1. Chung sống với vợ người khác chưa ly hôn sẽ bị xử lý thế nào ?

Xin luật sư Minh Khuê tư vấn. Tôi có quan hệ tình cảm với đồng nghiệp (tôi đang làm trong doanh nghiệp cổ phần). Chúng tôi xác định đến với nhau. Vì cuộc sống gia đình hiện tại cả 2 đều không có hạnh phúc và nhiều bất hòa. Hiện tôi đang làm thủ tục ly hôn trước, khi nào tôi xong thì cô ấy sẽ ly hôn. Nhưng đợt vừa rồi chúng tôi bị chồng cô ý cho người theo dõi phát hiện. Chồng cô ý bắt viết đơn và ký nhưng giờ không chịu, dọa sẽ đưa lên công ty và tung lên mạng, qua tìm hiểu trên trang wed của luatminhkhue thì biết mình vi phạm luật hôn nhân và gia đình.

Nhưng không thấy nói về vi phạm trong doanh nghiệp không. Vậy xin luatminhkhue tư vấn giup liệu chúng tôi có bị đuổi việc không? Vì chúng tôi còn cần đảm bảo cuộc sống để nuôi con ?

Rất mong luật sư tư vấn sớm. Tôi xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn xử lý việc vi phạm luật hôn nhân, gọi: 1900.6162

Trả lời:

1.2 Có vi phạm quy định pháp luật trong doanh nghiệp không?

Theo quy định tại điều 125, Bộ luật lao động năm 2019 thì người sử dụng lao động chỉ được áp dụng hình thức kỷ luật sa thải trong các trường hợp sau đây:

Điều 125. Áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải

Hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong trường hợp sau đây:

1. Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy tại nơi làm việc;

2. Người lao động có hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động hoặc quấy rối tình dục tại nơi làm việc được quy định trong nội quy lao động;

3. Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật. Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 126 của Bộ luật này;

4. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng.

Trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm thiên tai, hỏa hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.

Các trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm: thiên tai, hoả hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và các trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.

Và điều 36 Luật lao động năm 2019:

Điều 36. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do người sử dụng lao động ban hành nhưng phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động với người lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 của Bộ luật này;

đ) Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;

e) Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên;

g) Người lao động cung cấp không trung thực thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật này khi giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng người lao động.

Như vậy trường hợp của bạn là bạn đang có quan hệ tình cảm với một nhân viên trong công ty và bị chồng cô đấy phát hiện và dọa tung tin lên mạng rõ ràng trong trường hợp này của bạn ,ban chưa vi phạm vào điều kiện quy định bên trên để buộc bị sa thải hoặc để người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bạn.Mà trường hợp này của bạn chỉ vi phạm quy định về luật hôn nhân gia đình.

1.2 Hành vi của bạn có bị xử lý về hành vi vi phạm luật hôn nhân gia đình không?

Theo thông tin của bạn thì bạn có quan hệ tình cảm với đồng nghiệp (đã có chồng, chưa ly hôn) nhưng chưa cụ thể là bạn có sống chung với người này như vợ chồng hay không? Vậy chúng tôi xin đưa ra hai trường hợp như sau:

- Thứ nhất: chưa có sống chung như vợ chồng. Nếu trong trường hợp này bạn sẽ không bị xử phạt vi phạm hành chính vì theo luật hành vi để có thể làm căn cứ để xử phạt vi phạm hành chính là "sống chung như vợ chồng".

- Thứ hai: Hai bạn có sống chung như vợ chồng. Nếu trong trường hợp này các bạn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính như sau:

>> Xem thêm:  Ly thân là gì ? Quy định pháp luật về ly thân ?

Theo quy định tại điều 59 nghị định 82/2020/nĐ-CP quy định:

Điều 59. Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng
1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;
c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

Như vậy nếu bạn biết người kia chưa ly hôn chồng mà bạn với người kia chung sống như vợ chồng thì 2 bạn có thể bị phạt hành chính lên đến 05 triệu đồng.

Ngoài ra nếu hành vi này dẫn đến hai vợ chồng nhà họ lý hôn thì bạn còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều 182 Bộ luật hình sư năm 2015 quy định:

Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.

2. Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình ?

Gia đình Việt Nam, như Luật hôn nhân và gia đình đã khẳng định là gia đình kiểu mới, trong đó mọi người phải có nghĩa vụ thương yêu, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Hôn nhân ở Việt Nam là hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng; vợ chong bình đẳng, cùng nhau nuôi dạy con thành những công dân có ích cho xã hội.

Để bảo đảm việc thực hiện nghiêm chỉnh luật hôn nhân và gia đình, trên cơ sở kế thừa và sửa đổi, bổ sung những quy định tại Chương XV BLHS năm 1999, Bộ luật hình sự năm 2015 quy định “Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình” tại Chương XVI.

Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình là những hành vi vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhãn và gia đình Việt Nam.

Thực tiễn đấu tranh chống các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình ở Việt Nam cho thấy những hành vi vi phạm luật hôn nhân và gia đình xảy ra một phần là do tàn dư tư tưởng hổn nhân và gia đình phong kiến đã ăn sâu trong tiềm

- Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân gồm 03 tội. Đó là: Tội cưỡng ép kết hôn, li hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở li hôn tự nguyện; tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng; và tội tổ chức tảo hôn. Trong nhóm tội phạm này, hành vi cưỡng ép li hôn và hành vi cản trở li hôn tự nguyện là hai hành vi mới được quy định trong BLHS năm 2015. Trong khi đó, tội tảo hôn và tội đãng kí kết hôn trái pháp luật đã được quy định trong BLHS năm 1999 nhưng không còn được quy định trong BLHS năm 2015.

>> Xem thêm:  Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo quy định mới 2021

- Các tội xâm phạm chế độ gia đình gồm 04 tội. Đó là: Tội loạn luân, tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình; tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng và tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại. Trong đó, tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại là tội mởi được bô sung trong BLHS năm 2015.

3. Như thế nào là hành vi sống chung như vợ chồng dẫn đến bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự:

Chung sống như vợ chồng được hiểu là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng. Nếu nam, nữ chỉ lén lút quan hệ tình dục với nhau mà không sống chung thì không coi là chung sống như vợ chồng. Theo hướng dẫn tại tiểu mục 3.1, Mục 3 Thông tư liên tịch số 01/2001 của liên ngành các cơ quan tư pháp, thì: Chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình.

Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Ly hôn khi vừa đăng kí kết hôn được 2 ngày ? Có yêu cầu hủy hôn được không ?

>> Xem thêm:  Mẫu đơn xin ly hôn bản cập nhật mới nhất năm 2021 ? Hướng dẫn cách viết đơn xin ly hôn

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Mức phạt hành chính hành vi ngoại tình năm 2021 tối đa là bao nhiêu?

Trả lời:

Theo quy định tại điều 59 nghị định 82/2020/nĐ-CP quy định:

Điều 59. Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng
1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;
c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

Như vậy mức phạt hành chính tối đa là 05 triệu đồng đối với hành vi ngoại tình.

Câu hỏi: Đã có vợ nhưng có tình cảm với người phụ nữ khác thì có bị phạt không?

Trả lời:

Theo quy định của nghị định định 82/2020/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trog lĩnh vực hôn nhân, gia đình có quy định hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chống là hành vi sống chung với người khác như vợ chồng.

Vậy nếu bạn chỉ có tình cảm với người kia như chưa đến mức sống chung như vợ chồng thì chưa đủ căn cứ để tiến hành xử phạt vi phạm hành chính đổi với bạn.

Câu hỏi: Sống chúng với người đã có vợ nhưng không biết là người kia đã có vợ thì có bị xử phạt không?

Trả lời:

Theo quy định tại điều 59 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định về hành vi bị coi là vi phạm chế độ hôn nhân mtj vợ, một chồng là:

 Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

Như vậy nếu bạn chung sống với người kia nhưng bạn không biết việc anh ta đã có vợ thì bạn sẽ không bị xử phạt.