BỘ NGOẠI GIAO

******

Số: 60/2004/LPQT

Hà Nội, ngày 26 tháng 07 năm 2004

Bản ghi nhớgiữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộnghòa nhân dân Băng-la-đét về hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp có hiệu lực từngày 22 tháng 03 năm 2004.

TL. BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO
KT. VỤ TRƯỞNG VỤ LUẬT PHÁP VÀ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ
Phó Vụ Trưởng




Nguyễn Hoàng Anh

BẢN GHI NHỚ

GIỮACHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒANHÂN DÂN BĂNG-LA-ĐÉT VỀ HỢP TÁC TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP

Chính phủ nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Băng-la-đét, dưới đâyđược gọi là các Bên ký kết;

Nhằm tăng cường các mối quan hệthân thiện hiện có giữa hai nước thông qua hợp tác phát triển trong các lĩnhvực khoa học và công nghệ nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp, phát triển côngnghệ giống lúa lai, chế biến và đóng gói sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp liêndoanh về chế tạo máy nông nghiệp, công nghiệp dựa vào nông nghiệp, công nghệsinh học, nghiên cứu và các dịnh vụ khuyến nông, phát triển nguồn nhân lực,quản lý trang trại, phát triển hệ thống nông trại, cơ giới hóa nông nghiệp, cáchoạt động phi nông nghiệp dựa vào nông nghiệp…;

Xem xét đến những thuận lợi cóđược từ mối quan hệ hợp tác hai bên trong các lĩnh vực đã đề cập trên sẽ manglại lợi ích cho cả hai nước;

Đã đi đến thỏa thuận sau:

Điều 1. Các Bên ký kết sẽthúc đẩy hợp tác phát triển trong các lĩnh vực khoa học, công nghiệp nôngnghiệp, sản xuất lương thực, phát triển công nghệ giống lúa lai, chế biến vàđóng gói sản phẩm nông nghiệp, các khu công nghiệp liên doanh về chế tạo dụngcụ nông nghiệp, các ngành công nghiệp dựa vào nông nghiệp, công nghệ sinh học,nghiên cứu và dịch vụ khuyến nông, phát triển nguồn nhân lực, quản lý trangtrại, phát triển hệ thống nông trại, cơ giới hóa nông nghiệp, các hoạt động phinông nghiệp dựa vào nông nghiệp… giữa hai nước thông qua các hoạt động hợp tác,cùng nhau thực hiện các chương trình trao đổi sản phẩm khoa học, thông tin vàcán bộ.

Điều 2. Những hoạt độngchung này sẽ được các Bên ký kết quyết định và thực hiện thông qua các thủ tụcđã thống nhất. Các hoạt động hợp tác như vậy sẽ là môi trường lành mạnh, ổnđịnh và bao trùm lên các lĩnh vực khoa khoa học và công nghệ nông nghiệp, sảnxuất lương thực, phát triển công nghệ giống lúa lai, chế biến và đóng gói sảnphẩm nông nghiệp, các khu công nghiệp liên doanh về chế tạo máy nông nghiệp,các ngành công nghiệp dựa vào nông nghiệp, công nghệ sinh học, nghiên cứu vàdịch vụ khuyến nông, phát triển nguồn nhân lực, quản lý trang trại, phát triểnhệ thống nông trại, cơ giới hóa nông nghiệp, các hoạt động phi nông nghiệp dựavào nông nghiệp, quản lý dịch hại tổng hợp, các hoạt động sau thu hoạch, traođổi nguyên liệu và thông tin khoa học, hướng dẫn các khóa đào tạo, hội thảo,hội nghị, và các diễn đàn thảo luận, nghiên cứu thực địa, các ấn phẩm chung vànhiều lĩnh vực khác như đã được hai Bên thống nhất ở trên.

Điều 3. Các Bên ký kết vàthúc đẩy hợp tác trong thời gian ngắn hạn và trung hạn trong khuôn khổ các hoạtđộng chung đã được đề cập ở Điều 2, các kế hoạch hành động hàng năm sẽ được xâydựng trên cơ sở thỏa thuận giữa các Bên nhầm đạt được các mục tiêu của Bản ghinhớ này.

Điều 4. Nhóm công tácnông nghiệp chung sẽ được thành lập để hướng dẫn, đánh giá tiến triển của cáchoạt động và tạo điều kiện thuận lợi cho sự hợp tác theo Bản ghi nhớ này. Nhómcông tác chung sẽ họp mỗi năm một lần luân phiên ở Việt Nam và Băng-la-đét.

Mỗi Bên sẽ bổ nhiệm một Thư kýđiều hành chịu trách nhiệm điều phối, giám sát tất cả các hoạt động được thựchiện theo Bản ghi nhớ này. Thư ký điều hành sẽ là thành viên thường trực củaNhóm công tác chung.

Trong thời gian chuyển tiếp giữacác cuộc hợp của Nhóm công tác chung, các Thư ký điều hành sẽ giữ liên lạc vớinhau để xây dựng chương trình làm việc và điều phối.

Điều 5. Theo Bản ghi nhớnày, các cơ quan điều phối được chỉ định sẽ là Bộ Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Nôngnghiệp của Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Băng-la-đét.

Điều 6. Nhằm thu hút sựquan tâm rộng rãi, Bản ghi nhớ này cho phép các cơ quan khác của Chính phủ, cácgiới kinh tế và khoa học cũng như khu vực tư nhân có quan tâm của cả hai nướcđược tham gia vào sự hợp tác nêu trên.

Điều 7. Bên cử người sẽchịu chi phí đi lại còn Bên nhân người sẽ chịu trách nhiệm tiếp đón. Các hoạtđộng theo Bản ghi nhớ này phải phù hợp với khả năng tài chính và nhân sự và tuântheo các luật và quy định của mỗi nước.

Điều 8. Bản ghi nhớ nàysẽ không ảnh hưởng đến những cam kết của các Bên theo các thỏa thuận songphương hiện có giữa hai nước.

Điều 9. Bản ghi nhớ nàysẽ bắt đầu có hiệu lực từ khi hai Bên ký và sẽ tiếp tục có hiệu lực trong giaiđoạn 5 năm. Bản ghi nhớ này có thể được áp dụng trong giai đoạn tiếp theo sựthỏa thuận của hai Bên. Một trong hai Bên có thể chấm dứt hiệu lực của Bản ghinhớ này bằng cách gửi thông báo trước ít nhất 6 tháng về ý định chấm dứt hiệulực của Bản ghi nhớ này. Việc chấm dứt hiệu lực Bản ghi nhớ như vậy sẽ khôngảnh hưởng đến giá trị pháp lý và thời hạn của dự án/kế hoạch đã có và đang đượcthực hiện theo Bản ghi nhớ này và các hoạt động đang tiến hành sẽ tiếp tục chođến khi hoàn thành.

Điều 10. Bản ghi nhớ nàycó thể được bổ sung hoặc sửa đổi theo sự thỏa thuận của các Bên.

Để làm chứng, những người ký têndưới đây, được sự ủy quyền hợp thức của Chính phủ nước mình, đã ký và đóng dấuvào Bản ghi nhớ này.

Làm tại Đắc-ca ngày 22 tháng 3năm 2004, thành hai bản chính, mỗi bản bằng tiếng Việt, tiếng Băng-la-đét vàtiếng Anh. Trong trường hợp có bất đồng, văn bản tiếng Anh sẽ được sử dụng làmcăn cứ.

THAY MẶT CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA NHÂN DÂN BĂNG-LA-ĐÉT
Thứ Trưởng Bộ Nông Nghiệp




A.S.M. Áp-đun Ha-lim

THAY MẶT CHÍNH PHÚ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Thứ Trưởng Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn



Bùi Bá Bổng