kiện làm người được trợ giúp pháp lý.

- Chỉnh lý quy định người bị xử phạt là cộng tác viên trợ giúp pháp lý vì theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý, khái niệm người thực hiện trợ giúp pháp lý đã bao hàm cả đối tượng trên nên đều bị xử phạt theo quy định tại Điều 36.

- Quy định mới đã tách riêng các đối tượng bị xử phạt là người thực hiện trợ giúp pháp lý với tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và tổ chức, cá nhân khác có liên quan  thành 2 điều khác nhau với hành vi vi phạm và mức phạt tiền khác nhau phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi vi phạm.

- Bổ sung các đối tượng bị xử phạt là cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan tại Điều 37.

b) Bổ sung một số hành vi vi phạm hành chính:

Trên cơ sở có sự bổ sung và điều chỉnh đối với các đối tượng bị xử phạt, Nghị định số 60/2009/NĐ-CP đã bổ sung các hành vi vi phạm mới, cụ thể là:

- Hành vi vi phạm của người được trợ giúp pháp lý bao gồm các hành vi cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ sai sự thật về vụ việc trợ giúp pháp lý gây hậu quả nghiêm trọng; tự ý sửa chữa, tẩy xoá hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung giấy tờ để đủ điều kiện làm người được trợ giúp pháp lý.

- Các hành vi vi phạm của người thực hiện trợ giúp pháp lý được bổ sung đầy đủ hơn, cụ thể:

+ Tự ý sửa chữa, tẩy xoá hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung giấy tờ để đủ điều kiện làm người thực hiện trợ giúp pháp lý (điểm d khoản 1 Điều 36).

+ Không từ chối hoặc tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý đối với các trường hợp mà pháp luật quy định phải từ chối hoặc không được tiếp tục thực hiện trợ giúp pháp lý (điểm c khoản 2 Điều 36);

+ Lợi dụng hoạt động trợ giúp pháp lý gây mất trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân (điểm d khoản 2 Điều 36);

+ Thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý cho hai người được trợ giúp pháp lý trở lên có quyền lợi đối lập nhau trong cùng vụ việc trừ trường hợp hoà giải, giải đáp pháp luật (điểm đ khoản 2 Điều 36);

+ Làm giả hoặc sử d��ng các giấy tờ giả mạo để đủ điều kiện làm người thực hiện trợ giúp pháp lý, cộng tác viên trợ giúp pháp lý (điểm e khoản 2 Điều 36);

+ Sách nhiễu, chậm trễ, gây khó khăn cho người được trợ giúp pháp lý hoặc kéo dài thời gian thực hiện trợ giúp pháp lý (điểm g khoản 2 Điều 36);

+ Hứa hẹn trước về kết quả giải quyết vụ việc hoặc có hành vi làm ảnh hưởng đến yêu cầu và chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý (điểm h khoản 2 Điều 36);

+ Không đủ điều kiện thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật mà thực hiện trợ giúp pháp lý dưới bất kỳ hình thức nào (điểm i khoản 2 Điều 36);

- Hành vi vi phạm của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan:

+ Không thực hiện việc báo cáo, lập, quản lý, sử dụng các loại sổ sách, biểu mẫu theo quy định (điểm a khoản 1 Điều 37);

+ Không thực hiện việc thông báo theo quy định khi chấm dứt hoạt động (điểm b khoản 1 Điều 37);

+ Tự ý sửa chữa, tẩy xoá hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung giấy tờ trong hồ sơ đề nghị đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý, hồ sơ đề nghị thay đổi nội dung đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý, Giấy đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý (điểm c khoản 1 Điều 37);

+ Không thực hiện trợ giúp pháp lý cho đối tượng và vụ việc thuộc phạm vi, hình thức, lĩnh vực pháp luật ghi trong Giấy đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý khi được yêu cầu (điểm b khoản 2 Điều 37);

+ Thực hiện trợ giúp pháp lý không đúng nội dung đăng ký hoạt động hoặc đã bị thu hồi Giấy đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý (điểm c khoản 2 Điều 37);

+ Thực hiện trợ giúp pháp lý mà không đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý theo quy định hoặc không đăng ký việc thay đổi nội dung Giấy đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý (điểm d khoản 2 Điều 37);

+ Không chuyển hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý đang trợ giúp đến Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước ở địa phương nơi đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý trong trường hợp chấm dứt hoạt động (điểm đ khoản 2 Điều 37);

+ Làm giả hoặc sử dụng giấy tờ giả mạo trong hồ sơ đề nghị đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý, hồ sơ đề nghị thay đổi nội dung đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý, Giấy đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý (điểm e khoản 2 Điều 37);

+ Lợi dụng sinh hoạt câu lạc bộ trợ giúp pháp lý để kích động, gây chia rẽ đoàn kết cộng đồng, gây mất trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc; xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức (điểm g khoản 2 Điều 37);

+ Cố ý cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ sai sự thật về vụ việc trợ giúp pháp lý (điểm h khoản 2 Điều 37);

+ Lợi dụng hoạt động trợ giúp pháp lý gây mất trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân (điểm i khoản 2 Điều 37).

c) Nâng mức phạt tiền áp dụng đối với các hành vi trong Nghị định số 60/2009/NĐ-CP cao hơn so với Nghị định số 76/2006/NĐ-CP:

Hầu hết các hành vi vi phạm của người thực hiện trợ giúp pháp lý bị áp dụng mức xử phạt tiền cao hơn như: hành vi của người thực hiện trợ giúp pháp lý dùng Thẻ Cộng tác viên trợ giúp pháp lý, Thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc lợi dụng danh nghĩa cộng tác viên trợ giúp pháp lý để thực hiện các hoạt động không thuộc nhiệm vụ được giao nhằm mục đích vụ lợi bị xử phạt từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng thay vì từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng…

d) Bổ sung hình thức xử phạt bổ sung:

Để bảo đảm việc xử lý các hành vi vi phạm có tính khả thi, phù hợp với thực tiễn, một số hình thức xử phạt bổ sung đã được quy định thêm, cụ thể:

- Hình thức xử phạt bổ sung tước quyền sử dụng Thẻ trợ giúp viên pháp lý có thời hạn từ 03 tháng đến 06 tháng (điểm a khoản 3 Điều 36).

- Tịch thu giấy tờ đã bị sửa chữa, tẩy xoá, bị làm sai lệch nội dung hoặc giấy tờ giả mạo (điểm b khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 3 Điều 37).

12. Về Mục 11- Chương II- Hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt trong hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm

Nội dung xử phạt vi phạm hành chính đối với những hành vi xâm phạm hoạt động quản lý nhà nước về đăng ký giao dịch bảo đảm được quy định tại Mục 11 gồm 02 điều: từ Điều 38 đến Điều 39 của Nghị định số 60/2009/NĐ-CP. Hiện nay hoạt động quản lý nhà nước trong hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm được điều chỉnh bởi Nghị định số 08/2000/NĐ-CP ngày 10/3/2000 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm, đây là căn cứ pháp lý để quy định các hành vi vi phạm trong hoạt động quản lý nhà nước về đăng ký giao dịch bảo đảm quy định tại Mục này.

Nhìn chung, nội dung quy định về hành vi vi phạm, hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Mục này hầu như không có sửa đổi, bổ sung nhiều. Việc sửa đổi, bổ sung nội dung quy định tại Mục này được tiến hành trên cơ sở giải quyết những vướng mắc từ thực tiễn thi hành và đảm bảo thống nhất với các quy định hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước có liên quan, cụ thể, Điều 38 quy định các hành vi vi phạm quy định trong đăng ký giao dịch bảo đảm b sung một s nội dung v hành vi vi phạm và hình thức x pht b sung và biện pháp khắc phục hậu qu; Điều 39 sửa đổi nội dung việc xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính trong việc khai thác thông tin về đăng ký giao dịch bảo đảm trong cơ sở dữ liệu điện tử được viện dẫn tới áp dụng theo quy định tại Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Theo đó, cá nhân, tổ chức vi phạm quy định trong hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm nếu thực hiện hành vi vi phạm sẽ bị xử phạt như sau:

Điều 38 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi tự ý sửa chữa, tẩy xoá hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung các loại giấy chứng nhận, văn bản cung cấp thông tin do cơ quan đăng ký cấp, đơn yêu cầu đã có chứng nhận của cơ quan đăng ký (khoản 1 Điều 38). Khoản 2 quy định phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi giả mạo chữ ký của người có quyền yêu cầu đăng ký trong đơn yêu cầu đăng ký hoặc văn bản thông báo; làm giả hoặc sử dụng giấy tờ giả mạo trong hồ sơ đăng ký giao dịch bảo đảm và khoản 3 quy định phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi làm giả hoặc sử dụng các giấy tờ giả mạo là giấy chứng nhận hoặc văn bản cung cấp thông tin do cơ quan đăng ký cấp, đơn yêu cầu có chứng nhận của cơ quan đăng ký. Ngoài bị phạt tiền theo nội dung đã nêu trên, cá nhân, tổ chức nếu thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 thì bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu giấy tờ đã bị sửa chữa, tẩy xoá, bị làm sai lệch nội dung hoặc giấy tờ giả mạo và bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là đề nghị cơ quan có thẩm quyền huỷ đăng ký về đăng ký giao dịch bảo đảm nếu thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 1, 2, 3 Điều này.

Đối với vi phạm quy định về khai thác thông tin trong cơ sở dữ liệu điện tử về giao dịch bảo đảm quy định. Điều 39 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP quy định việc xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính trong việc khai thác thông tin về đăng ký giao dịch bảo đảm trong cơ sở dữ liệu điện tử được áp dụng theo quy định tại Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghệ thông tin. So với Nghị định số 76/2006/NĐ-CP thì Điều 39 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP đã bỏ các hành vi vi phạm như hành vi khai thác trái phép thông tin trong sổ đăng ký; hành vi tẩy xoá hoặc sửa chữa làm sai lệch hoặc huỷ hoại các thông tin được lưu giữ trong sổ đăng ký và các hành vi khác vi phạm quy định về khai thác thông tin trong sổ đăng ký vì quy định như Điều 20 Nghị định số 76/2006/NĐ-CP chưa đảm bảo bao quát được các hành vi liên quan trong lĩnh vực công nghệ thông tin.

13. Về Mục 12-Chương II-Hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt trong hoạt động cho, nhận, nuôi con nuôi

Nội dung về hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt trong hoạt động cho, nhận, nuôi con nuôi được quy định tại Điều 40 và Điều 41 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP. Điều 40 về hành vi vi phạm quy định về nuôi con nuôi của cá nhân gồm 6 khoản, trong đó từ khoản 1 đến khoản 4 quy định các hành vi vi phạm cụ thể và mức xử phạt tương ứng; khoản 5 quy định về hình thức xử phạt bổ sung và khoản 6 là về biện pháp khắc phục hậu quả. Điều 41 về hành vi vi phạm quy định về nuôi con nuôi của Văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam gồm 7 khoản trong đó từ khoản 1 đến khoản 5 quy định các hành vi vi phạm cụ thể và mức xử phạt tương ứng; khoản 6 quy định về hình thức xử phạt bổ sung và khoản 7 là về biện pháp khắc phục hậu quả, cụ thể như sau:

          13.1. Về hành vi vi phạm quy định về nuôi con nuôi của cá nhân, Điều 40 của Nghị định 60/2009/NĐ-CP quy định cụ thể như sau:

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng đối với hành vi cho hoặc nhận con nuôi mà không làm thủ tục đăng ký theo quy định của pháp luật.

2. Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Thực hiện việc cho, nhận con nuôi khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có văn bản không chấp nhận việc cho hoặc nhận con nuôi;

b) Tự ý sửa chữa, tẩy xóa hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung giấy tờ để làm thủ tục đăng ký cho, nhận con nuôi.

3. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Khai báo gian dối để đăng ký việc cho, nhận con nuôi;

b) Làm giả hoặc sử dụng các giấy tờ giả mạo để làm thủ tục đăng ký cho, nhận con nuôi.

4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Dụ dỗ, mua chuộc, ép buộc, đe dọa để có được sự đồng ý của người có quyền đồng ý cho trẻ em làm con nuôi;

b) Lợi dụng việc cho, nhận hoặc giới thiệu trẻ em làm con nuôi nhằm mục đích vụ lợi;

c) Làm dịch vụ môi giới cho hoặc nhận con nuôi trái pháp luật.

5. Hình thức xử phạt bổ sung:

a) Tịch thu giấy tờ đã bị sửa chữa, tẩy xóa, bị làm sai lệch nội dung hoặc giấy tờ giả mạo đối với hành vi quy định tại điểm b khoản 2, điểm b khoản 3 Điều này;

b) Tịch thu số lợi bất hợp pháp thu được đối với hành vi quy định tại khoản 4 Điều này.

6. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Hủy bỏ hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ quyết định nuôi con nuôi đối với hành vi quy định tại điểm a khoản 3, điểm a, b khoản 4 Điều này;

b) Buộc thực hiện theo đúng quy định của pháp luật đối với hành vi quy định tại khoản 1, điểm a khoản 2 Điều này.

Như vậy, đối chiếu với Nghị định số 76/2006/NĐ-CP thấy rằng, nội dung Điều 40 của Nghị định số 60/2009/NĐ-CP không có sự thay đổi nhiều so với Nghị định số 76/2006/NĐ-CP, chỉ bổ sung một khung phạt từ 05  triệu đồng đến 10 triệu đồng đối với thay đổi tăng mức phạt đối với hành vi  dụ dỗ, mua chuộc, ép buộc, đe dọa để có được sự đồng ý của người có quyền đồng ý cho trẻ em làm con nuôi, hành vi lợi dụng việc cho, nhận hoặc giới thiệu trẻ em làm con nuôi nhằm mục đích vụ lợi và làm dịch vụ môi giới cho hoặc nhận con nuôi trái pháp luật. Các khoản 1, khoản 2 và khoản 3 về cơ bản giữ nguyên quy định về hành vi vi phạm và mức phạt tương ứng từ 50 nghìn đồng đến 3 triệu đồng.

 13.2. Về hành vi vi phạm quy định về nuôi con nuôi của Văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam, Điều 41 của Nghị định số 60/2009/NĐ-CP quy định cụ thể như sau:

 1. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với các Văn phòng con nuôi nước ngoài thực hiện một trong các hành vi sau:

a) Không thực hiện chế độ báo cáo; không lập, quản lý, sử dụng các loại sổ sách, biểu mẫu theo quy định;

b) Tự ý sửa chữa hoặc tẩy xóa làm sai lệch nội dung trong hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép thành lập;

c) Không thông báo bằng văn bản cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong thời hạn quy định về việc chấm dứt hợp đồng.

2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với các Văn phòng con nuôi nước ngoài thực hiện một trong các hành vi sau:

a) Thay đổi trụ sở, người đứng đầu của Văn phòng nuôi con nuôi nước ngoài tại Việt Nam mà chưa được phép của cơ quan có thẩm quyền;

b) Không tuân thủ đầy đủ các quy định về thủ tục cho hoặc nhận con nuôi.

3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với Văn phòng con nuôi nước ngoài thực hiện một trong các hành vi sau:

a) Làm giả hoặc sử dụng các giấy tờ giả mạo trong hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép thành lập;

b) Làm giả Giấy phép hoạt động hoặc sử dụng Giấy phép hoạt động giả;

c) Hoạt động không đúng phạm vi, nội dung và địa bàn hoạt động ghi trong Giấy phép;

d) Trực tiếp giới thiệu trẻ em làm con nuôi trái pháp luật;

đ) Cho cá nhân, tổ chức khác sử dụng Giấy phép thành lập của mình.

4. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Thực hiện hoạt động khi Giấy phép đã hết hạn hoặc chưa được cấp Giấy phép đã hoạt động;

b) Không đủ điều kiện hoạt động trong lĩnh vực nuôi con nuôi tại Việt Nam theo quy định của pháp luật mà hoạt động dưới bất kỳ hình thức nào.

5. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng hoạt động xin nhận con nuôi nhằm bóc lột sức lao động đối với trẻ em hoặc vì mục đích trục lợi khác.

6. Hình thức xử phạt bổ sung:

a) Tịch thu giấy tờ đã bị sửa chữa, tẩy xóa, bị làm sai lệch nội dung hoặc giấy tờ giả mạo đối với hành vi quy định tại điểm b khoản 1, điểm a, b khoản 3 Điều này;

b) Tước quyền sử dụng Giấy phép thành lập từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi quy định tại điểm a khoản 2, điểm c, d, đ khoản 3 Điều này. Tước quyền sử dụng Giấy phép thành lập không thời hạn đối với hành vi quy định tại khoản 5 Điều này;

c) Tịch thu số lợi bất hợp pháp thu được đối với hành vi quy định tại khoản 5 Điều này.

7. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc thực hiện đúng quy định của pháp luật đối với hành vi quy định tại điểm a, c khoản 1, điểm b khoản 2 Điều này.

Trên cơ sở các quy định nêu trên của Nghị định số 60/2009/NĐ-CP, đối chiếu với Nghị định số 76/2006/NĐ-CP thấy rằng mức phạt tối thiểu đối với hành vi vi phạm uy định về nuôi con nuôi của Văn phòng con nuôi nước ngoài tại điều 41 đã quy định giảm từ 05 triệu đồng xuống còn 02 triệu đồng. Tuy nhiên, Điều 41 đã sửa đổi, bổ sung từ ba khung phạt thành năm khung phạt với mức phạt tối đa đến 30 triệu đồng so với mức phạt tối đa là 2 triệu đồng trước đó. Đối với nội dung các hành vi, Điều 41 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP về cơ bản giữ nguyên như Nghị định số 76/2006/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung một số hành vi như hành vi Không thực hiện chế độ báo cáo; không lập, quản lý, sử dụng các loại sổ sách, biểu mẫu theo quy định tại điểm a khoản 1, hành vi thay đổi trụ sở, người đứng đầu của Văn phòng nuôi con nuôi nước ngoài tại Việt Nam mà chưa được phép của cơ quan có thẩm quyền tại điểm a khoản 2, hành vi lợi dụng hoạt động xin nhận con nuôi nhằm bóc lột sức lao động đối với trẻ em hoặc vì mục đích trục lợi khác tại khoản 5. Bên cạnh đó, Nghị định số 76/2006/NĐ-CP quy định một số hành vi mới như không thông báo bằng văn bản cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong thời hạn quy định về việc chấm dứt hợp đồng tại điểm c khoản 1, làm giả Giấy phép hoạt động hoặc sử dụng Giấy phép hoạt động giả tại điểm b khoản 3, trực tiếp giới thiệu trẻ em làm con nuôi trái pháp luật tai điểm d khoản 3, cho cá nhân, tổ chức khác sử dụng Giấy phép thành lập của mình tại điểm đ khoản 3, không đủ điều kiện hoạt động trong lĩnh vực nuôi con nuôi tại Việt Nam theo quy định của pháp luật mà hoạt động dưới bất kỳ hình thức nào tại điểm b khoản 4. Trong các hành vi mới sửa đổi, bổ sung nêu trên, hành vi lợi dụng hoạt động xin nhận con nuôi nhằm bóc lột sức lao động đối với trẻ em hoặc vì mục đích trục lợi khác sẽ bị áp dụng mức phạt cao nhất, cụ thể là mức phạt tối đa đối với hành vi này lên tới 30 triệu đồng, tăng 10 triệu đồng so với mức phạt quy định tại Nghị định số 76/2006/NĐ-CP.

Về các hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả, Nghị định số 60/2009/NĐ-CP bổ sung hình thức tịch thu giấy tờ đã bị sửa chữa, tẩy xóa, bị làm sai lệch nội dung hoặc giấy tờ giả mạo đối với hành vi quy định tại điểm b khoản 1, điểm a, b khoản 3 Điều này tại điểm a khoản 6 để tương ứng với việc bổ sung hành vi vi phạm mới trong các khoản đã quy định ở trên đồng thời tách biện pháp khắc phục hậu quả thành một khoản riêng  tại Điều 41.

14. Về Mục 13- Chương II-Hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt trong hoạt động hợp tác quốc tế về pháp luật

Mục 13 của Chương II  Nghị định số 60/2009/NĐ-CP là mục mới được bổ sung so với Nghị định số 76/2007/NĐ-CP, gồm 01 điều quy định hành vi vi phạm quy định hợp tác quốc tế  về  pháp  luật  của cơ quan Trung ương của các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp (sau đây gọi là cơ quan chủ quản) và các đơn vị trực thuộc các cơ quan chủ quản (Điều 42). Việc bổ sung quy định này nhằm góp phần thực hiện chương trình, kế hoạch, dự án hợp tác với nước ngoài về pháp luật có hiệu quả, tranh thủ được các nguồn lực tài trợ của nước ngoài trong việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật. Nội dung cụ thể của Điều 42 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP như sau:

“1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi không báo cáo về tình hình thực hiện hoạt động hợp tác quốc tế về pháp luật và dự kiến thực hiện chương trình, dự án hợp tác cho thời kỳ tiếp theo quy định của pháp luật.

2. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi (a) không tiến hành theo dõi, đánh giá chương trình, dự án trong quá trình thực hiện theo đúng quy định của pháp luật; (b) không tuân thủ quy định về thẩm định, phê duyệt đối với các chương trình, dự án hợp tác thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ hoặc chương trình, dự án hợp tác có sửa đổi, bổ sung điều chỉnh dẫn đến thay đổi mục tiêu của chương trình, dự án hợp tác đó.

3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi (a) tự ý triển khai thực hiện hoặc cho phép thực hiện chương trình, kế hoạch, dự án khi không có văn bản ký kết hoặc có văn bản ký kết nhưng chưa có hiệu lực pháp luật; (b) đơn vị trực thuộc cơ quan chủ quản tiến hành các hoạt động hợp tác với nước ngoài về pháp luật không thông qua cơ quan chủ quản của mình; (c) tự ý đình chỉ, tạm đình chỉ, hủy bỏ chương trình, kế hoạch, dự án hợp tác nước ngoài về pháp luật mà không có quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.”

Ngoài việc phạt tiền, cá nhân, tổ chức vi phạm còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả hủy bỏ chương trình, kế hoạch, dự án đối với hành vi quy định tại điểm b khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 42 và biện pháp buộc thực hiện đúng quy định của pháp luật đối với hành vi quy định tại khoản 1, điểm a khoản 2, điểm c khoản 3 Điều 42.

15. Về Mục 14 - Chương II - Hành vi vi phạm hành chính khác và hình thức xử phạt

Điều 43 quy định hành vi vi phạm quy định về kế toán, thống kê, phí và lệ phí được quy định cụ thể: “Việc xử phạt các hành vi vi phạm hành chính về kế toán, thống kê, phí và lệ phí trong lĩnh vực tư pháp được áp dụng theo quy định tại các nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, lĩnh vực thống kê, lĩnh vực phí và lệ phí”. Nội dung Điều này được quy định bổ sung thêm việc xử phạt các hành vi vi phạm hành chính về kế toán, thống kê  trong lĩnh vực tư pháp để khắc phục một số khó khăn, phù hợp với thực tế. Các quy định về kế toán; thống kê; phí, lệ phí trong các Nghị định số 14/2005/NĐ-CP ngày 04/02/2005 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê; Nghị định số 106/2003/NĐ-CP ngày 23/9/2003 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phí, lệ phí và Nghị định số 185/2004/NĐ-CP ngày 04/11/2004 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán được quy định cụ thể, rõ ràng về hành vi vi phạm, mức phạt tiền, thẩm quyền xử phạt. Vì vậy, các quy định về hành vi vi phạm và mức xử phạt về kế toán, thống kê, phí và lệ phí được Nghị định này quy định áp dụng theo các Nghị định xử phạt vi phạm hành chính nói trên của Chính phủ để thống nhất, đồng bộ.

 Điều 44. Hành vi đưa hối lộ, gây rối hoặc cản trở người thi hành công vụ trong lĩnh vực tư pháp, cụ thể khoản 1 quy định “Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi đưa tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác để được làm thủ tục theo quy định trong lĩnh vực tư pháp hoặc để trốn tránh việc xử phạt vi phạm hành chính nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”. Nội dung quy định của khoản 1 Điều này quy định xuyên suốt Chương II (từ Mục 1 đến Mục 13) các hành vi đưa tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất để được làm thủ tục theo quy định trong lĩnh vực tư pháp hoặc để trốn tránh việc xử phạt vi phạm hành chính nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong các hoạt động về thi hành án dân sự, chứng thực, quản lý hộ tịch, quốc tịch, lý lịch tư pháp, công chứng, giám định tư pháp, hành nghề luật sư và tư vấn pháp luật, bán đấu giá tài sản, trọng tài thương mại... các hành vi đưa tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất để được làm thủ tục theo quy định trong lĩnh vực tư pháp  có thể và đã xảy ra. Vì vậy, trong các hoạt động thuộc lĩnh vực tư pháp  Nghị định số 60/2009/NĐ-CP quy định chung thành một khoản  Việc xử phạt đối với cá nhân có hành vi cản trở, không chấp hành yêu cầu của người thi hành công vụ; có lời nói, hành động lăng mạ, xúc phạm danh dự người thi hành công vụ hoặc chống lại người thi hành công vụ; xúi giục người khác không chấp hành yêu cầu của người thi hành công vụ; gây rối, làm mất trật tự hoặc hoặc lôi kéo, kích động người khác gây rối, làm mất trật tự công cộng hoặc có hành vi gây rối hoặc cản trở khác gây trở ngại cho các hoạt động trong lĩnh vực tư pháp được áp dụng theo quy định tại Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội”. Nội dung của Điều này không bổ sung, sửa đổi mà cơ bản vẫn kế thừa Nghị định số 76/2006/NĐ-CP vì trong quá trình thực tiễn thi hành chưa có vướng mắc.  Ngoài ra, Khoản 3 Điều này quy định cụ thể trong trường hợp nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất để làm thủ tục theo quy định trong lĩnh vực tư pháp hoặc để trốn tránh việc xử phạt vi phạm hành chính nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự của cá nhân, tổ chức thì ngoài việc bị xử phạt tiền còn phải chịu thêm hình thức xử phạt bổ sung “Tịch thu số tiền, tài sản hoặc vật chất dùng để hối lộ đối với hành vi quy định tại khoản 1 Điều này”./.

16. Chương III - Về thẩm quyền xử phạt

Hình thức được xử phạt, các chức danh có thẩm quyền xử phạt trong lĩnh vực tư pháp được qui định tại Nghị định số 60/2009/NĐ-CP đều căn cứ vào Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính hiện hành. Đó là các chức danh như Chủ tịch Ủy ban nhân các cấp với vai trò lãnh đạo, quản lý mọi hoạt động quản lý nhà nước trên phạm vi lãnh thổ; tiếp đó là một số chức danh thuộc các lực lượng chuyên trách như thanh tra tư pháp, chấp hành viên thi hành án dân sự và người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài đối với một số vụ việc như khai sinh, khai tử, đăng kí kết hôn,vv...Sau đây là thẩm quyền cụ thể của các chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp:

16.1. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp

     - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn có quyền:

         a) Phạt cảnh cáo;

         b) Phạt tiền đến 2.000.000 đồng

         c) Tịch thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị đến 2.000.000 đồng;

         d) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả qui định tại Chương II Nghị định này.

       - Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có quyền:

           a) Phạt cảnh cáo;

           b) Phạt tiền đến 30.000.000 đồng;

           c) Tịch thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính;

           d) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thẩm quyền;

           đ) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả qui định tại Chương II Nghị định này.

         - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quyền:

            a) Phạt cảnh cáo;

            b) Phạt tiền đến mức tối đa qui định tại Nghị định này;

            c) Tịch thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính;

            d) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thẩm quyền;

            đ) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả qui định tại Chương II Nghị định này.

16.2. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của cơ quan thanh tra chuyên ngành Tư pháp

- Thanh tra viên chuyên ngành Tư pháp đang thi hành công vụ có quyền:

      a) Phạt cảnh cáo;

      b) Phạt tiền đến 500.000 đồng;

      c) Tịch thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị đến 2.000.000 đồng;

      d) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả qui định tại Chương II Nghị định này.

- Chánh thanh tra Sở tư pháp có quyền:

      a) Phạt cảnh cáo;

      b) Phạt tiền đến 30.000.000 đồng;

      c) Tịch thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính;

      d) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thẩm quyền;

      đ) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả qui định tại Chương II Nghị định này.

- Chánh thanh tra Bộ Tư pháp có quyền:

      a) Phạt cảnh cáo;

      b) Phạt tiền đến mức tối đa qui định tại Nghị định này;

      c) Tịch thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính;

      d) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thẩm quyền;

      đ) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả qui định tại Chương II Nghị định này.

  16.3.Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của cơ quan thi hành án dân sự

  - Chấp hành viên thi hành án dân sự đang thi hành công vụ có quyền:

  a) Phạt cảnh cáo;

  b) Phạt tiền đến 200.000 đồng.

 -  Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có quyền:

 a) Phạt cảnh cáo;

 b) Phạt tiền đến 500.000 đồng.

- Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, Trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu có quyền:

       a) Phạt cảnh cáo;

       b) Phạt tiền đến 1.000.000 đồng.

16.4. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài

Người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài có quyền:

      a) Phạt cảnh cáo.

      b) Phạt tiền đến 10.000.000 đồng.

Ngoài những chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính vừa nêu trên, theo qui định tại Điều 50 Nghị định số 60/ 2009/ NĐ-CP, những người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các cơ quan khác theo qui định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình mà phát hiện các hành vi vi phạm hành chính được qui định trong Nghị định này thuộc lĩnh vực, địa bàn quản lý của mình thì cũng có quyền xử phạt nhưng phải thực hiện đúng qui định tại Điều 42 Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính.

16.5. Một vấn đề khác rất quan trọng, liên quan đến thẩm quyền xử phạt là vấn đề phân định thẩm quyền xử phạt để tránh tình trạng chồng chéo trong khi thi hành công vụ.

Theo qui định tại Điều 49 Nghị định số 60/ 2009/ NĐ-CP thì:

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện việc xử phạt đối với các vi phạm hành chính trong các lĩnh vực thuộc phạm vi địa phương mình quản lí theo thẩm quyền cụ thể qui định tại Điều 45 Nghị định này.

 - Thanh tra chuyên ngành Tư pháp xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính qui định tại Chương II Nghị định này và các hành vi vi phạm hành chính khác liên quan đến lĩnh vực tư pháp qui định tại các nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước theo thẩm quyền cụ thể qui định tại Điều 46 Nghị định này.

  - Chánh Thanh tra và Thanh tra viên chuyên ngành Sở Tư pháp không xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính qui định tại Mục II Chương II Nghị định này. Việc xử phạt vi phạm hành chính do Chánh thanh tra và Thanh tra viên chuyên ngành Bộ Tư pháp thực hiện.

Cơ quan thi hành án dân sự xử phạt theo thẩm quyền qui định Điều 47 của Nghị định này đối với các vi phạm hành chính trong hoạt động thi hành án dân sự.

- Trong trường hợp vi phạm hành chính qui định tại Nghị định này thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người thuộc các ngành khác nhau, thì thẩm quyền xử phạt thuộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền xử phạt nơi xảy ra vi phạm.

17. Về Chương IV - Thủ tục xử phạt

Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Tư pháp được qui định tại Chương IV Nghị định số 60 /2009/ NĐ-CP. Nội dung các qui định tại chương này chủ yếu qui định một số thủ tục cơ bản theo hướng viện dẫn Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính hiện hành và Nghị định số 128/ 2008 /NĐ-CP.Việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành với các bước như sau:

+ Đình chỉ hành vi vi phạm ( Điều 51 Nghị định số 60/2009/ NĐ-CP): Khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính hoặc nhận được báo cáo, biên bản về hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp, người có thẩm quyền xử phạt phải kiểm tra, xác minh, ra lệnh đình chỉ ngay hành vi vi phạm. Nhìn chung việc đình chỉ hành vi vi phạm là khâu đầu tiên của thủ tục xử phạt, dù xử phạt theo thủ tục đơn giản hay thủ tục có lập biên bản hay nói cách khác đình chỉ hành vi vi phạm là khâu chung của thủ tục đơn giản hay thủ tục có lập biên bản.                                            

+ Thủ tục đơn giản:

Theo qui định tại Điều 21 Nghị định số 128/ 2008/ NĐ-CP thì việc áp dụng thủ tục xử phạt đơn giản theo Điều 54 của Pháp lệnh được thực hiện như sau: Xử phạt theo thủ tục đơn giản qui định tại Điều 54 của Pháp lệnh là trường hợp xử phạt, theo đó người có thẩm quyền xử phạt không lập biên bản về vi phạm hành chính mà ra quyết định xử phạt tại chỗ, trừ trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ. Những trường hợp được tiến hành xử phạt theo thủ tục đơn giản bao gồm:

a) Hành vi vi phạm hành chính mà hình thức xử phạt quy định là cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 10.000 đồng đến 200.000 đồng;

b) Nhiều hành vi vi phạm hành chính do một người thực hiện mà hình thức xử phạt đối với mỗi hành vi này đều là phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 10.000 đồng đến 200.000 đồng.

Quyết định xử phạt phải thể hiện bằng văn bản theo mẫu quy định. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có thể nộp tiền phạt tại chỗ cho người có thẩm quyền xử phạt và được nhận biên lai thu tiền phạt do Bộ Tài chính phát hành. Trong trường hợp không nộp tiền phạt tại chỗ, cá nhân, tổ chức vi phạm nộp tiền phạt tại Kho bạc Nhà nước trong thời hạn được quy định tại khoản 1 Điều 58 của Pháp lệnh.

+ Thủ tục xử phạt lập biên bản vi phạm hành chính:

Theo quy định tại Điều 52 Nghị định số 60/ 2009/NĐ-CP thì người có thẩm quyền đang thi hành nhiệm vụ, công vụ phải kịp thời lập biên bản vi phạm hành chính trừ trường hợp xử phạt bằng hình thức phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 200.000 đồng. Người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp là người có thẩm quyền thi hành án, công chứng viên, cán bộ, công chức đang thi hành nhiệm vụ, công vụ được giao trong lĩnh vực tư pháp. Việc lập biên bản vi phạm hành chính phải tuân thủ quy định tại Điều 55 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và Điều 22 Nghị định số 128/2008/NĐ-CP.                 

+ Thời hạn ra quyết định xử phạt:

Theo qui định tại Điều 23 Nghị định số 128/2008/NĐ-CP thì thời hạn ra quyết định xử phạt theo Điều 56 của Pháp lệnh được quy định như sau:

a) Đối với vụ việc đơn giản, hành vi vi phạm rõ ràng, không cần xác minh thêm thì phải ra quyết định xử phạt trong thời hạn không quá 10 ngày, kể từ ngày lập biên bản về vi phạm hành chính. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải theo đúng mẫu quy định.

b) Đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp như tang vật, phương tiện cần giám định, cần xác định rõ đối tượng vi phạm hành chính hoặc những tình tiết phức tạp khác thì thời hạn ra quyết định xử phạt là 30 ngày, kể từ ngày lập biên bản. Trong trường hợp xét thấy cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì chậm nhất là 10 ngày, trước khi hết thời hạn được này, người có thẩm quyền xử phạt phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản; thời gian gia hạn không quá 30 ngày.

c) Trừ quyết định áp dụng hình thức xử phạt trục xuất, người có thẩm quyền không được ra quyết định xử phạt trong các trường hợp sau đây:

- Đã hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này;

- Đã hết thời hạn ra quyết định xử phạt quy định tại khoản 2 Điều này mà không xin gia hạn hoặc đã xin gia hạn nhưng không được cấp có thẩm quyền cho phép gia hạn;

- Đã hết thời hạn được cấp có thẩm quyền gia hạn.

d) Trong trường hợp không ra quyết định xử phạt thì người có thẩm quyền vẫn có thể ra quyết định áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả được quy định tại khoản 3 Điều 12 của Pháp lệnh và tịch thu tang vật vi phạm hành chính thuộc loại cấm lưu hành, lưu thông.

+ Chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính:

Việc chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo Điều 64 của Pháp lệnh được quy định như sau:

     a) Cá nhân, tổ chức bị xử phạt phải chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày được giao quyết định xử phạt, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Sau khi ra quyết định xử phạt, người có thẩm quyền phải giao quyết định cho người bị xử phạt hoặc thông báo cho họ đến nhận; thời điểm người bị xử phạt nhận được quyết định xử phạt được coi là thời điểm được giao quyết định quy định tại Điều 64 của Pháp lệnh.

     b) Cá nhân, tổ chức bị xử phạt không tự nguyện chấp hành trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này thì bị cưỡng chế thi hành.

     c) Trường hợp đã qua một năm, mà người có thẩm quyền không thể giao quyết định xử phạt đến người bị xử phạt do người đó không đến nhận và không xác định được địa chỉ của họ hoặc đo nguyên nhân khách quan khác thì người đã ra quyết định xử phạt ra quyết định đình chỉ thi hành các hình thức xử phạt ghi trong quyết định đối với người đó, trừ hình thức tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; đối với tang vật , phương tiện vi phạm đang bị tạm giữ thì áp dụng theo quy định tại khoản 4 Điều 61 của Pháp lệnh; nếu cần áp dụng biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh hoặc tiêu hủy vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng,thì người có thẩm quyền phải tổ chức thực hiện các biện pháp này. Ngân sách nhà nước chi trả cho việc thực hiện các biện pháp này hoặc được trừ vào tiền bán tang vật, phương tiện bị tịch thu ( nếu có ).

+ Xác định mức trung bình của khung tiền phạt:

Theo quy định tại Điều 26 Nghị định số 128/2008/NĐ-CP thì việc xác định mức trung bình của khung tiền phạt theo khoản 2 Điều 57 của Pháp lệnh được quy định như sau:

Khi phạt tiền, mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính không có tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó. Mức trung bình của khung tiền phạt được xác định bằng cách chia đôi tổng số của mức tối thiểu cộng với mức tối đa.

+ Trường hợp nộp tiền phạt nhiều lần:

1. Việc nộp tiền phạt nhiều lần được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân và từ 100.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức;

b) Đang gặp khó khăn đặc biệt về kinh tế và có đơn đề nghị nộp tiền phạt nhiều lần. Đơn đề nghị của cá nhân phải được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc tổ chức nơi người đó làm việc xác nhận hoàn cảnh khó khăn đặc biệt về kinh tế; đối với đơn đề nghị của tổ chức phải được xác nhận của cơ quan thuế ( hoặc cơ quan chịu trách nhiệm quản lý nhà nước ).

2) Thời hạn nộp tiền phạt nhiều lần không quá mười hai tháng, kể từ ngày quyết định xử phạt có hiệu lực; số lần nộp tiền phạt tối đa không quá 03 lần và mỗi lần nộp tiền phạt tối thiểu không dưới một phần ba ( 1/3) tổng số tiền nộp phạt. Số tiền chưa nộp phạt phải chịu lãi suất không kỳ hạn được tính từ thời điểm quyết định xử phạt có hiệu lực.

3. Người đã ra quyết định phạt tiền có quyền quyết định việc nộp tiền phạt nhiều lần. Quyết định về việc nộp tiền phạt nhiều lần phải bằng văn bản.

+ Nơi nộp tiền phạt:

Nơi nộp tiền phạt theo Điều 58 của Pháp lệnh được quy định như sau:

1. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt phải nộp tiền phạt tại Kho bạc Nhà nước theo quy định tại Điều 57 của Pháp lệnh.

2. Tại những vùng xa xôi , hẻo lánh, trên sông, trên biển, những vùng mà việc đi lại gặp khó khăn hoặc ngoài giờ hành chính thì cá nhân, tổ chức bị xử phạt có thể nộp tiền phạt cho người có thẩm quyền xử phạt.

“Vùng xa xôi, hẻo lánh” là những vùng thuộc miền núi, hải đảo và những nơi khác không có hoặc cách quá xa Kho bạc Nhà nước.

Ngoài những nội dung cơ bản trên đây, một số nội dung khác như cưỡng chế thi hành quyềt định xử phạt, khiếu nại, tố cáo trong trong xử phạt vi phạm hành chính.....đã được quy định cụ thể tại Điều 57, Điều 60 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP./.

18. Về Chương V- Khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm

          Nội dung của chương này gồm có 03 điều- từ Điều 61 đến Điều 63, trong đó nội dung của Điều 61 khẳng định cá nhân, tổ chức bị xử phạt VPHC trong lĩnh vực tư pháp và người đại  diện hợp pháp của họ có quyền khiếu nại đối với quyết định xử phạt của người có thẩm quyền và tố cáo những hành vi trái pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp.

Thủ tục khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong việc xử phạt VPHC trong lĩnh vực tư pháp được thực hiện chung theo quy định tại Pháp lệnh XLVPHC. Điều 61 cũng quy định việc khởi kiện đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp được thực hiện theo quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.

Điều 62 và Điều 63 quy định về việc xử lý đối  với người có thẩm quyền xử phạt VPHC trong lĩnh vực tư pháp và xử lý đối với người bị xử phạt VPHC mà có hành vi chống người thi hành công vụ, trì hoãn, trốn tránh việc chấp hành hoặc có những hành vi vi phạm khác.

19. Về Chương VI - Điều khoản thi hành

 Chương này có 02 điều ( Điều 63 và Điều 64) quy định về hiệu lực thi hành và trách nhiệm thi hành Nghị định. Điểm mới đáng lưu ý là tại khoản 1 Điều 64 có quy định về trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Tư pháp trong việc tổ chức thi hành Nghị định và tổ chức việc thống kê xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính

CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ biên tập

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

THAM KHẢO DỊCH VỤ TƯ VẤN LIÊN QUAN:

1.Tư vấn pháp luật lĩnh vực dân sự;

2. Tư vấn luật hành chính Việt Nam;

3. Luật sư riêng cho doanh nghiệp;

4. Luật sư tranh tụng tại tòa án và đại diện ngoài tố tụng;

5. Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án;

6. Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp hôn nhân gia đình;

-----------------------------------------------------------------------------------------

Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT (24/24h) GỌI : 19006816 hoặc 19006916
Gửi yêu cầu dịch vụ trực tiếp qua Email    : lienhe@luatminhkhue.vn

Tham khảo dịch vụ và kiến thức pháp luật : http://www.luatminhkhue.vn

Tìm kiếm văn bản pháp luật     : http://www.lawdata.vn

© Copyright by MKLAW FIRM
-------------------------------------------------------------------------------------------

Mọi thông tin cần tư vấn, quý khách vui lòng liên hệ:

Luật Minh Khuê

CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ (MK LAW FIRM)

LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT (24/7) GỌI: 1900 6162

Gửi yêu cầu dịch vụ trực tiếp qua Email    : lienhe@luatminhkhue.vn
Tham khảo dịch vụ và kiến thức pháp luật : http://www.luatminhkhue.vn
© Copyright by MKLAW FIRM

Số lượt đọc 3503
GỬI YÊU CẦU DỊCH VỤ TƯ VẤN

Họ và tên(*)

Địa chỉ

Điện thoại(*)

Email(*)

Tiêu đề(*)

Nội Dung(*)

Tìm kiếm

Ví Dụ : Văn bản pháp luật, Van ban luat ...

Dịch vụ tư vấn hành chính khác:

Dịch vụ luật sư tư vấn luật

Trong một xã hội hiện đại luật sư được xem là một nghề cao quý - Ý kiến tư vấn của luật sư được mọi tổ chứ, cá nhân tôn trọng. Công ty luật Minh Khuê với đội ngũ luật sư có kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực pháp lý, có kiến thức chuyên môn chuyên sâu về nhiều lĩnh vực sẽ là sự lựa chọn hoàn hảo của Quý khách hàng trong và ngoài nước trong việc lựa chọn đơn vị tư vấn pháp lý (luật sư riêng).

Hành chính Việt Nam

Luật sư tư vấn thủ tục khởi kiện

Công ty luật Minh Khuê cung ứng dịch vụ luật sư tư vấn thủ tục khởi kiện các vụ án dân sự, hành chính, lao động, thương mại, hôn nhân gia đình:

Hỗ trợ trực tuyến

TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ:

Gọi: 1900 6162

TƯ VẤN LUẬT HÀNH CHÍNH:

Gọi: 1900 6162

Dịch vụ nổi bật