• Luat minh khue
  • Tu van luat
  • Tu van luat ly hon
  • Tu van luat minh khue

Tư vấn luật, Tư vấn pháp luật, Dịch vụ luật sư, luật sư doanh nghiệp, Công ty luật

Tư vấn luật, Tư vấn pháp luật, Dịch vụ luật sư, luật sư doanh nghiệp, Công ty luật

Pháp luật chống bán phá giá: Khái niệm cơ bản

VCCI, với sự cộng tác của các Trọng tài viên TTTT Quốc tế VN, đã xuất bản cuốn "Pháp luật về chống bán phá giá - Những điều cần biết". Đây là cuốn sách đầu tiên tại Việt Nam giới thiệu tương đối đầy đủ những quy định hiện hành của WTO, Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu về việc điều tra và áp đặt thuế chống bán phá giá dưới dạng các câu hỏi và đáp ngắn gọn, cụ thể và thiết thực.

1. Bán phá giá là gì?

Bán phá giá trong thương mại quốc tế là hiện tượng xảy ra khi một loại hàng hóa được XK với giá thấp hơn giá bán của mặt hàng đó tại thị trường nội địa nước XK. Như vậy có thể hiểu đơn giản là nếu giá XK của một mặt hàng thấp hơn giá nội địa của nó thì sản phẩm đó bị coi là bán phá giá. Ví dụ: lạc nhân của nước A bán tại thị trường nước A với giá (X) nhưng lại được XK sang nước B với giá (Y) (Y<X) thì xảy ra hiện tượng bán phá giá đối với sản phẩm này XK từ A sang B.

2. Tại sao bán phá giá?

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới hiện tượng bán phá giá trong thương mại quốc tế. Nhiều trường hợp cố tình bán phá giá nhằm đạt được những lợi ích nhất định như: Bán phá giá để loại bỏ các đối thủ cạnh tranh trên thị trường nước NK từ đó chiếm thế độc quyền; Bán giá thấp tại thị trường nước NK để chiếm lĩnh thị phần; Bán giá thấp để thu ngoại tệ mạnh... Đôi khi việc bán phá giá là việc bất đắc dĩ do nhà sản xuất, XK không bán được hàng, sản xuất bị đình trệ, sản phẩm lưu kho lâu ngày có thể bị hỏng... nên đành bán tháo để thu hồi vốn. Trong thương mại quốc tế, thuế chống bán phá giá có thể bị áp đặt mà không quan tâm đến lý do vì sao nhà sản xuất bán phá giá. Bán phá giá sang thị trường nước ngoài thường bị coi là một hiện tượng tiêu cực do nó làm giảm khả năng cạnh tranh về giá và thị phần của sản phẩm nội địa của nước NK. Tuy nhiên, bán phá giá có thể có tác động tích cực đối với nền kinh tế: người tiêu dùng được lợi vì giá rẻ; nếu hàng bị bán phá giá là nguyên liệu đầu vào của một ngành sản xuất khác, giá nguyên liệu rẻ có thể tạo nên sự tăng trưởng nhất định của ngành đó,... Vì thế không phải mọi hành vi bán phá giá đều bị áp dụng biện pháp chống bán phá giá. Theo quy định của WTO, các biện pháp chống bán phá giá chỉ được thực hiện trong những hoàn cảnh nhất định và phải đáp ứng các điều kiện nhất định. Cụ thể, các biện pháp chống bán phá giá chỉ được áp dụng khi xác định được đủ ba điều kiện sau đây: Hàng NK bị bán phá giá; Ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước NK bị thiệt hại đáng kể; Có mối quan hệ nhân quả giữa việc hàng NK bán phá giá và thiệt hại nói trên.

3. Thuế chống bán phá giá?

Thuế chống bán phá giá là khoản thuế bổ sung bên cạnh thuế NK thông thường, đánh vào sản phẩm nước ngoài bị bán phá giá vào nước NK. Đây là loại thuế nhằm chống lại việc bán phá giá và loại bỏ những thiệt hại do việc hàng NK bán phá giá gây ra. Trên thực tế, thuế chống bán phá giá được nhiều nước sử dụng như một hình thức "bảo hộ hợp pháp" đối với sản xuất nội địa của mình. Để ngăn chặn hiện tượng lạm dụng biện pháp này, các nước thành viên WTO đã cùng thoả thuận về các quy định bắt buộc phải tuân thủ liên quan đến việc điều tra và áp đặt thuế chống bán phá giá, tập trung trong một Hiệp định về chống bán phá giá của WTO - Hiệp định ADA.

4. Xác định bán phá giá

Một sản phẩm bị xem là bị bán phá giá nếu có giá XK thấp hơn giá thông thường.

Xác định bán phá giá

Giá thông thường (giá TT) - Giá XK = X (Nếu X > 0 thì có hiện tượng bán phá giá)

Giá xuất khẩu

Giá XK sử dụng để tính toán việc bán phá giá được tính theo một trong các cách sau:

1, Giá XK là giá trong hợp đồng XK;

2, Giá XK là giá bán sản phẩm liên quan cho người mua độc lập đầu tiên tại nước nhập khẩu; hoặc một trị giá tính toán theo những tiêu chí hợp lý do cơ quan có thẩm quyền quyết định.

Cách 1 là cách tính chuẩn và được ưu tiên áp dụng trước (trong các điều kiện thương mại thông thường và có hợp đồng XK). Chỉ khi không đáp ứng các điều kiện áp dụng cách 1 (khi không có giá XK hoặc khi giá XK không đáng tin cậy) thì giá XK mới được tính theo cách 2.

Giá thông thường

Giá TT sử dụng để xác định bán phá giá tính theo những cách sau:

Cách 1: Giá TT = giá bán tại thị trường nội địa nước XK của sản phẩm tương tự với sản phẩm bị điều tra (SPTT) với điều kiện: SPTT được bán tại nước XK trong điều kiện thương mại bình thường; SPTT phải được bán tại nước XK với số lượng đáng kể (5% số lượng sản phẩm bị điều tra xuất sang nước NK trừ trường hợp đặc biệt).

Cách 2: Giá TT = giá bán của SPTT từ nước XK sang một nước thứ ba nếu mức giá này có thể so sánh được và có tính đại diện.

Cách 3: Giá TT theo trị giá tính toán = Giá thành sản xuất + Các chi phí (gồm chi phí bán hàng, quản trị, chung) + Lợi nhuận hợp lý.

Cách 1 là cách tính được ưu tiên xem xét áp dụng trước trong tất cả các trường hợp. Chỉ khi không đáp ứng được các điều kiện để sử dụng cách 1 thì giá TT mới được tính theo cách 2 hoặc cách 3.

Trường hợp hàng hoá không xuất thẳng từ nước sản xuất sang nước NK mà được xuất sang một nước thứ ba (trung gian) trước khi vào nước NK, giá TT sẽ được xác định theo giá bán của SPTT tại thị trường nước trung gian đó. Tuy nhiên, giá TT vẫn có thể được xác định theo cách bình thường (như khi xuất trực tiếp) nếu: Sản phẩm chỉ đơn thuần chuyển qua cảng của nước thứ ba; hoặc nước thứ ba không sản xuất sản phẩm đó hoặc không có mức giá đem ra so sánh.

Đối với trường hợp nước XK có nền kinh tế phi thị trường, khi tính toán giá TT, nước NK được phép bỏ qua các cách tính bình thường và tự mình xác định một cách thức tính hợp lý. Thường thì cơ quan có thẩm quyền của nước NK, sau khi kết luận rằng nước XK có nền kinh tế phi thị trường, có thể sẽ bỏ qua các số liệu về chi phí, giá cả nội địa nước XK và chọn một nước thứ ba thay thế (dùng giá bán hoặc các chi phí sản xuất sản phẩm tại nước này) để tính giá TT của sản phẩm đang điều tra. Cách tính này có thể gây ra nhiều bất lợi cho các nhà sản xuất, XK do giá TT thường bị đội lên cao bởi: Cơ quan có thẩm quyền của nước NK có quyền tự do lựa chọn một nước thứ ba thay thế và giá cả ở nước này có thể khác xa giá cả tại nước XK do có các điều kiện, hoàn cảnh thương mại khác nhau; Các nhà sản xuất SPTT tại nước thứ ba được lựa chọn là đối thủ cạnh tranh của các Cty đang bị điều tra và vì thế họ có thể khai báo mức giá khiến kết quả so sánh giá XK với giá TT bất lợi cho những nhà sản xuất, XK của nước XK liên quan...

Nguyễn Thị Thu Trang - Ban Pháp chế - VCCI

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

----------------------------------------------------------------------------------

THAM KHẢO VÀ DỊCH VỤ TƯ VẤN LIÊN QUAN:

-----------------------------------------------------------------------------------------

Quý khách có nhu cầu tư vấn pháp luật, Hãy liên hệ trực tiếp với Chúng tôi:
LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT (24/24h) GỌI : 19006816 hoặc 19006916

Gửi yêu cầu dịch vụ trực tiếp qua Email   : lienhe@luatminhkhue.vn

Tham khảo dịch vụ và kiến thức pháp luật: http://www.luatminhkhue.vn

Tìm kiếm văn bản pháp luật Việt Nam      : http://www.lawdata.vn

© Copyright by MKLAW FIRM
-------------------------------------------------------------------------------------------

Mọi thông tin cần tư vấn, quý khách vui lòng liên hệ:

Luật Minh Khuê

CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ (MK LAW FIRM)

LUẬT SƯ TƯ VẤN PHÁP LUẬT (24/7) GỌI: 1900 6162

Gửi yêu cầu dịch vụ trực tiếp qua Email    : lienhe@luatminhkhue.vn
Tham khảo dịch vụ và kiến thức pháp luật : http://www.luatminhkhue.vn
© Copyright by MKLAW FIRM

Số lượt đọc 5215
GỬI YÊU CẦU DỊCH VỤ TƯ VẤN

Họ và tên(*)

Địa chỉ

Điện thoại(*)

Email(*)

Tiêu đề(*)

Nội Dung(*)

Tìm kiếm

Ví Dụ : Văn bản pháp luật, Van ban luat ...

Dịch vụ tư vấn pháp lý khác:

Doanh nghiệp chưa mặn mà với trọng tài

Giải quyết tranh chấp thương mại bằng phương thức trọng tài xét về mặt lý thuyết sẽ có nhiều thuận lợi cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên thực tế cho thấy các doanh nghiệp vẫn chưa mặn mà với cách thức này. Vì sao ?

Pháp luật Trọng Tài Thương Mại

Tóm tắt Quy trình Tố tụng Trọng Tài Thương Mại (VIAC)

Theo Quy tắc tố tụng của VIAC, Hội đồng Trọng tài có thể gồm 3 trọng tài viên hoặc một trọng tài viên duy nhất. Nếu các bên không có thỏa thuận về việc vụ tranh chấp được giải quyết bởi Trọng tài viên duy nhất thì vụ tranh chấp sẽ được giải quyết bởi Hội đồng Trọng tài gồm ba Trọng tài viên.

Hỗ trợ trực tuyến

TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ:

Gọi: 1900 6162

YÊU CẦU DỊCH VỤ:

Gọi: 1900 6162

Dịch vụ nổi bật