1. Những Hiệp định Hiệp hội của EC

EC đã ký những hiệp định hiệp hội nhằm đạt tới quyền thành viên EC với nhiều nước Trung và Đông Âu (CEEC) (các “Hiệp định châu Âu”). Mặc dù những hiệp định này được đàm phán riêng lẻ và chứa đựng những cam kết cụ thể trong mỗi trường hợp, rõ ràng những hiệp định ấy cũng tuân theo một hình mẫu chung, dựa trên cơ sở đối xử quốc gia (sự đối xử làm nền tảng cho EC) và cùng với các điều khác, có các điều khoản về dịch vụ, di chuyển vốn và người lao động.

 

2. Nội dung Hiệp định Hiệp hội của EC

Những nét chung của các Hiệp định châu Âu trong các lĩnh vực này là:

- Khoản tiến triển từng bước đối với điều khoản dịch vụ qua biên giới giữa các Bên ký kết, nhằm tự do hoá dần dần và trao quyền cho Hội đồng Hiệp hội tiến hành những biện pháp nhằm đạt mục đích này; những thoả thuận riêng biệt về dịch vụ hàng hải và một điều khoản yêu cầu kết thúc những thoả thuận đặc biệt liên quan đến vận tải hàng không và đường thủy nội địa.

- Dần dần tự do thành lập các công ty và các tự nhiên nhân tự kinh doanh của các Bên Ký két trên cơ sở đối xử quốc gia trong hầu hết các ngành, trong một số ngành (chẳng hạn dịch vụ tài chính) chỉ sau thời kỳ quá độ; khoản tiến triển từng bước Hên quan đến việc thừa nhận lẫn nhau về câc phẩm cấp của các hoạt động chuyên nghiệp có điều tiết; loại trừ vận tải hàng không, đường thủy nội địa và hàng hải ven duyên, tài nguyên thiên nhiên, nông nghiệp và lâm nghiệp;

- Tự do thanh toán hiện thời bằng tiền tệ được tự do chuyển đổi và tự do di chuyển vốn Hên quan đến đầu tư trục tiếp giữa các Bên Ký kết, bao gồm cả việc thanh lý hay hồi hương đầu tư hay lợi nhuận liên quan;

- Không được tự do di chuyển hoàn toàn đối với người lao động, nhưng đối xử quốc gia áp dụng cho những người lao động được thuê hợp pháp của các Bên Ký kết; tạm thời di chuyển các tự nhiên cung cấp dịch vụ và cho những người được thuê với tư cách là những người chủ chốt của những người cung cấp dịch vụ; quyền cư trú cho những người chủ chốt do công ty được thành lập thuê.

Năm 1995, các Nhà nước Thành viên EU cùng vói 11 nước vùng Địa Trung Hải và Nhà cầm quyền Palextin thông qua bản Tuyên bó Barcelona kêu gọi thành lập vùng thương mại tự do ở Vùng lòng chảo Địa Trung Hải vào năm 2010. Hiện nay, EC đã có những Hiệp định Châu Âu — Địa Trung Hải thiết lập các Khu Thương mại Tự do. Những Hiệp định này hoàn toàn thích hợp cho các dịch vụ, tuỳ thuộc vào các quyền hạn và nghĩa vụ hiện thời của GATS đối với các Bên Ký kết. Những thoả thuận riêng với các quyền hạn và nghĩa vụ tương đối, dựa trên dối xử tối huệ quốc áp dụng cho những nuớc liên kết, nhưng chưa phải là thành viên WTO. Những điều khoản tương xứng về dịch vụ trải rộng từ các khoản chỉ hợp tác cung cấp hỗ trợ cho EC trong những ngành chủ yếu (dịch vụ tài chính), cho tới các khoản qui định việc mở rộng phạm vi quyền thiết lập cơ sở kinh doanh và dịch vụ, trên cở sở những nghĩa vụ hiện thời của mỗi bên qui định ở GATS, tức là ít nhất là đối xử tối huệ quốc. Các khoản thanh toán vãng lai thường được miễn những hạn chế di chuyển vốn và đầu tư. Di chuyển vốn liên quan đến đầu tư trực tiếp trong những công ty thành lập ở một nước hên kết hầu như cũng được tự do. Các thanh toán vãng lai và di chuyển vốn bị phụ thuộc vào việc bảo hộ cũng được áp dụng (tức là trong trường. hợp có những khó khăn về cán cân thanh toán) và cũng bị hạn chế trong một số trường hợp “lịch sử để lại” (grandfathered). Hầu hết những Hiệp định này cũng tạo ra sự hợp tác, xét về góc độ phát triển xúc tiến đầu tư. Hiện nay EC đang đàm phán bổ sung các Hiệp định Châu Âu-Địa Trung Hải.

Hiệp định Hiệp hội với Thổ Nhĩ Kỳ chứa đựng những điều khoản tiến triển từng bước, theo đó các Bên Ký kết nhằm vào việc xoá bỏ những trở ngại cho việc tự do di chuyển người lao động, thiết lập cơ sở và điều khoản dịch vụ cùng với các điều khoản tưong xứng của Hiệp ước EC. Thanh toán vãng lai liên quan đến thương mại hàng hóa và dịch vụ cũng như vốn, chuyên tiền lương không bị hạn chế ở mức độ là những hạn chế về di chuyển hàng hoá, dịch vụ, vốn và con người được xóa bỏ giữa EC và Thổ Nhĩ Kỳ. Còn về việc chuyển vốn giữa các Bên Ký kết có sự phê chuẩn đối xử tối huệ quốc lẫn nhau về cư trú và hướng vào các biện pháp tự do hoá hơn nữa. Kết quả là các bên đồng ý trong Nghị định thư Bổ sung về những thoả thuận tạm thời nhằm thực thi dần dần việc tự do di chuyển con người, thiết lập cơ sở, dịch vụ, thanh toán và vốn.

EC còn ký các Hiệp định Hiệp hội với Síp và Manta nhưng không đề cập đến dịch vụ và đầu tư. Tuy vậy Síp đã nộp đơn xin gia nhập EC, trong khi đó Manta phê chuẩn một quan hệ gắn bó hơn để tiến tới một Khu vực Thương mại Tự do chung bao gồm, cùng với các điều khác, cải tiến việc tiếp cận thị trường dịch vụ trên cơ sở họp tác và đối xử tói huệ quốc lẫn nhau để khuyến khích trực tiếp đầu tư.

 

3. Công ước EFTA

Công ước Stockholm tập trung vào thương mại hàng hoá và gồm cả điều khoản thiết lập cơ sở theo hướng đối xử quốc gia khi cần thiết nhằm để tránh sự mất tác dụng của “các lợi ích dựa vào việc xoá bỏ hay không có thuế nhập khẩu và những hạn chế theo định lượng về thương mại giữa các Nhà nước Thành viên” (Điều 16, đoạn 1). Không có gì ngạc nhiên khi thấy rằng Công ước Stockholm chỉ chứa đựng điều khoản tiến triển từng bước về thưong mại dịch vụ và di chuyển vốn.

 

4. Những doanh vụ vô hình và chuyển tiền trong Công ước EFTA

Các Nhà nước Thành viên thừa nhận tầm quan trọng của các doanh vụ vô hình và chuyển tiền đối với việc thực hiện chức năng thích hợp của Hiệp hội. Họ cho rằng các nghĩa vụ liên quan đến quyền tự do của những doanh vụ và chuyển tiền như vậy do họ đảm nhiệm trong các tổ chức quốc tế khác hiện thời là đầy đủ. Khi thây cần thiết, Hội đồng có thể quyết định những điều khoản khác nữa liên quan đến các doanh vụ và chuyển tiền như vậy, có xem xét đầy đủ các nghĩa vụ quốc tế rộng lớn hơn của các Nhà nướcThành viên.

Có ba lý do vì sao các nước EFTA không bao giờ theo đuổi các giải pháp về dịch vụ và đầu tư trong khuôn khổ của riêng Hiệp hội.

Thứ nhất, tỷ phần thương mại trong nội bộ EFTA giảm mạnh trong vài thập kỷ gần đây, hiện thời chỉ còn chiếm gần 1%, chủ yếu do các Nhà nước Thành viên trước đây dần dần gia nhập EU.

Thứ hai, những kỷ luật mới hữu hiệu được phát triển ở cấp độ đa biên, nhất là ở WTO và OECD, do vậy cũng ràng buộc các nước EFTA vốn có truyền thống tự do về việc thành lập các công ty nước ngoài.

Thứ ba, ba phần tư các Nhà nước Thành viên EFTA là các Bên tham gia Hiệp định EEA, cho phép họ thực hiện thưong mại trong dịch vụ và đầu tư với nhau (và trong EC) theo một thoả thuận toàn diện và tiến xa hơn.

 

5. Các Hiệp định Thương mại Tự do EFTA

Các nước EFTA ký kết các FTA với nhiều nước Trung và Đông Âu và vùng Địa Trung Hải. Do không có những Hiệp định bao trùm về thương mại hàng hoá và các lĩnh vực liên quan (độc quyền Nhà nước, thanh toán, mua sắm công, sở hữu trí tuệ, viện trợ Nhà nước, cạnh tranh, phá giá). Các Hiệp định này không gồm các điều khoản chủ yếu về thương mại dịch vụ, ngày nay biểu thị phần quan trọng trong GDP của các nước EFTA, không có cả đầu tư, nhưng Bungari, CH Séc, Extôni, Hungari, Ixraen, Látvi, Lithuani, Marôc, Tổ chúc Giải phóng Palextin, Rumani, CH Xlôvắc, Xlôvêni và Thổ Nhĩ Kỳ. có điều khoản chung tiến triển từng bước cho phép các FTA mở rộng sang các lĩnh vực chưa đề cập. Một điều khoản tiến triến từng bước riêng biệt nêu rõ ràng đầu tư và dịch vụ có thể thấy trong các FTA gần đây, và có thể là cơ sở cho việc mở rộng hơn nữa của Hiệp định trong tương lai sẽ bao gồm các giải pháp này.

Việc nâng cấp các FTA về dịch vụ và đầu tư hiện nay đang tiến triển.

 “Các Nhà nước là các Bên của Hiệp định này thừa nhận tầm quan trọng ngày càng tăng ở nột số lĩnh vực, như dịch vụ và đầu tư. Họ đang nỗ lực phát triển và mở rộng dần dần sự hợp tác, nhất là trong bối cảnh hội nhặp châu Âu. Họ sẽ hợp tác nhằm mục đích đạt được tự do hoá dần dần và cùng mở cửa thị trường cho đầu tư và thương mại trong dịch vụ, có tính đến cấc công việc của GATS”

“Các Nhà nước là các Bên của Hiệp định sẽ thảó luận sự hợp tác này tại một uỷ ban Hỗn hợp nhằm mục đích phát triển và đi sâu hơn trọng quan hệ theo Hiệp định này”    

 

6. Kết thúc vấn đề

Dịch vụ và đầu tư là những hiện tượng mới có gần đây trong thương mại quốc tế. Các lĩnh vực này đã tăng đáng kể trong khoảng hai hay ba thập kỷ gần đây và dự kiến còn tăng mạnh trong tương lai. Hiện thực kinh tế này chưa được theo dõi kịp thời, cho mãi đến rất gần đây mới có những qui tắc toàn diện tạo thêm sự ổn định và khả năng dự đoán trước của các hệ thống, bằng cách bảo đảm các thành tựu hiện nay và cho phép tiếp tục các bước tự do hoá tiếp theo. Vô vàn sáng kiến đã được thực hiện ở cấp khu vực hay ít nhất ở cấp song phương, mở đường cho sự gia tăng trong thương mại dịch vụ và đầu tư giữa các bên liên quan đến thoả thuận đó. Thị trường nội bộ EU, mở rộng sang Iceland, Liechtenstein và Na Uy, tạo nên khu vực EEA, khối thương mại lớn nhất thế giới (380 triệu người, chiếm khoảng 18% nhập khẩu và 20% xuất khẩu của thế giới). Không nghi ngờ gì nữa đó là một ý đồ toàn diện và thành công, chứng tỏ sự hợp tác kinh doanh có hiệu quả như thế nào. Thành tựu này có thuận lợi là mức độ đồng nhất giữa 18 Quốc gia EEA mà trên thế giới chưa từng có.

Một số kết quả đáng chú ý cũng đã đạt đuợc ở cấp độ đa biên, cả ở WT0 và OECD, mặc dù những cam két mà các Bên Ký kết tham gia về cơ bản vẫn chỉ “dừng tại chỗ”, trong nhiều trường hợp còn thấp hơn cả kết quả kinh doanh thực tế (nhất là liên quan đến dịch vụ qua biên giới). Song khoảng cách này dường như đã giảm đi, do sự mở rộng hơn nữa phạm vi và chiều sâu của tự do hoá thương mại trong các vòng đàm phán tương lai. Xu hướng tiến lên hầu như không thể tránh khỏi, vì nghĩa vụ phê duyệt đối xử tối huệ quốc mở rộng bất cứ sự tự do hoá nào cho tất cả các Bên Ký kết. Hơn nữa sự thừa nhận lẫn nhau về các tiêu chuẩn và một số yếu tố của các qui tắc cạnh tranh chung có thể dự kiến ngày càng quan trọng, do đó sẽ làm giảm sự miễn cưỡng của các bên khi phê chuẩn đối xử quốc gia lẫn nhau. Cuộc đàm phán về dịch vụ tài chính của GATS là một ví dụ mới đây nhất cho thấy một khuôn khổ pháp lý không thoả mãn đã được tiến triển thành công như thế nào. Trong lĩnh vực viễn thông, sự tiến bộ trong nội bộ WT0 thậm chí còn ngoạn mục hơn: các cuộc đàm phấn bắt đầu từ điểm xuất phát và dẫn đến những cam kết ở mức độ toàn diện ràng buộc 90% thị trường thế giới về các các dịch vụ viễn thông cơ bản của 69 nước.

  

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng!

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập).