1. Nhiệm vụ chính sách pháp luật

Các nhiệm vụ của chính sách pháp luật là một nội dung quan trọng của chính sách pháp luật, có mối liên hệ chặt chẽ với các mục tiêu của chính sách pháp luật.

Nếu như mục tiêu bao gồm kết quả nhất định trong tương lai, các tư tưởng, giá trị quan trọng nhất nào đó, thì các nhiệm vụ, khi đã được quyết định bởi các mục tiêu nói trên, là những giai đoạn, những cách thức và những hình thức văn minh của việc đạt được các mục tiêu đã được tuyên bố, là những định hướng pháp lý đặc biệt nào đó cụ thể hóa các mục tiêu của chính sách pháp luật.

Các mục tiêu dài hạn của chính sách pháp luật xác định cho chính mình cả các nhiệm vụ dài hạn của chính sách pháp luật, trong đó có các nhiệm vụ quan trọng nhất, có ý nghĩa nhất, cấp bách nhất và các nhiệm vụ đó được gọi là các ưu tiên hay các nhiệm vụ ưu tiên hoặc các định hướng ưu tiên.

2. Bàn luận về nhiệm vụ chính sách pháp luật

Chính sách pháp luật cần phải có các nhiệm vụ ưu tiên, các nhiệm vụ ưu tiên có thể là dài hạn, trung hạn, ngắn hạn.

Sự hiện có trong chính sách pháp luật các nhiệm vụ ưu tiên nhất định cho phép tập trung sự quan tâm đến việc lựa chọn các phương tiện và các giải pháp đúng đắn cho việc đạt được các mục tiêu đã được đặt ra, tập trung đến cái cơ bản, ngoài ra, tạo khả năng liên kết, tích hợp các nỗ lực của tất cả các chủ thê’ trong quá trình xây dựng và thực hiện các tư tưởng pháp luật mang tính chiến lược - các tư tưởng mà không có bất kỳ sự nghi ngờ nào cần phải được phản ánh tích cực nhất, đầy đủ nhất trong chất lượng của chính sách pháp luật đang được tiến hành ở nước ta.

Chính sách pháp luật xác định các định hướng trước tiên của phát triển pháp luật, soạn thảo các phương thức và các phương tiện tối tru để thực hiện các định hướng tru tiên đó, bảo đảm cho việc tiến hành hoạt động có kế hoạch và được phối hợp hài hòa của các cơ quan xây dựng pháp luật và các cơ quan áp dụng pháp luật, định hướng cho thực tiễn pháp lý đến sự nhận thức thống nhất và tuân thủ nghiêm khắc, thường xuyên các nguyên tắc, nền tảng pháp luật cơ bản, định hướng cho hoạt động phổ biến, giáo dục và đào tạo pháp luật của các cơ quan nhà nước và của các tổ chức xã hội đến việc hình thành ở mọi công dân và những người có chức vụ, quyền hạn, công chức, viên chức, những nền tảng của thế giới quan pháp luật. Tất cả những điều đó và những nhân tố khác tạo ra những tiền đề quản lý cần thiết cho việc thực hiện những mục tiêu pháp luật quan trọng nhất.

Xuất phát từ các mục tiêu đã được xác định ở trên, có thể đưa ra các nhiệm vụ ưu tiên sau đây của chính sách pháp luật nước ta hiện nay - các nhiệm vụ ưu tiên ở mức độ này hay các mức độ khác phát triển, cụ thể hóa các mục tiêu được nêu ở trên. Các nhiệm vụ ưu tiên đó là: (i) thiết lập các cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân có chất lượng, hiệu quả; (ii) quy định hệ thống các giới hạn về pháp luật đối với công quyền; (iii) hình thành các thiết chế và pháp luật của xã hội pháp quyền; (iv) xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam; (v) xây dựng hệ thống tư pháp có hiệu quả; (vi) củng cố kỷ luật, pháp chế và trật tự pháp luật; (vii) xây dựng và phát triển văn hóa pháp luật.

Giới hạn trong bài viết này chúng tôi sẽ cung cấp cho bạn đọc về hai nhiệm vụ đầu tiên, đó là: (i) thiết lập các cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân có chất lượng, hiệu quả; (ii) quy định hệ thống các giới hạn về pháp luật đối với công quyền.

Cụ thể chúng ta tìm hiểu ở các mục dưới đây.

3. Nhiệm vụ thiết lập các cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân có chất lượng, hiệu quả

Nhiệm vụ ưu tiên đầu tiên trong các nhiệm vụ ưu tiên nêu trên của chính sách pháp luật Việt Nam là thiết lập các cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân có chất lượng, hiệu quả.

Với lý do, bởi vì, con người, quyền con người, quyền công dân là trung tâm, là mục tiêu của phát triển, của mọi chính sách, trong đó có chính sách pháp luật.

4. Nhiệm vụ quy định hệ thống các giới hạn về pháp luật

Nhiệm vụ tiếp theo nhiệm vụ thiết lập các cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân có chất lượng, hiệu quả là quy định hệ thống các giới hạn về pháp luật đối với công quyền, đối với các cơ quan quyền lực và những người có chức vụ, quyền hạn.

Vì sao lại như vậy? Bởi lẽ, nhiệm vụ đó gắn liền chặt chẽ với sự cần thiết để đạt được mục tiêu cơ bản của chính sách pháp luật nước ta là bảo đảm, bảo vệ một cách đầy đủ nhất, có chất lượng các quyền và tự do của con người và của công dân.

Thực chất là ở chỗ, mọi quyền lực, trong đó có quyền lực nhà nước khi không biết các giới hạn của chính mình thì bao giờ cũng muốn mở rộng không có giới hạn không gian quyền lực của mình, và điều đó, thông thường dẫn đến việc xâm phạm các quyền, tự do và lợi ích của cá nhân.

Không có ham muốn, đam mê nào có thể gây ra những đau khổ không thể tưởng tượng được cho con người, cho xã hội loài người như đam mê lạm dụng quyền lực. Mỗi con người từ ban đầu đã được ban cho hai ham muốn gắn liền với nhau nhung không đồng nhất với nhau là sự mong muốn quyền lực và danh tiếng. Hai mong muốn đó không bao giờ đủ và là vô tận (theo: Quyền lực: Các khảo luận của triết học phương Tây hiện đại, Mátxcơva, 1989, tr.163 (bản tiếng Nga). Chính vì như vậy mà quyền lực thường làm đồi bại con người.

5. Bàn luận về quyền lực

Quyền lực nói chung, quyền lực nhà nước nói riêng có các quy luật của mình. Các quy luật đó phản ánh hiện thực rằng, nếu quyền lực thiếu việc thực hiện những mong muốn vốn có bên trong của mình, thiếu việc củng cố thường xuyên, thì quyền lực mất đi thuộc tính năng động và sức mạnh xã hội của mình. Nhưng sự mong muốn tập trung quyền lực không được biện minh về mặt xã hội thì sẽ biến quyền lực thành sức mạnh độc lập, tự phát triển và không bị ràng buộc(theo Võ Khánh Vinh: Quyên lực và pháp luật, Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội, số 5/2018).

Và khi đó, quyền lực có được các thuộc tính quỷ quái, trong chừng mực đáng kể, các thuộc tính hủy hoại, nó trở thành sức mạnh khác biệt bằng các xung lực không kìm chế được đến sự gia tăng tiếp theo, và sau đó, đến sự gia tăng không hạn chế, cường độ ngày càng lớn hơn, đến việc làm cho quy chế mệnh lệnh của mình có được thuộc tính độc tôn, tính thần thánh nào đó và bất khả xâm phạm, đến việc giành lấy mọi quyền lực khác trong không gian hoạt động của mình, tất cả những điều đó cản trở sự vận động của nó và đe dọa địa vị của những người thống trị (theo S.S. Alekseev: Triết học pháp luật, Mátxcơva, 1998, tr.68 (bản tiếng Nga). Trên cơ sở đó chính những cảm xúc quyền lực mạnh mẽ của con người có thê’ được tăng thêm, đó là: sự khoái cảm bằng quyền lực, sự thèm khát quyền lực, sự mong muốn quyền lực, sự chiếm giữ hoặc bằng mọi giá duy trì quyền lực. Đó là nguồn gốc của những thay đổi đột ngột trong đời sống xã hội và số phận của mọi người, của nhiều quốc gia và nền văn minh.

Trong chế độ xã hội tiến bộ, trí tuệ, văn minh, trong nền văn hóa dân chủ và pháp quyền, nhờ có thiên hướng về các giá trị quyền con người, dân chủ, nhân đạo, mà quyền lực có khả năng và cần phải được thuần phục, chế ngự, làm biến mất các mong muốn mang tính mệnh lệnh hành chính, kìm chế những dam mê, khí thế quyền lực của mình và vì lợi ích xã hội đưa hoạt động mang tính mệnh lệnh quyền lực nhà nước vào những phạm vi nghiêm khắc nhất định.

Từ những phân tích trên cho thấy, cần phải có các giới hạn về pháp luật đối với quyền lực, đối với các cơ quan quyền lực và những người có chức vụ, quyền hạn đê’ bảo đảm, bảo vệ đầy đủ nhất quyền con người, quyền công dân. Các giới hạn về pháp luật như vậy cần phải được thiết lập như thế nào? Các giới hạn đó được xác lập trong đời sống thực tế với sự trợ giúp của các nguyên tắc: phân công quyền lực; kiểm soát quyền lực; tính tối cao của quyền con người; tính tối thượng của đạo luật; trách nhiệm lẫn nhau của Nhà nước và cá nhân,...

Việc xác định các giới hạn về pháp luật đối với quyền lực không nhằm mục đích tự thân, mà là nhằm mục đích định hướng cho quyền lực phúc đáp đầy đủ nhất nhu cầu bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Ở phương diện này, quyền con người, quyền công dân, công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân là một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất để xác định giới hạn về pháp luật đối với quyền lực. Do vậy, nhiệm vụ quan trọng hiện nay của chính sách pháp luật nước ta là dựa trên quy định Hiến pháp năm 2013 về xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quyền con người và quyền công dân.

Trình độ cao hơn của đời sống pháp luật trong xã hội Việt Nam gắn liền với việc hình thành các thiết chế và pháp luật của xã hội pháp quyền, xã hội mà thiếu nó không thể xây dựng được nhà nước pháp quyền có dầy đủ giá trị và không thê’ thực hiện được đầy đủ nhất các quyền và tự do của cá nhân. Do vậy, hình thành các thiết chế và pháp luật của xã hội pháp quyền là nhiệm vụ ưu tiên của chính sách pháp luật Việt Nam hiện nay.

Nhà nước pháp quyền không thể có được nếu thiếu các tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các tổ chức xã hội, các tổ chức cộng đồng dân cư. Quyền con người, quyền công dân không chỉ được thể hiện trong mối quan hệ với nhà nước, trong mối quan hệ với quyền lực nhà nước mà còn được thê’ hiện trong mối quan hệ vói các thiết chế khác trong xã hội. Điều đó cũng có nghĩa rằng, đời sống pháp luật với tư cách là khách thể của chính sách pháp luật không chỉ tồn tại trong đời sống nhà nước mà còn tồn tại trong đời sống xã hội. Do vậy, có chính sách pháp luật về các thiết chế của nhà nước và chính sách pháp luật về các thiết chế phi nhà nước. Do vậy, lôgic cần phải nói đến là chính sách pháp luật có nhiệm vụ hình thành xã hội pháp quyền, hay nói chính xác hơn là tạo ra các tiền đề pháp luật cho sự hình thành xã hội pháp quyền.

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).