Thì với sự việc như vậy các dì của em có thể tranh chấp đòi lại nhà bán đo được không với lý do bán nhà chưa có sự đồng ý của các dì và giấy tờ không có ra công chứng. Trong giấy tờ mua bán nhà không công chứng có ghi là nếu có tranh chấp thì sẽ đền bù gấp 3 lần tức 300 triệu đồng thì sẽ có hiệu lực không và nhà e phải đền 300tr mới lấy lại được nhà hay chỉ cần 100tr như ban đầu vì giấy tờ nhà viết tay không có công chứng nên không có hiệu lực đúng không ạ. Sự việc thứ 2 là : nếu mẹ em là người đứng nhận cọc để bán nhà cho một người khác thì có phải coi là vi phạm pháp luật không ?

Mong luật sự phản hồi mail sớm giúp e em cảm ơn rất nhiều chúc luật sư một ngày mới tốt lành!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật đất đaicủa Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến , gọi:   1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội;

Bộ luật dân sự 2015

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn thủ tục mua bán, chuyển nhượng đất đai, nhà ở

Luật đất đai13/2003/QH11

2. Luật sư tư vấn:

Theo như bạn trình bày thì bà của bạn khi còn sống đã cho mẹ của bạn một căn nhà nhưng không nêu rõ là đã thực hiện thủ tục sang tên hay chưa. Hơn nữa thời điểm bán nhà là cách đây 8 năm nên chúng tôi sẽ áp dụng Bộ luật dân sự 2005.  Đối với trường hợp này chúng tôi chia ra làm hai trường hợp:

Thứ nhất: Nếu căn nhà này đã được Bà Ngoại của bạn sang tên theo đúng quy định của pháp luật cho mẹ bạn rồi thì việc thực hiện các giao dịch liên quan đến căn nhà này là do mẹ bạn quyết định. Căn cứ Điều 197 Bộ Luật dân sự 2005

"Điều 197. Quyền định đoạt của chủ sở hữu  

Chủ sở hữu có quyền bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác phù hợp với quy định của pháp luật đối với tài sản."

Thứ hai: Nếu căn nhà này chưa được sang tên cho mẹ bạn thì việc mẹ bạn bán nhà cho bà N là trái với quy định của pháp Luật. Nếu bà Ngoại không để lại di chúc thì việc chia di sản sẽ được mẹ bạn và các Dì thỏa thuận với nhau. Theo đó, pháp luật cũng quy định những người thừa kế theo pháp luật:

Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật  

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Như vậy, theo quy định của Pháp luật thì các Dì của bạn thuộc hàng thừa kế thứ nhất, khi chia di sản sẽ được chia theo đúng thứ tự.

Bên cạnh đó, nếu không thỏa thuận được thì sẽ nhờ Tòa án giải quyết. Căn cứ Điều 645 Bộ Luật dân sự 2005 quy định thời hiệu thừa kế:

Điều 645. Thời hiệu khởi kiện về thừa kế  

Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Như vậy, thời hiệu để chia di sản là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế, tức là lúc bà ngoại bạn mất. Đối với trường hợp mẹ bạn bán Nhà cho bà N bằng giấy viết tay và không công chứng:

Căn cứ Điều 122, 124 BLDS quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, hình thức giao dịch dân sự như sau:

Điều 122. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự  

1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

2. Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.

Điều 124. Hình thức giao dịch dân sự  

1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.

Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó.

Theo quy định của pháp luật thì hợp đồng mua-bán nhà phải được công chứng chứng thực. Tuy nhiên giao dịch giữa mẹ bạn và Bà N lại không tuân thủ theo quy định của pháp luật vì thế giao dịch này sẽ vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự. Do đó, tại các Điều 127. 134, 137 có quy định chi tiết như sau:

Điều 127. Giao dịch dân sự vô hiệu

Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 122 của Bộ luật này thì vô hiệu.

Điều 134. Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức  

Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu.

Điều 137. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu  

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.

Như vậy, đối với trường hợp của bạn thì giao dịch của mẹ bạn và bà N sẽ bị vô hiệu do không tuân thủ điều kiện về hiệu lực của hợp đồng (hình thức của hợp đồng). Khi giao dịch bị vô hiệu thì mẹ bạn và bà N sẽ hoàn trả cho nhau những gì đã nhận theo quy định tại Điều 137 Bộ Luật dân sư 2005.

>> Xem thêm:  Dịch vụ công chứng, tư vấn luật đất đai uy tín, chuyên nghiệp

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê về Bán nhà bằng hình thức viết giấy không công chứng có hiệu lực không ?. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số:  1900.6162  để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai  - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Dịch vụ tư vấn xin cấp sổ đỏ (sổ hồng), sang tên nhà đất