- 1. Tội bức tử và xúi giục người khác tự sát theo luật hình sự trước đây
- 2. Tội bức tử và xúi giục người khác tự sát theo luật hình sự hiện nay
- 2.1 Cấu thành tội phạm tội bức tử:
- 2.2 Cấu thành tội phạm tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát:
- Mặt khách quan của tội phạm
- Mặt chủ quan của tội phạm
- Khách thể của tội phạm
- Chủ thể thực hiện tội phạm
- 3. Phân tích các vấn đề pháp lý liên quan:
1. Tội bức tử và xúi giục người khác tự sát theo luật hình sự trước đây
Tội bức tử và tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát được quy định tại điều 100 và điều 101 luật hình sự năm 1999:
| Tội Bức Tử | Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát |
| Điều 100. Tội bức tử 1. Người nào đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình làm người đó tự sát, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm. 2. Phạm tội làm nhiều người tự sát thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm. | Điều 101. Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát 1. Người nào xúi giục làm người khác tự sát hoặc giúp người khác tự sát, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. 2. Phạm tội làm nhiều người tự sát thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm. |
>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162
2. Tội bức tử và xúi giục người khác tự sát theo luật hình sự hiện nay
Hiện nay, theo quy định của luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì tội bức tử được quy định tại điều 130, tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát quy định tại điều 131 của luật này với nội dụng cụ thể nh sau:
| Tội bức tử | Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát |
| Điều 130. Tội bức tử 1. Người nào đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình làm người đó tự sát, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm: a) Đối với 02 người trở lên; b) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai. | Điều 131. Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát 1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác tự tước đoạt tính mạng của họ; b) Tạo điều kiện vật chất hoặc tinh thần cho người khác tự tước đoạt tính mạng của họ. 2. Phạm tội làm 02 người trở lên tự sát, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. |
2.1 Cấu thành tội phạm tội bức tử:
Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính trước hết phải đảm bảo các yếu tố cần và đủ như: độ tuổi, năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại các Điều 12, 13 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, đối với tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính chỉ những người đủ 16 tuổi trở lên mới có thể là chủ thể của tội phạm này. Chủ thể của tội phạm này có thể là bất kì ai.
Mặt khách thể của tội phạm.
Tội phạm trực tiếp xâm phạm sức khỏe, nhân phẩm, danh dự người khác, đống thời gián tiếp xâm phạm quyền sống của người đó.
Mặt khách quan của tội phạm.
Mặt khách quan của tội bức tử có các dấu hiệu sau đây:
a) Về hành vi. Có một trong các hành vi sau:
- Đối xử tàn ác với nạn nhân như đánh đập, bỏ đói, bỏ rét, cho ngủ ngoài để muỗi cắn… làm cho nạn nhân đau đớn về thể xác nhưng chưa đến mức gây thương tích hay gây tổn hại sức khoẻ của nạn nhân. Hành vi này không chỉ bị pháp luật cấm mà dư luận xã hội cũng lên án.
- Thường xuyên ngược đãi, ức hiếp nạn nhân: đây trường hợp người phạm tội đã thường xuyên có hành vi đối xử tàn nhẫn, tồi tệ người lệ thuộc mình, trái với luân lý, đạo đức xã hội.
- Làm nhục nạn nhân: đây là hành vi (cố ý ) làm tổn hại nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự người lệ thuộc vào mình. Đây là hành vi xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của nạn nhân như: chửi bới thậm tệ, bôi nhọ danh dự, nhạo báng, miệt thị hoặc những hành vi bỉ ổi khác.
Theo quy định của luật, hành vi ngược đãi, ức hiếp hoặc làm nhục người lệ thuộc mình phải được thực hiện thường xuyên mới cấu thành tội bức tử. Tuy nhiên, theo chúng tôi, cần xác định là hành vi bức tử kể cả trong trường hợp người phạm tội chỉ một vài lần có hành vi ngược đãi, ức hiếp hoặc làm nhục nhưng kết quả đã làm nạn nhân tự sát vì hành vi đó.
b) Về hậu quả: Các hành vi nêu trên dẫn đến hậu quả là lại nhân (tức người bị đối xử tàn ác thường xuyên bị ức hiếp, bị ngược đãi hoặc bị làm nhục) tự làm chấm dứt cuộc sống của chính mình.
Nói cách khác những hành vi đó đã gây ức chế về tâm lý đối với nạn nhân, làm cho nạn nhân bị khủng hoảng tinh thần, bị tuyệt vọng không còn niềm tin vào cuộc sống nữa nên đã hành động để kết liễu cuộc sống của chính mình.
Lưu ý: Nạn nhân là người lệ thuộc đối với người có hành vi phạm tội về kinh tế, công tác, lệ thuộc về tôn giáo hoặc về các mặt khác cụ thể là:
- Lệ thuộc về kinh tế: thể hiện qua việc nạn nhân phải phụ thuộc người phạm tội về việc được cung cấp các nhu cầu ăn, mặc, ở hoặc các điều kiện vật chất khác để duy trì cuộc sống;
- Lệ thuộc về công tác thể hiện qua việc nạn nhân phải chịu ảnh hưởng và tác động của người khác trong quan hệ công tác trong các cơ quan tổ chức (như chịu ảnh hưởng của thủ trưởng, của giám
đốc, của cấp trên…); - Lệ thuộc về tôn giáo như tín đồ của người có chức sắc trong giáo hội;
- Lệ thuộc về các mặt khác như bệnh nhân với thầy thuốc, học sinh với thầy cô giáo…
* Hậu quả
Hậu quả tự sát có chết người hay không, không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm.
Mặt chủ quan của tội phạm.
Lỗi trong tội này có thể là lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý. Lỗi cố ý thể hiện ở việc người đó biết hành vi của mình có thể dẫn đến hậu quả là người kia tự sát nhưng vẫn muốn hoặc không muốn nhưng để mặc cho hậu quả xảy ra.
Lỗi vô ý thể hiện ở việc người đó biết hành vi cỉa mình có thể dẫn đến hậu quả người kia tự sát nhưng tin rằng có thể ngăn chặn được hoặc người đó không biết được hậu quả sẽ xảy ra mặc dù phải thấy trước hoặc có thể thấy trước.
Nguyên nhân và động cơ thúc đẩy nạn nhân đến chỗ tiêu cực, bế tắc đã tự sát là do hành vi của người phạm tội gây ra.
2.2 Cấu thành tội phạm tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát:
Mặt khách quan của tội phạm
Hành vi khách quan
Điều 131 bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định 02 hành vi phạm tội. Cụ thể là hành vi xúi giục người khác tự sát và hành vi giúp người khác tự sát.
Hành vi xúi giục người khác tự sát được cụ thể hóa như sau: Kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác tự tước đoạt tính mạng của họ. Những hành vi này thường được thể hiện bằng lời nói, Hoặc lợi dụng tình trạng để kích động nạn nhân tự tước đoạt mạng sống của họ.
Hành vi giúp người tự sát được cụ thể hóa như sau: Tạo điều kiện vật chất hoặc tinh thần cho người khác tự tước đoạt tính mạng của họ. Tạo điều kiện vật chất ví dụ như: mua cho họ những vật dụng, dụng cụ, không gian để nạn nhân tự sát. Tạo điều kiện về mặt tinh thần như ủng hộ tinh thần tự sát của họ…
Hậu quả
Những hành vi nêu trên dẫn đến nạn nhân có hành vi tự tước đoạt mạng sống của mình. Hậu quả chết người không phải yếu tố quyết định có cấu thành tội phạm hay không. Chỉ cần nạn nhân tự sát thì tội phạm hoàn thành.
Mặt chủ quan của tội phạm
Yếu tố lỗi
Người thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Lỗi cố ý ở đây được xác định cả 2 lỗi cố ý là: Cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp.
Mục đích
Mục đích là để nạn nhân thực hiện hành vi tự tước đoạt mạng sống của mình.
Khách thể của tội phạm
Các hành vi phạm tội nêu trên đã xâm phạm (một cách gián tiếp) đến tính mạng của người khác.
Chủ thể thực hiện tội phạm
Chủ thể của tội này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự. Theo quy định tại Điều 12 về tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì chủ thể của tội này sẽ là người từ đủ 16 tuổi trở nên có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
3. Phân tích các vấn đề pháp lý liên quan:
Những hành vi đối xử với người lệ thuộc mình dẫn đến người đó phải tự sát như bạn vừa nêu là dấu hiệu của tội bức tử.
Điều 100 của Bộ luật Hình sự trước đây quy định tội bức tử như sau:
1- Người nào đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình làm người đó tự sát, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
2- Phạm tội làm nhiều người tự sát thì bị phạt tù từ 5 năm đến 12 năm.
Như vậy, theo quy định của điều luật nêu trên thì người bị coi là phạm tội bức tử khi có một trong những hành vi sau đây:
+ Đối xử tàn ác đối với nạn nhân: Người phạm tội đã có hành vi đối xử một cách tàn nhẫn, có hành đông gây đau khổ cho người lệ thuộc mình. Sự đau khổ của nạn nhân không chỉ là sự đau khổ về thể xác, mà còn có thể đau khổ về tinh thần.
+ Thường xuyên ức hiếp nạn nhân: Đó là hành vi dựa vào quyền hành, sức mạnh, tiền tài để đè nén, buộc người lệ thuộc mình phải chịu đựng những bất công, phi lý mà không dám phản kháng... Hành vi ức hiếp phải xảy ra thường xuyên thì mới bị coi là tội phạm.
+ Ngược đãi nạn nhân: Là hành vi đối xử một cách tàn nhẫn, đi ngược lại với những quy tắc xử sự trong xã hội, những truyền thống của một dân tộc.
+ Làm nhục nạn nhân: Hành vi làm tổn thương đến nhân phẩm, danh dự người lệ thuộc mình bằng lời nói hoặc bằng hành động.
Để xác định đúng tội phạm thì về phía người bị hại phải là người lệ thuộc vào người phạm tội, tức là họ phải dựa vào người phạm tội trong cuộc sống về các mặt vật chất và tinh thần. Mặt khác, nạn nhân phải là người tự tước đoạt tính mạng của mình và nguyên nhân dẫn đến việc nạn nhân tự sát phải là do hành vi của người phạm tội gây ra.
Hình phạt cụ thể đối với người phạm tội bức tử như đã nêu tại điều luật. Tuy nhiên, chỉ cần nạn nhân có hành vi tự sát là tội phạm hoàn thành và phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội danh này, còn việc nạn nhân chết hay được cứu sống chỉ có ý nghĩa xem xét khi quyết định hình phạt. Do đó, để quyết định một hình phạt thích đáng cho người phạm tội bức tử phải tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể.
Trân trọng./.
BỘ PHẬN TRANH TỤNG - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ
---------------------------------
THAM KHẢO DỊCH VỤ PHÁP LUẬT LIÊN QUAN: