BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
----------------

Số: 3308/BC-BNN-PC

Hà Nội, ngày 16 tháng 09 năm 2013

BÁO CÁO

TÌNH HÌNH TRIỂN KHAILUẬT PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

Thực hiện Công văn số 6244/BTP-PBGDPL ngày 06 tháng9 năm 2013 của Bộ Tư pháp về việc thông tin tình hình triển khai Luật Phổ biến,giáo dục pháp luật (PBGDPL), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn báo cáo nhưsau:

I. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

1. Phổ biến, quán triệt triển khai Luật PBGDPL

Ngay sau khi Luật PBGDPL được ban hành, Bộ đã tổchức phổ biến, quán triệt, tập huấn nội dung của Luật bằng nhiều hình thức như:tổ chức quán triệt, phổ biến tại các hội nghị; sao gửi văn bản, lồng ghép việcphổ biến quán triệt Luật tại các lớp tập huấn, các cuộc họp, giao ban; lồngghép với việc quán triệt chủ trương, chính sách khác của Đảng và nhà nước tớicán bộ, công chức, thuộc phạm vi quản lý của cơ quan, đơn vị mình. Chẳng hạn,Bộ đã lồng ghép phổ biến, quán triệt triển khai Luật và các định hướng, kếhoạch PBGDPL của Bộ trong giai đoạn tới tại Hội nghị trực tuyến ngày 10/4/2013về tổng kết việc thực hiện Đề án tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người dânnông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2009-2012.

2. Công tác ban hành văn bản, hướng dẫn thựchiện Luật PBGDPL

Thời gian qua Bộ đã ban hành nhiều văn bản để chỉđạo thực hiện Luật PBGDPL nói chung và công tác PBGDPL nói riêng làm cơ sở đểcác đơn vị thuộc Bộ chủ động lập kế hoạch và tổ chức thực hiện.

Bộ đã ban hành các văn bản và tổ chức triển khaithực hiện Kế hoạch PBGDPL đồng thời có công văn đôn đốc các đơn vị thực hiện vàbáo cáo kết quả về Bộ. (Quyết định số 875/QĐ-BNN-PC ngày 23/4/2013 phê duyệtnhiệm vụ thực hiện Tiểu Đề án 1 Tuyên truyền, phổ biến pháp luật (TTPBPL) vềNông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN và PTNT) cho người dân nông thôn năm2013; Chỉ thị số 1497/CT-BNN-PC ngày 06/5/2013 về tăng cường triển khai thựchiện Đề án TTPBPL cho người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số giaiđoạn 2013-2016; Quyết định số 40/QĐ-BĐH-PC ngày 30/5/2013 ban hành kế hoạchthực hiện Đề án TTPBPL cho người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số từnăm 2013 đến năm 2016; Công văn số 2565/BNN-PC ngày 04/6/2013 về việc kiểm traviệc thực hiện Đề án TTPBPL cho người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểusố; Công văn số 2566/BNN-PC ngày 04/6/2013 về việc tổ chức thực hiện các hoạtđộng thực hiện Đề án TTPBPL cho người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểusố; Công văn 2124/BNN-PC ngày 26/6/2013 về việc đề nghị cấp kinh phí thực hiệnTiểu Đề án 1 TTPBPL về NN và PTNT cho người dân nông thôn năm 2013-2016...)

Các đơn vị thuộc ngành NN và PTNT, các địa phươngchủ động phối hợp, xây dựng kế hoạch TTPBPL về NN và PTNT cho người dân nôngthôn và thực hiện kế hoạch khi đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Các cơquan thuộc Bộ đóng trên địa bàn của các tỉnh cũng dựa vào văn bản này để phốihợp với địa phương, góp phần vào công tác TTPBPL về NN và PTNT cho người dânnông thôn, tạo sự phối hợp đồng bộ, thống nhất để cùng thực hiện nhiệm vụ chínhđược giao.

3. Bộ phận chuyên trách theo dõi, tổ chức thựchiện PBGDPL

Bộ đã giao cho Vụ Pháp chế làm đầu mối chịu tráchnhiệm theo dõi, chỉ đạo và tổ chức kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiệncông tác TTPBPL về NN và PTNT. Bộ tiếp tục duy trì hoạt động của Hội đồng phốihợp PBGDPL để chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ và công tác PBGDPL nói chung, côngtác TTPBPL về NN và PTNT nói riêng của Bộ.

Hội đồng phối hợp PBGDPL của Bộ gồm đại diện lãnhđạo các đơn vị thuộc Bộ, hoạt động thường xuyên, định kỳ tổ chức họp và đánhgiá công tác TTPBPL về NN và PTNT của Bộ, sau đó có thông báo cụ thể để gửi cácđơn vị thuộc Bộ và các thành viên trong Hội đồng.

4. Kết quả PBGDPL

- Tổ chức 03 lớp tập huấn đào tạo, bồi dưỡng nghiệpvụ phổ biến pháp luật, cung cấp tài liệu và các kiến thức pháp luật có liênquan cho đội ngũ cán bộ nòng cốt làm công tác TTPBPL về lĩnh vực NN và PTNT tạiCao Bằng, Sóc Trăng, Gia Lai, mỗi lớp 50 học viên. Trên cơ sở đó, các địaphương đã tập huấn đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ phổ biến pháp luật cho đội ngũbáo cáo viên, tuyên truyền viên tại cơ sở.

- Tổ chức 10 hội nghị phổ biến pháp luật về NN vàPTNT cấp huyện, mỗi hội nghị 50 người tại Cao Bằng, Sóc Trăng, Gia Lai, HòaBình, Phú Thọ. Tiến hành kiểm tra việc thực hiện Đề án tại các tỉnh này.

- Tổ chức tuyên truyền, tập huấn pháp luật chuyênngành với số lượng tham gia tập huấn hàng trăm người tham gia ở các lĩnh vựcnhư: thủy lợi, bảo vệ thực vật, thủy sản, chương trình mục tiêu quốc gia vềnông thôn mới, chương trình vệ sinh nước sạch môi trường nông thôn....Cụ thể:tổ chức 01 lớp phổ biến quán triệt các văn bản quy phạm pháp luật, tập huấn vềcông tác văn thư, lưu trữ cho cán bộ làm công tác văn thư, lưu trữ; Phổ biếnLuật Khiếu nại số 02/2011/QH13 , Luật Tố cáo số 03/2011/QH13 ; Thông tư số 03/2013/TT-BNNPTNT ngày 11/01/2013 về quản lý thuốc BVTV; Thông tư liên tịch số 11/2012/TTLT-BNNPTNT-BTC-BKHĐT ngày 01/3/2012 về việc hướng dẫn chế độ quản lý,sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước chi cho đề án phát triển giống cây trồng,lâm nghiệp, giống vật nuôi và giống thủy sản đến năm 2020; tổ chức 02 lớp tậphuấn cho các nhà máy đường miền Bắc và miền Trung, Tây nguyên về việc thực hiệnQuy chuẩn kỹ thuật quốc gia “chất lượng mía nguyên liệu”...

- Phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng vàphát sóng các chương trình, bản tin trên Đài Truyền hình Việt Nam kênh VTV2,Đài Tiếng nói Việt Nam, VOV1 để phổ biến nội dung pháp luật về NN và PTNT; xâydựng Chuyên mục riêng biệt TTPBPL về NNPTNT với tên gọi “Pháp luật với nhànông”; tuyên truyền trên Tạp chí Nông nghiệp và Bạn của Nhà nông (VTV2) vàtrong các Chuyên mục: Nông nghiệp - Nông thôn và Biển đảo Việt Nam trên hệVOV1, Đài Tiếng nói Việt Nam, đã TTPBPL cho lượng lớn khán, thính giả, khunggiờ phát sóng phù hợp với nếp sống sinh hoạt của người dân nông thôn.

- Tuyên truyền trên Báo Nông nghiệp Việt Nam cácquy định pháp luật về NN và PTNT, các bài bình luận đánh giá về chính sách phápluật, các vấn đề bức xúc liên quan đến nông dân, nông nghiệp, nông thôn.

- Đăng tải thông tin pháp luật trên trang thông tinđiện tử: mard.gov.vn của Bộ các văn bản quy phạm pháp luật về NN và PTNT; cácthủ tục hành chính liên quan trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp thuộc tráchnhiệm quản lý của Bộ; dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do Bộ chủ trì xây dựngđể lấy ý kiến theo quy định của pháp luật; các thông tin khác về hoạt động xâydựng và thực hiện pháp luật, hỏi - đáp pháp luật cần thiết cho người dân.

- Bộ đã phối hợp với Ủy ban dân tộc, Trung ương HộiNông dân Việt Nam, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Bộ Tư Pháp, BộThông tin và Truyền thông và các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức hội thi tìmhiểu pháp luật cho người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số bằng hìnhthức sân khấu hóa cho các đối tượng là cán bộ, tuyên truyền viên từ cơ sở củacác đơn vị ban, ngành thành viên của Đề án 554 và người dân nông thôn, đồng bàodân tộc thiểu số như Tuyên truyền viên cấp xã, người dân nông thôn, đồng bàodân tộc thiểu số, Già làng, Trưởng bản, Trưởng thôn, Trưởng ấp, các vị chức sắctôn giáo, người có uy tín trong cộng đồng đồng bào dân tộc, người sản xuấtgiỏi; trong đó, mỗi đội thi có tỷ lệ nữ từ 30% đến 50%.

Hội thi được tổ chức ở cấp khu vực và toàn quốc.Nội dung thi gồm các nội dung pháp luật liên quan thiết thực đến quyền và nghĩavụ của người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số. Hội thi đã tập hợpđược 180 thí sinh đến từ 10 tỉnh và thu hút được hàng ngàn lượt người tham giacổ vũ. Chương trình công diễn các tiết mục xuất sắc nhất của Hội thi đượctruyền hình trực tiếp trên kênh VTV5 và tiếp sóng trực tiếp trên các kênh củaĐài truyền hình VTC, phát lại trên các kênh của Đài Truyền hình Hà Nội và kênhVTV2. Nội dung và kết quả Hội thi cũng được đăng tải trên các trang thông tinđiện tử của các bộ ngành và địa phương. Chương trình Hội thi cũng được ghi lạithành đĩa và in sao gửi các địa phương làm tài liệu TTPBPL.

Hội thi có ý nghĩa quan trọng góp phần nâng caonhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của người dân nông thôn, đồng bào dân tộcthiểu số; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động chấp hành pháp luật rộngkhắp đến toàn bộ người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số trên cả nước,đồng thời chuyển tải các quy định pháp luật liên quan trực tiếp đến quyền vànghĩa vụ của người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số, đến cộng đồngdân cư; góp phần mở rộng giao lưu học hỏi, tăng cường sự hiểu biết, đoàn kếtcho người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số trên cả nước. Thông quaHội thi đã góp phần thực hiện chính sách xã hội hóa công tác TTPBPL của Nhànước, đưa pháp luật đi vào đời sống.

II. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ

Để công tác PBGDPL về NN và PTNT cho người dân nôngthôn ngày càng đạt nhiều kết quả, góp phần thực hiện tốt hơn Luật PBGDPL, Bộ NNvà PTNT có một số kiến nghị sau:

1. Quán triệt sự chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chínhquyền về công tác PBGDPL, đáp ứng yêu cầu của công tác này trong thời kỳ xâydựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

2. Cần ban hành quy định làm cơ sở pháp lý cho việckiện toàn, phát huy hiệu quả hoạt động của Hội đồng PHPBGDPL của các Bộ, ngành,địa phương.

3. Cần có chế độ, chính sách phù hợp đối với ngườilàm công tác TTPBPL cho người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số, vìcác đối tượng này ở vùng sâu, vùng xa, có nhiều khó khăn, trình độ dân tríkhông đồng đều.

4. Tăng cường sự phối hợp của các cơ quan trongcông tác PBGDPL, xây dựng Kế hoạch phối hợp thống nhất về những nội dung, hìnhthức phối hợp PBGDPL nhằm tạo điều kiện cho các cơ quan, đơn vị chủ động xâydựng nội dung và dự toán kinh phí và tổ chức thực hiện.

5. Phân bổ kinh phí thích hợp cho các địa phươngđảm bảo thực hiện tốt công tác này thường xuyên, liên tục.

6. Tổ chức TTPBPL và thực thi pháp luật nghiêm minhở các cơ quan Nhà nước góp phần tuyên truyền, PBGDPL, nâng cao ý thức tự giácchấp hành pháp luật của người dân.

Trên đây là báo cáo của Bộ NN và PTNT về việc thôngtin tình hình triển khai Luật PBGDPL. Đề nghị Bộ Tư pháp tổng hợp./.

Nơi nhận:
- Bộ Tư pháp (Vụ PBGDPL);
- Bộ trưởng (để b/c);
- Lưu: VT, PC.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG




Nguyễn Thị Xuân Thu