Vào Năm 2008, do tuổi bà Nội đã cao nên Nội đã kêu các con lại để lập di chúc. Về phần di chúc thì có 4 người con thì chia đều cho nhau. Vụ việc vẫn không có gì xảy ra.

Cho đến đầu năm 2015 thì bà Nội muốn mua miếng đất để làm mộ sau khi bà Nội trăm tuổi, do không đủ tiền mua nên mới vay ngân hàng với số tiền là 100tr( triệu) và đã mua ở gần nhà của người A ở Hậu Giang và cho người A đứng tên để tiện cho việc chăm lo phần mộ sau này. Do bà Nội đã lớn tuổi và người A lại ở xa, nên bà Nội đã ủy quyền cho người B đứng ra trên mặt giấy tờ để vay tiền ngân hàng. Người B này nắm hết tất cả giấy tờ nhà của của bà Nội và lấy tiền cho thuê nhà hiện bà Nội đang ở với số tiền hàng tháng là 10tr. Về lý do mà người B lấy số tiền cho thuê nhà có được là lo sinh hoạt hằng ngày cho bà Nội và người B chưa có vợ, nên người A và người D điều đồng ý. Cho đến khi vay tiền được và mua miếng đất thì người A thắc mắc sau không có chữ ký của A và D mà sao người B được bà Nội ủy quyền lại đi vay tiền ngân hàng được. Nhưng A và D chỉ thắc mắc nhưng không nói ra. Đến khi có người muốn mua nhà của bà( vì bà muốn bán khi mấy năm trước). Thì người A và D nói với bà Nội là có người cần mua và muốn xem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nơi bà Nội ở. Thì Bà nói bà không giữ mà người B giữ nên kêu A và D mở tủ của B tìm ( do B lúc đó đi việc) thì không thấy chỉ thấy giấy photo coppy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại căn nhà bà đang ở nhưng điều bất ngờ là hiện người đứng tên giấy tờ là người B đứng tên. Thì vụ việc mới phơi bày ra vì sao chỉ có người B mà vẫn vay tiền được.

Thấy vụ việc này là không đúng vì sao từ giấy tờ từ bà Nội lại sang qua tên của người B giấy chỉ hiệu lực lúc cuối năm 2014 mà trong nhà không ai hay biết kể cả bà Nội cũng không biết điều này. Người A và người B mới hỏi lại mẹ mình sao giấy tờ lại như vậy thì bà nói không biết. Và tìm trong xấp giấy tờ trong tủ người B thì thấy toàn giấy photo coppy trong đó có nhiều giấy tờ và quan trọng các giấy tờ liên quan như sau:

1/ Giấy hủy di chúc năm 2008 do bà Nội lập.

 2/ Giấy nhận thừa kế của bà Nội từ phần thừa kế mà bà đã cho người C, nay nhập lại cho bà Nội theo hàng thừa kế thứ nhất.

3/ Hợp đồng tặng cho đất và nhà cửa tại nơi bà sinh sống.

Thấy vụ việc này người A và D không nói cho bà hay vì sợ bà lớn tuổi và người B hay ăn nhậu về kiếm chuyện người D. Nên A và D có nhờ luật sư tại Cần Thơ với yêu cầu là làm giấy tờ chuyển sang tên người mẹ lại. Trong thời gian khoảng 1 tháng thì để hoàn thành hồ sơ để khởi kiện thì luật sư cho biết là giấy tờ 1 2 3 là được công chứng ở phòng công chứng 24/giờ, các giấy tờ này thì người làm chứng là những người lạ trong đó có bảo vệ ở phòng công chứng 24/giờ. Luật sư nói với người A và D hỏi bà Nội xem có ký các giấy tờ 1 2 3 không. Khi A và D về hỏi mẹ mình thì bà nói chỉ có mấy người do người B dẫn về nhà khi đó bà đang nằm nghỉ trưa thì mấy người này lại nói bà khỏi đứng dậy nằm lăn tay được rồi bà chỉ tưởng là người B kêu mấy người này lại để làm giấy nhận di chúc từ người C theo hàng thừa kế thứ nhất. Khi lăn tay và ký giấy tờ thì những người này không đọc cho bà nghe. Bà tin con mình nên đã làm theo cho đến nay được A và D nói nên bà mới biết. Bà đã nói với A và D làm lại giấy tờ cho mình. Khi A và D nói cho B biết và có mặt bà ở đó B không nói gì vì bằng chứng đã rõ. Người không nói mình lo cho mẹ từ đó đến giờ nên đáng được như vậy.

Sau đó luật sư nói A và D thương lượng với B ký giấy chuyển tên sang cho bà và B đã ký. Nhưng nếu muốn đổi sang tên lại thì phải trả 100tr cho ngân hàng mới rút giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nhưng đến khi A và D kiếm được tiền thì B không chịu đi rút giấy ra và nói với A và D " tao không rút không ký gì hết cho tụi mày mất trắng". Hiện vụ việc là vậy ngày 20/10/2015. Luật sư thì cứ kêu thương lượng hoài. Trong lúc ký chiệu đồng ý sang tên thì B hẹn với luật sư mà A và D nhờ để nói chuyện riêng cho đến nay vụ việc cứ kéo dài thời gian ra. Nay bà Nội đã 83 tuổi bà rất yếu.

Em có thắc mắc như sau:

1/ Những giấy tờ mà người B làm vậy có đúng không khi đã lừa bà Nội. Nhưng điều lạ là giấy chứng minh của bà đã hết hạn mà phòng công chứng vẫn nhận là công chứng. Điều đó có đúng pháp luật không ?

2/ Luật sư nói để tòa án nhận hồ sơ vụ án này thì không đủ? Nhưng em thấy giấy tờ thì đã rõ ở phòng công chứng. Bà Nội thì không tặng cho căn nhà. Giấy tờ người làm chứng thì toàn là người ở phòng công chứng ?

3/ Anh Chị luật sư cho em hỏi nếu vụ này đưa ra tòa thì người B có chịu trách nhiệm hình sự hay không. Vì trị giá căn nhà là khoảng 8 tỷ (Vì có người đã trả giá như vậy) ?

4/ Theo anh chị thì nếu như luật sư kéo dài thời gian như vậy. Bà Nội lỡ chết thì người A và D có thể kiện được người B không ?

Anh, chị giúp em tìm hướng đi vì em muốn ba em lấy lại giấy tờ sớm. Mong anh chị hướng dẫn em để khởi kiện người B. Vì người B đã cố tình để cho sự việc kéo dài ra để bà trăm tuổi chết không đối chứng. Anh chị luật sư có thể chỉ em luật sư nào giỏi ở Cần thơ để giới thiệu cho em.

Em xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật Dân sự công ty Luật Minh khuê.

 

 Tư vấn pháp luật thừa kế ?

Luật sư tư vấn luật dân sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến công ty Luật Minh Khuê, câu hỏi của bạn chúng tôi xin phép được trả lời như sau:

Cơ sở pháp lý

Bộ luật dân sự 2005

Bộ luật tố tụng dân sự 2004 ( sửa đổi, bổ sung 2011)

Luật công chứng 2014

Nghị định số 05/1999/NĐ-CP ngày 03/02/1999 của Chính phủ về chứng minh nhân dân

Nghị định số 170/2007/NĐ-CP ngày 19/11/2007 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 05/1999/NĐ-CP ngày 03/02/1999 của Chính phủ về chứng minh nhân dân

Thông tư số 27/2012/TT-BCA ngày 16/5/2012 của Bộ Công an quy định về mẫu CMND

Nghị định số 136/2007/NĐ-CP ngày 17/8/2007 của Chính phủ quy định về xuất nhập cảnh

Nội dung tư vấn:

- Thứ nhất, Trả lời cho câu hỏi: những giấy tờ mà người B làm vậy có đúng không khi đã lừa bà Nội? Giấy chứng minh của bà đã hết hạn mà phòng công chứng vẫn nhận là công chứng. Điều đó có đúng pháp luật không ?

  • Về giá trị pháp lý của văn bản hủy di chúc:

Khoản 1 Điều 662 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc vào bất kỳ lúc nào.”

Ngoài ra, tại Điều 56 Luật công chứng 2014 quy định:

" Điều 56. Công chứng di chúc

1. Người lập di chúc phải tự mình yêu cầu công chứng di chúc, không ủy quyền cho người khác yêu cầu công chứng di chúc.

2. Trường hợp công chứng viên nghi ngờ người lập di chúc bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình hoặc có căn cứ cho rằng việc lập di chúc có dấu hiệu bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép thì công chứng viên đề nghị người lập di chúc làm rõ, trường hợp không làm rõ được thì có quyền từ chối công chứng di chúc đó.

Trường hợp tính mạng người lập di chúc bị đe dọa thì người yêu cầu công chứng không phải xuất trình đầy đủ giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này nhưng phải ghi rõ trong văn bản công chứng.

3. Di chúc đã được công chứng nhưng sau đó người lập di chúc muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ di chúc thì có thể yêu cầu bất kỳ công chứng viên nào công chứng việc sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ đó. Trường hợp di chúc trước đó đang được lưu giữ tại một tổ chức hành nghề công chứng thì người lập di chúc phải thông báo cho tổ chức hành nghề công chứng đang lưu giữ di chúc biết việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đó.”

Như vậy, việc hủy di chúc phải do chính người lập di chúc thực hiện. Văn bản hủy di chúc năm 2008 nêu trên không có giá trị pháp lý và  là một giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối theo điều 132 Bộ luật dân sự 2005 vì B đã tự ý lập văn bản hủy di chúc năm 2008 đó và cố ý làm cho bà nội bạn nhầm lẫn rằng bà đang làm giấy nhận di chúc từ người C theo hàng thừa kế thứ nhất sau đó yêu cầu bà nội bạn điểm chỉ trong khi bà nội bạn không biết về việc hủy di chúc đó.

Công chứng viên đã công chứng cho văn bản hủy di chúc đó phải Chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước người yêu cầu công chứng về văn bản công chứng của mình (theo điểm g, khoản 2 điều 17 Luật công chứng 2014).

  • Về giá trị pháp lý của hợp đồng tặng cho nhà đất giữa bà nội bạn và B:

Vì B đã cố ý gây nhầm lẫn để bà nội bạn điểm chỉ vào hợp đồng tặng cho nhà và đất ở nên đương nhiên hợp đồng tặng cho này không có giá trị pháp lý vì nó không phải là hợp đồng theo đúng bản chất của nó mà chỉ là hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối theo điều 132 Bộ luật dân sự 2005.

“ Điều 132. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa 

Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình.”

  • Về việc dùng Chứng minh thư hết hạn để công chứng.

Theo quy định tại Điều 1 Nghị định số 170/2007/NĐ-CP ngày 19/11/2007 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 05/1999/NĐ-CP ngày 03/02/1999 của Chính phủ về chứng minh nhân dân và Khoản 2 Điều 4 Thông tư số 27/2012/TT-BCA ngày 16/5/2012 của Bộ Công an quy định về mẫu CMND thì thời hạn sử dụng CMND là 15 năm, kể từ ngày cấp, đổi, cấp lại. 

 CMND chỉ được coi là hợp pháp khi nó còn giá trị lưu hành và không trái với quy định của Nghị định số 05/1999/NĐ-CP của Chính phủ. Việc chứng nhận trong hoạt động công chứng chỉ được coi là xác thực khi nó có các căn cứ xác thực, và căn cứ xác thực thì phải dựa vào các quy định của pháp luật hiện hành.

Luật công chứng 2014 quy định hồ sơ yêu cầu công chứng phải bao gồm bản sao giấy tờ tùy thân của người yêu cầu công chứng, Ngoài chứng minh thư nhân dân thì theo khoản 3, điều 4 Nghị định số 136/2007/NĐ-CP ngày 17/8/2007 của Chính phủ quy định về xuất nhập cảnh thì Hộ chiếu quốc gia được sử dụng thay thế CMND.

Do vậy để xác định tính hợp pháp của việc công chứng cần xem xét việc văn phòng công chứng đó đã căn cứ vào loại giấy tờ tùy thân nào.

- Thứ hai, Trả lời cho câu hỏi: Luật sư nói để tòa án nhận hồ sơ vụ án này thì không đủ? Nhưng em thấy giấy tờ thì đã rõ ở phòng công chứng. Bà Nội thì không tặng cho căn nhà, giấy tờ người làm chứng thì toàn là người ở phòng công chứng.

 Trong vụ việc trên, bạn muốn khởi kiện vụ án ra tòa án, nếu mục đích của bạn là mong muốn lấy lại giấy tờ sớm thì tốt nhất Bà nội bạn nên khởi kiện vụ án dân sự với yêu cầu giải quyết tranh chấp về tài sản gắn liền với đất. ( bà nội bạn có thể ủy quyền cho người khác thực hiện việc khởi kiện). Khi khởi kiện về tài sản gắn liền với đất thì sẽ không phải qua thủ tục hòa giải tại UBND cấp xã/phường/thị trấn trước khi khời kiện ra tòa án.

- Thứ ba, Trả lời cho câu hỏi: Nếu vụ này đưa ra tòa thì người B có chịu trách nhiệm hình sự hay không, vì trị giá căn nhà là khoảng 8 tỷ (có người đã trả giá như vậy) ?

Để xác định B có phải chịu trách nhiệm hình sự không cần căn cứ vào tình tiết vụ án và con đường giải quyết tranh chấp mà gia đình bạn lựa chọn.

- Về bản chất tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự cụ thể tại Khoản 7 Điều 25 BLTTDS do đó nên giải quyết theo con đường Tố tụng dân sự để nhanh chóng và đơn giản hơn.

- Trường hợp bạn muốn giải quyết theo Tố tụng Hình sự thì bước đầu tiên bạn phải trình báo cơ quan công an về hành vi của B. Cơ quan điều tra sẽ xác định có dấu hiệu phạm tội hình sự trong vụ án này không ? Trường hợp xác định  B có dấu hiệu phạm tội hình sự thì vụ án sẽ được giải quyết theo thủ tục tố tụng hình sự, các yêu cầu về dân sự có thể được giải quyết luôn hoặc tách riêng thành vụ án dân sự nếu chưa có đủ căn cứ. Tuy nhiên giải quyết theo thủ tục tố tụng hình sự tốn nhiều thời gian, thủ tục phức tạp và mục đích chính là trừng phạt người phạm tội chứ không phải là giải quyết các yêu cầu về dân sự, Nhiều trường hợp không đủ căn cứ để khởi tố vụ án hình sự thì bạn lại phải bắt đầu thủ tục khởi kiện vụ án dân sự gây lãng phí thời gian và tiền bạc. Do đó bạn nên khởi kiện vụ án theo thủ tục tố tụng dân sự.

- Thứ tư, Trả lời cho câu hỏi: Nếu như luật sư kéo dài thời gian như vậy, bà Nội lỡ chết thì người A và D có thể kiện được người B không ?

Trường hợp Bà Nội chết, A và D có thể khởi kiện để yêu cầu  tòa án giải quyết các tranh chấp về thừa kế tài sản Theo điều 25 bộ luật tố tụng dân sự 2004.

Thời hiệu khởi kiện về thừa kế là mười năm kể từ thời điểm mở thừa kế theo quy định tại Điều 645 Bộ luật dân sự 2005.

- Thủ tục khởi kiện vụ án dân sự:

Được thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2004, bao gồm các bước sau:

Bước 1: Thu thập chứng cứ, tài liệu chuẩn bị khởi kiện:

Thu thập chứng cứ để xác định điều kiện khởi kiện vụ án tranh chấp về tài sản gắn liền với đất, chứng minh quyền khởi kiện cũng như để bảo vệ quyền và lợi ích trong quá trình tham gia tố tụng.

Bước 2: Chuẩn bị hồ sơ khởi kiện:

Gồm đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo.

Bước 3: Nộp hồ sơ khởi kiện tại Tòa án.

Các hình thức nộp đơn như: Nộp đơn khởi kiện trực tiếp tại Tòa án hoặc nộp qua đường bưu điện

 Bước 4: Nộp tiền tạm ứng án phí.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được giấy báo của tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí tại Tòa án.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT DÂN SỰ.