BỘ NGOẠI GIAO

*******

Số: 69/2004/LPQT

Hà Nội, ngày 02 tháng 8 năm 2004

Bản ghi nhớ giữa Chính phủ nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Ma-lai-xi-a về hợp tác tronglĩnh vực giáo dục có hiệu lực từ ngày 21 tháng 4 năm 2004./.

TL. BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO
KT. VỤ TRƯỞNG VỤ LUẬT PHÁP VÀ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ
PHÓ VỤ TRƯỞNG




Nguyễn Hoàng Anh

BẢN GHI NHỚ

GIỮACHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ MA-LAI-XI-A VỀHỢP TÁC TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC

Chính phủ nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Ma-lai-xi-a (sau đây gọi riêng lẻ là “mỗi Bên”,và gọi chung là “hai Bên”);

Mong muốn tăng cường quan hệ hữunghị giữa hai nước trong lĩnh vực giáo dục;

Đánh giá cao tầm quan trọng củagiáo dục như là một nhân tố phát triển kinh tế cũng như một biện pháp nhằm đẩymạnh mối quan hệ giữa hai dân tộc;

Tin tưởng rằng việc hợp táctrong lĩnh vực giáo dục sẽ có lợi cho cả hai Bên;

Đã đồng ý thỏa thuận những điềukhoản sau:

Điều 1. Mục tiêu

Mục tiêu của Bản ghi nhớ này làthúc đẩy việc hợp tác trong lĩnh vực giáo dục để phát triển và trao đổi trithức vì mục đích hai Bên cùng có lợi. Đối với vấn đề này, hai Bên đã thỏa thuậnthiết lập một mối liên hệ học thuật.

Điều 2. Lĩnh vực hợp tác

Để thực hiện mục tiêu của Bảnghi nhớ này, mỗi Bên sẽ:

(a) tiến hành tạo điều kiện choviệc trao đổi các nhà khoa học, giảng viên, chuyên gia và sinh viên cho cácchương trình vì lợi ích của cả hai Bên. Việc trao đổi này bao gồm giảng dạy,nghiên cứu mà kết quả sẽ là báo cáo hay ấn phẩm chung hoặc tham quan khảo sát;

(b) thực hiện việc cấp học bổngcho sinh viên học tập tại các trường đại học được công nhận ở hai nước;

(c) tiến hành phát triển cácchương trình hợp tác song phương giữa các trường đại học hàng đầu trong cáclĩnh vực đạo tạo nghề, kỹ thuật và đào tạo đại học cả hai Bên cùng có lợi;

(d) tiến hành việc khuyến khíchđào tạo các nhà quản lý giáo dục và giáo viên;

(e) nghiên cứu khả năng chuyểnđổi tín chỉ và các chương trình tương đương giữa các trường đại học được côngnhận ở hai nước và khả năng công nhận học vị, các bằng cấp về đào tạo nghề vàđào tạo chuyên nghiệp của nhau;

(f) khuyến khích việc trao đổitài liệu khoa học, trang thiết bị dạy học, thông tin và các tài liệu hướng dẫncũng như việc tổ chức các cuộc triển lãm và hội thảo có tính chất chuyên môn;

(g) hỗ trợ việc giúp đỡ lẫn nhautrong lĩnh vực công nghệ thông tin, máy tính, toán học và khoa học;

(h) thực hiện các hình thức hợptác khác mà đã được hai Bên cùng quyết định.

Điều 3. Sắp xếp chương trình

Chi tiết cụ thể về bất cứ chươngtrình trao đổi nào sẽ do Bộ Giáo dục và Đào tạo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam và Bộ Giáo dục Ma-lai-xi-a sắp xếp và phải được sự chấp thuận của cảhai Bên, với điều kiện là việc trao đổi giáo viên, sinh viên hay tài liệu trêncơ sở có đi có lại, những không nhất thiết phải tiến hành đồng thời.

Điều 4. Chi phí

Chi phí cho các hoạt động hợptác trong khuôn khổ Bản ghi nhớ này sẽ được cấp dưới hình thức được hai Bêncùng quyết định và tùy thuộc vào khả năng tài chính của mỗi Bên.

Điều 5. Nhóm công tác chung

Hai Bên sẽ cùng thành lập Nhómcông tác chung để thực hiện Bản ghi nhớ này. Thay mặt cho Chính phủ Việt Nam trong Nhóm công tác gồm một Trưởng nhóm là đại diện Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam với sự tham gia của các cơ quan hữu quan thích hợp. Thay mặt cho Chính phủ Ma-lai-xi-atrong Nhóm công tác gồm một Trưởng nhóm là đại diện Bộ Giáo dục Ma-lai-xi-a vớisự tham gia của các cơ quan hữu quan thích hợp. Nhóm công tác chung sẽ nhóm họpđịnh kỳ ít nhất một lần một năm hoặc do hai Bên tự quyết định để đánh giá việcthực hiện Bản ghi nhớ này.

Điều 6. Tính phù hợp với luậtpháp

Bản ghi nhớ này được thực hiệnphù hợp với các chính sách quốc gia, luật pháp và các quy định hiện hành củamỗi Bên, đồng thời phải phù hợp với các cam kết quốc tế được quy định trong cácđiều ước quốc tế mà mỗi Bên là thành viên.

Điều 7. Bảo mật

Trong khi thực hiện Bản ghi nhớnày, mỗi Bên sẽ tiến hành việc bảo mật các tài liệu, thông tin và các dữ liệukhác nhận được từ phía đối tác.

Điều 8. Quyền sở hữutrí tuệ

Việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệsẽ được thực thi phù hợp với điều luật và quy tắc quốc tế hiện hành.

Việc sử dụng tên, phù hiệu hoặcbiểu trưng hay bất cứ loại hình nào khác của mỗi Bên để xuất bản, dùng trongtài liệu hay bài viết đều bị cấm dưới mọi hình thức nếu như chưa được phép củaphía đối tác.

Điều 9. Tạm ngừng thi hành

Mỗi Bên có quyền, với lý do anninh luật quốc gia, y tế hay trật tự công cộng tạm ngừng việc thực hiện mộtphần hay toàn bộ Bản ghi nhớ. Việc tạm ngừng thực hiện này sẽ có hiệu lực ngaysau ba mươi (30) ngày kể từ ngày một Bên nhận được thông báo bằng văn bản củaBên kia về ý định tạm ngừng thực hiện Bản ghi nhớ thông qua đường ngoại giao.

Điều 10. Bổ sung và sửa đổi

Bất cứ Bên nào đều có thể đềnghị bằng văn bản để bổ sung hay sửa đổi đối với Bản ghi nhớ này. Bất cứ việcbổ sung hay sửa đổi nào đều phải được làm bằng văn bản và là một phần cấu thànhcủa Bản ghi nhớ này. Việc bổ sung hay sửa đổi sẽ có hiệu lực vào ngày do haiBên cùng quyết định.

Điều 11. Giải quyết tranh chấp

Bất cứ tranh chấp nào phát sinhtrong việc giải thích và áp dụng các điều khoản của Bản ghi nhớ này sẽ đượcgiải quyết bằng hòa giải thông qua thương lượng và đàm phán giữa hai Bên màkhông phải thông qua bất cứ bên thứ ba nào hay thông qua Trọng tài quốc tế.

Điều 12. Ngày hiệu lực, thờihạn hiệu lực và chấm dứt hiệu lực

(a) Bản ghi nhớ này sẽ có hiệulực kể từ ngày ký. Bản ghi nhớ có giá trị trong thời hạn là năm (05) năm, trừkhi một Bên thông báo bằng văn bản ý định chấm dứt Bản ghi nhớ này cho Bên kia,thông qua đường ngoại giao, ít nhất sáu (06) tháng trước thời điểm Bên đó muốnBản ghi nhớ chấm dứt hiệu lực.

(b) Bản ghi nhớ này sẽ được tựđộng gia hạn thêm năm (05) năm tiếp theo, trừ khi một Bên thông báo bằng vănbản ý định chấm dứt Bản ghi nhớ này cho Bên kia, thông qua đường ngoại giao, ítnhất sáu (06) tháng trước khi Bản ghi nhớ chấm dứt hiệu lực. Mỗi Bên có quyềnchấm dứt hiệu lực Bản ghi nhớ bằng văn bản thông báo cho Bên kia ít nhất sáu(06) tháng trước thời điểm Bên đó muốn Bản ghi nhớ chấm dứt hiệu lực.

(c) Việc Bản ghi nhớ này chấmdứt hiệu lực sẽ không làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của các Bên phát sinhtheo quy định của Bản ghi nhớ này trước ngày Bản ghi nhớ chấm dứt hiệu lực.

Để làm bằng, những người đượcChính phủ hai Bên ủy quyền đầy đủ, đã ký Bản ghi nhớ này.

Làm tại Putrajaya ngày 21 tháng4 năm 2004 thành hai bản gốc, mỗi bản bằng tiếng Việt, tiếng Malay và tiếngAnh; các văn bản đều có giá trị như nhau. Trong trường hợp có sự giải thíchkhác nhau, văn bản tiếng Anh sẽ được dùng để đối chiếu./.

THAY MẶT CHÍNH PHỦ MA-LAY-XI-A
BỘ TRƯỞNG GIÁO DỤC




Dato’ Hishammuddin Tun Hussein

THAY MẶT CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO




Nguyễn Minh Hiển