1. Khái niệm về sản nghiệp

Sản nghiệp là tài sản bao gồm cả tài sản hữu hình và vô hình thuộc quyền sở hữu hay quyền sử dụng hợp pháp của một cá nhân để sinh sống, kinh doanh, tạo nên cơ nghiệp của cá nhân đó. Tài sản của một cá nhân có thể do bản thân cá nhân đó xây dựng tạo lập nên hoặc do cha ông để lại hoặc có thể được cho, biếu để sở hữu và sử dụng hợp pháp. Tài sản - với tư cách là khách thể của quan hệ sở hữu - đã được Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 xác định như sau:

"Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”.

Về tài sản, Để nhận diện về tài sản thì nhất thiết phải chỉ ra được các đặc điểm pháp lý của chúng. Trên cơ sở tìm hiểu các quy định của pháp luật dân sự truyền thống và hiện đại, chúng tôi cho rằng, tài sản có những đặc điểm pháp lý cơ bản sau:

Thứ nhất, tài sản là những đối tượng mà con người có thể sở hữu được. Nếu tài sản là vật hữu hình thì con người có thể nắm giữ hoặc chiếm giữ được thông qua các giác quan tiếp xúc; nếu tài sản là vật vô hình thì con người phải có cách thức để quản lý và kiểm soát sự tồn tại của chúng, ví dụ: các tài sản trí tuệ phải được thể hiện trên những "vật mang" nhất định để con người có thể nhận biết được[3] và chủ thể sáng tạo có thể đăng ký xác lập quyền của mình tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Thứ hai, tài sản phải mang lại những lợi ích nhất định cho con người, có giá trị và trị giá được thành tiền. Ở đây, cần có sự phân biệt giữa yếu tố giá trị và trị giá được thành tiền của tài sản. Tài sản có giá trị được hiểu là tài sản đó có ý nghĩa về mặt tinh thần hay có giá trị sử dụng cụ thể nào đó với mỗi chủ thể khác nhau. Ví dụ, một bức ảnh đã cũ từ thời thơ ấu vô cùng có giá trị đối với một người nhưng để định giá được bức ảnh đó có giá trị bao nhiêu tiền thì phải có căn cứ như thông qua bán đấu giá hay căn cứ vào sự thoả thuận của các bên để xác định nó trị giá bao nhiêu tiền hoặc có thể chẳng ai trả giá cho bức ảnh đó. Như vậy, không phải mọi tài sản có giá trị thì đều có thể trị giá được thành tiền. Tuy nhiên, nếu như có chủ thể xâm phạm đến bức ảnh đó, như đốt hay xé bỏ nó thì chủ sở hữu của bức ảnh vẫn có quyền kiện đòi bồi thường khi tài sản bị xâm phạm và Tòa án phải thụ lý để bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu. Và để xác định được mức bồi thường thì cần định giá cho bức ảnh đó - đây là câu chuyện không đơn giản cho Tòa án khi đó không phải là hàng hóa có giá trên thị trường.

2. Phân tích về tài sản

Vật chính là đối tượng của thế giới vật chất theo nghĩa rộng bao gồm cả động vật, thực vật và mọi vật khác vói ý nghĩa vật lí ở mọi trạng thái (rắn, lỏng, khí).

Với ý nghĩa là một phạm trù pháp lí, vật là bộ phận của thế giới vật chất có thể đáp ứng được một nhu cầu nào đó (vật chất) của con người. Tuy nhiên, không phải bất cứ bộ phận nào của thế giới vật chất đều được coi là vật. Vì vậy, có những bộ phận của thế giới vật chất ở dạng này thì được coi là vật nhưng ở dạng khác lại không được coi là vật. Vật được hiểu là đối tượng hữu hình, chiếm một phần của không gian và con người có thể biết được thông qua các giác quan tiếp xúc như cầm, nắm, nhìn, sờ thấy chúng.

Ví dụ: Không khí trong tự nhiên, nước suối, nước sông, nước biển... không được coi là vật. Nhưng nếu các vật này được đóng vào bình nước hay được làm nóng, làm lạnh... lại được coi là vật.

>> Xem thêm:  Hương hỏa là gì ? Khái niệm tài sản, đất hương hỏa được hiểu như thế nào ?

Như vậy, ngoài yếu tố đáp ứng được nhu cầu của con người, vật với tư cách là tài sản phải nằm trong sự chiếm hữu của con người, có đặc trưng giá trị và trở thành đối tượng của các giao dịch dân sự.

Do sự phát triển của khoa học, công nghệ, khái niệm vật trong khoa học pháp lí cũng được mở rộng.

Ví dụ: Phần mềm trong máy tính hoặc chất thải nếu sử dụng làm nguyên liệu sẽ được coi là vật nhưng bình thường không được coi là vật.

Vật là tài sản không chỉ là những vật tồn tại hiện hữu mà còn bao gồm cả những vật (hay tài sản) chắc chắn sẽ có. Điều 175 Bộ luật dân sự năm 2015 đã xác định loại tài sản này là hoa lợi và lợi tức - đây chính là sự gia tăng của tài sản ữong những điều kiện nhất định. Tương tự, tiền và những loại giấy tờ có giá cũng được xác định là những loại tài sản có tính chất đặc biệt.

Cần phân biệt tài sản với khái niệm hàng hoá trong khoa học chính tri - kinh tế học (là sản phẩm do con người tạo ra có giá trị và giá trị sử dụng). Giá trị của hàng hoá được xác định bằng lao động xã hội đã bỏ ra để sản xuất hàng hoá đó. Đất đai, tài nguyên thiên nhiên là vật (tài sản) nhưng không phải hàng hoá vì không gắn với lao động xã hội. Vì vậy, khái niệm tài sản có phạm vi ngoại diên rộng hơn khái niệm hàng hoá.

Ngoài vật, tiền..., tài sản còn được xác định là quyền tài sản theo quy định tại Điều 115 Bộ luật dân sự năm 2015:

"Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác".

Quyền tài sản hiểu theo nghĩa rộng là quyền của cá nhân, tổ chức được pháp luật cho phép thực hiện hành vi xử sự đối với tài sản của mình và yêu cầu người khác phải thực hiện một nghĩa vụ đem lại lợi ích vật chất cho mình. Xét theo ý nghĩa này thì quyền sở hữu cũng là quyền tài sản (vật quyền). Quyền yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ tài sản (trái quyền) cũng là quyền tài sản. Trên cơ sở quan niệm như vậy, Luật La Mã phân loại quyền tài sàn (quyền dân sự) thành vật quyền và trái quyền mà không phân thành quyền tài sản và quyền sở hữu vì suy cho cùng quyền sở hữu tài sản cũng là quyền tài sản.

Điều 115 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền. Theo quy định này, nhà lập pháp muốn nói tới quyền đối nhân, tức là quyền của một chủ thể đối với một chủ thể khác và quyền này trị giá bằng tiền.

Vậy, theo quy định tại Điều 115 thì quyền tài sản là quyền yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ có giá trị bằng một khoản tiền nhất định như trả nợ, bồi thường thiệt hại hoặc yêu cầu người khác chuyển giao giá trị của một vật. Ví dụ: quyền yêu cầu thanh toán giá trị tài sản chung.

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, xã hội, nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự quản lí của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phạm vi tài sản với tư cách là khách thể của quan hệ sở hữu là không hạn chế. Chúng bao gồm toàn bộ các tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng trong xã hội. Nghĩa là quyền sở hữu có thể được xác lập với bất kì loại tài sản nào, miễn là pháp luật không cấm lưu thông dân sự.

>> Xem thêm:  Quy phạm pháp luật về pháp luật áp dụng đối với quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân

Bất động sản và động sản là hai tiêu chí để phân loại tài sản trong quyền sở hữu. Chúng ta có thể nghiên cứu các hệ thống luật chuyên ngành khác như luật kinh doanh bất động sản để tìm hiểu chi tiết về các loại tài sản này.

Có thể thấy: Vật là cơ sở để hình thành các quyền tác động trực tiếp trên vật như quyền sở hữu hay quyền của các chủ thể khác đối với vật. Để thực hiện các quyền năng trên vật thì chủ thể đưa vật trở thành đối tượng trong các giao dịch dân sự, như để thực hiện quyền sử dụng thì chủ sở hữu có thể cho thuê vật, để thực hiện quyền định đoạt thì chủ sở hữu có thể bán, trao đổi, tặng cho vật… Khi đó, thay vì được quyền tác động trực tiếp trên vật thì chủ thể sẽ có quyền yêu cầu một chủ thể khác phải đáp ứng lợi ích cho mình bằng việc trả một khoản tiền hay vật hoặc thực hiện một công việc trị giá được bằng tiền - hay còn được gọi là trái quyền. Trên cơ sở xác lập các giao dịch liên quan đến vật, chủ sở hữu đang chuyển quyền của mình từ dạng vật quyền sang trái quyền

3. Sản nghiệp thương mại là gì ?

Sản nghiệp thương mại là toàn bộ tài sản gồm cả tài sản hữu hình và vô hình thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp của thương nhân phục vụ cho hoạt động thương mại như trụ sở, cửa hàng, kho tàng, trang thiết bị, hàng hoá, tên thương nhân, biển hiệu, nhãn hiệu hàng hoá, mạng tưới tiêu thụ hàng hoá và cung ứng dịch vụ (Điều 5 Luật thương mại năm 1997). Thương nhân được thuê, cho thuê, chuyển nhượng sản nghiệp thương mại theo quy định của pháp luật (Điều 32 Luật thương mại năm 1997). Những vấn để này tiếp tục được quy định trong Luật thương mại năm 2005.

Chủ nhân của một sản nghiệp phải là chủ thể của pháp luật hay một thực thể độc lập có khả năng hưởng quyền và gánh vác nghĩa vụ. Có như vậy chủ nhân của sản nghiệp mới có thể tạo nên tài sản có (các quyền) và tài sản nợ (các nghĩa vụ) của sản nghiệp. Doanh nghiệp tư nhân là một tổ hợp tài sản mở rộng của cá nhân sở hữu nó dù rằng doanh nghiệp tư nhân có tên thương mại riêng và có con dấu riêng. Pháp luật Anh Quốc quan niệm. doanh nghiệp thương nhân đơn lẻ (sole trader enterprise) không tách biệt với cá nhân tạo lập nên nó và lao động trong đó; và thông thường tên thương mại của nó là tên của cá nhân tạo lập ra nó hoặc cũng có thể là tên khác được đặt theo quy định của pháp luật. Ở Hoa Kỳ người ta nói vấn đề liên quan tới tên riêng của doanh nghiệp cá thể (sole proprietorship) như sau: "Người khai thác doanh nghiệp không cần thiết phải dùng tên riêng của mình như là tên thương mại; nó có thể được khai thác dưới tên thương mại hay tên được thừa nhận, chẳng hạn như Data Experts Company. Tuy nhiên một cái tên thương mại như vậy phải được đăng ký tại nhà chức trách tiểu bang hay địa phương thích hợp". Như vậy tên riêng của doanh nghiệp tư nhân không phải là vấn đề gì quá quan trọng về mặt pháp lý khiến người ta phải băn khoăn quá nhiều để mà xuất phát từ đó tưởng tượng ra sự tách bạch giữa sản nghiệp của doanh nghiệp tư nhân và sản nghiệp của chủ nhân nó.

Đối với doanh nghiệp tư nhân, khi doanh nghiệp tư nhân lâm vào tình trạng phá sản, thì sản nghiệp phá sản là toàn bộ sản nghiệp của chủ doanh nghiệp tư nhân, không chỉ là sản nghiệp thuộc nghiệp vụ kinh doanh của anh ta.

Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)

>> Xem thêm:  Thừa tự là gì ? Quy định pháp luật về thừa tự

Câu hỏi thường gặp về sản nghiệp ?

Câu hỏi: Phân biệt khái niệm tài sản và hàng hóa

Trả lời:

Giá trị của hàng hoá được xác định bằng lao động xã hội đã bỏ ra để sản xuất hàng hoá đó. Đất đai, tài nguyên thiên nhiên là vật (tài sản) nhưng không phải hàng hoá vì không gắn với lao động xã hội. Vì vậy, khái niệm tài sản có phạm vi ngoại diên rộng hơn khái niệm hàng hoá.

Câu hỏi: Sản nghiệp thương mại là gì?

Trả lời:

Sản nghiệp thương mại là toàn bộ tài sản gồm cả tài sản hữu hình và vô hình thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp của thương nhân phục vụ cho hoạt động thương mại như trụ sở, cửa hàng, kho tàng, trang thiết bị, hàng hoá, tên thương nhân, biển hiệu, nhãn hiệu hàng hoá, mạng tưới tiêu thụ hàng hoá và cung ứng dịch vụ (Điều 5 Luật thương mại năm 1997). Thương nhân được thuê, cho thuê, chuyển nhượng sản nghiệp thương mại theo quy định của pháp luật (Điều 32 Luật thương mại năm 4997). Những vấn để này tiếp tục được quy định trong Luật thương mại năm 2005.

Câu hỏi: Đặc điểm pháp lý của tài sản là gì?

Trả lời:

Thứ nhất, tài sản là những đối tượng mà con người có thể sở hữu được.

Thứ hai, tài sản phải mang lại những lợi ích nhất định cho con người, có giá trị và trị giá được thành tiền