ỦY BAN THƯỜNG VỤ
QUỐC HỘI
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
----------------

Số: 525/BC-UBTVQH13

Hà Nội, ngày 14 tháng 10 năm 2013

BÁO CÁO

KẾT QUẢ GIÁM SÁT VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ BẢOHIỂM Y TẾ GIAI ĐOẠN 2009-2012

Kính gửi: Cácvị đại biểu Quốc hội

Thực hiện Chương trình hoạt động giám sát của Quốchội năm 20131, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thànhlập Đoàn giám sát2 “Việc thực hiện chính sách,pháp luật về bảo hiểm y tế giai đoạn 2009-2012”3.Đoàn giám sát (ĐGS) của Ủy ban thường vụ Quốc hội đã nghe báo cáo của Chính phủvà một số bộ, ngành liên quan; tổ chức Đoàn đi giám sát tại 9 tỉnh/thành phố4 (phụ lục số 1); yêu cầu Đoàn đại biểu Quốchội các tỉnh/thành phố tổ chức giám sát tại địa phương5;nghe Bộ trưởng Bộ Y tế giải trình về chuyển tuyến khám bệnh, chữa bệnh (KCB) vàquản lý, sử dụng quỹ bảo hiểm y tế (BHYT); đồng thời, nghiên cứu thông tin, tưliệu qua các hoạt động có liên quan của Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hộiđể bổ sung cho báo cáo.

Được triển khai ở Việt Nam từ năm 1992, chính sáchBHYT đã trải qua các mô hình: quản lý BHYT theo cấp tỉnh (1992-1997), Bộ Y tếquản lý (1998-2003) và quản lý tập trung tại Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam từnăm 2003 đến nay. Giai đoạn 1992-2008, BHYT Việt Nam được thực hiện theo cácvăn bản dưới luật của Chính phủ. Trên cơ sở thực tiễn gần 20 năm triển khai thựchiện chính sách BHYT, năm 2008 Quốc hội đã ban hành Luật BHYT.

Chính sách, pháp luật (CSPL) về BHYT bao gồm các chủtrương, chính sách, quan điểm của Đảng, Nhà nước thể hiện trong nhiều nghị quyết,chỉ thị của Đảng6 (phụ lục số 2) được thểchế hóa trong Luật bảo hiểm y tế. Quan điểm của Đảng, Nhà nước khẳng định chínhsách BHYT là một trong những trụ cột của an sinh xã hội, là cơ chế tài chính ytế quan trọng và là cơ chế chi trả trước được đa số các quốc gia trên thế giớiáp dụng giúp người dân khi bị ốm đau không bị rơi vào cảnh nghèo đói và là địnhhướng phát triển trong chăm sóc sức khỏe người dân.

Sau đây, Ủy ban thường vụ Quốc hội xin trình Quốc hộiBáo cáo kết quả giám sát thực hiện CSPL về BHYT giai đoạn 2009-2012.

Phần thứ nhất.

KẾT QUẢ THỰC HIỆNCHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ

1. Việc ban hành văn bản quy phạmpháp luật hướng dẫn thi hành Luật BHYT

Theo quy định của Luật BHYT (có hiệu lực từ1/7/2009), có 16 điều giao cho Chính phủ, Bộ Y tế và các bộ ngành liên quan hướngdẫn thi hành. Đến nay, Chính phủ, Bộ Y tế và bộ ngành liên quan đã hướng dẫnthi hành 15 điều tại 2 Nghị định của Chính phủ, 2 quyết định của Thủ tướngChính phủ, 14 thông tư (trong đó có 5 thông tư liên bộ) do Bộ Y tế và các bộngành liên quan ban hành (phụ lục số 3). Nhìn chung, các văn bản hướng dẫnthi hành Luật BHYT bảo đảm quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật(VBQPPL) và có tính khả thi.

Cùng với Luật BHYT, năm 2012, Thủ tướng Chính phủđã ban hành Đề án “Thực hiện lộ trình tiến tới BHYT toàn dân giai đoạn2012-2015 và 2020”, theo đó, năm 2015 dự kiến sẽ có 70% và đến năm 2020 dự kiếnsẽ có 80% dân số tham gia BHYT.

Ngoài các văn bản hướng dẫn do Chính phủ và bộngành ban hành, BHXH Việt Nam đã ban hành 6 quyết định và khoảng 150 văn bản hướngdẫn chuyên môn nghiệp vụ; Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố (sau đây gọi chung làcấp tỉnh) theo thẩm quyền đã ban hành các văn bản hướng dẫn để tổ chức triểnkhai thực hiện tại địa phương, về cơ bản, nội dung các văn bản này phù hợp vớipháp luật.

Qua 4 năm thực hiện, Luật BHYT được đánh giá là mộttrong những đạo luật được triển khai tương đối kịp thời, đáp ứng yêu cầu của cuộcsống.

Tuy nhiên, tất cả các văn bản hướng dẫn thi hành LuậtBHYT do Chính phủ và bộ ngành ban hành đều chậm tiến độ từ 1 tháng đến 40 tháng7, đến ngày 01/01/2010 mới triển khai đầy đủ các nộidung của Luật BHYT.

* Những tồn tại trong việc ban hành văn bản quyphạm pháp luật đó là:

- Theo quy định của Luật BHYT, Bộ Y tế chưa banhành Hướng dẫn về khám bệnh để sàng lọc, chẩn đoán sớm một số bệnh được quỹBHYT chi trả8.

- Theo Nghị định 62/2009/NĐ-CP còn 3 vấn đề giaocho các bộ, ngành chưa hướng dẫn, trong đó 2 vấn đề thuộc trách nhiệm của Bộ Ytế là Danh mục một số bệnh cần chữa trị dài ngày và sửa đổi quy định về xác địnhdịch vụ kỹ thuật cao chi phí lớn được BHYT chi trả (hiện vẫn áp dụng văn bảnquy định về vấn đề này từ trước khi có Luật BHYT); một vấn đề thuộc trách nhiệmBộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH) đó là xác định tiêu chí hộgia đình làm nông, lâm, ngư, diêm nghiệp có mức sống trung bình làm cơ sở đểNhà nước hỗ trợ mua BHYT cho đối tượng này.

- Luật BHYT quy định quỹ BHYT chi thanh toán chongười bị tai nạn giao thông khi không vi phạm pháp luật (khoản 12, Điều 23).Tuy nhiên, khi tổ chức thực hiện9, tất cả các trườnghợp tai nạn giao thông (cả vi phạm pháp luật lẫn không vi phạm pháp luật giaothông) đều được BHYT thanh toán với tổng chi phí khoảng 200 tỷ đồng trên cả nước(năm 2012).

- Luật BHYT quy định về nội dung hợp đồng KCB BHYTvà giao cho Bộ trưởng Bộ Y tế quy định mẫu hợp đồng. Tuy nhiên, khi có phátsinh tranh chấp hợp đồng chưa xử lý được, chưa rõ tính pháp lý của hợp đồng vàtrách nhiệm của các bên trong trường hợp vi phạm hợp đồng.

- Bộ Y tế chưa hướng dẫn phân hạng bệnh viện tưnhân10, vì vậy BHXH gặp nhiều khó khăn trong việcthanh toán chi phí KCB BHYT tại bệnh viện tư nhân11.

- Luật BHYT giao Bộ Y tế chịu trách nhiệm chủ trì,phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, tổ chức có liên quan thực hiện nhiệm vụtuyên truyền, phổ biến CSPL về BHYT (Điều 6), nhưng Quyết định số 538/QĐ-TTg ngày 29/3/2013 về lộ trình BHYT toàn dân lại giao BHXH Việt Nam là đầu mối chịutrách nhiệm chính trong tuyên truyền về chính sách BHYT.

2. Việc mở rộng đối tượng thamgia BHYT

2.1. Kết quả thực hiện

Luật BHYT quy định 25 nhóm đối tượng tham gia BHYTvà lộ trình thực hiện BHYT toàn dân, theo đó, đến năm 2014, 3 nhóm cuối cùng phảitham gia BHYT đó là nhóm thân nhân người lao động, xã viên hợp tác xã và hộkinh doanh cá thể.

Giai đoạn 2009-2012, tỷ lệ dân số tham gia BHYTtăng từ 58,2% (2009) lên 66,8% (2012). Như vậy, sau 4 năm thực thi Luật, đã cóthêm 8,6% dân số tham gia BHYT, tương đương 9,24 triệu người, bình quân tăng2,8%/năm. Có 21 tỉnh có tỷ lệ dân số tham gia BHYT tăng trên 15%. Nhiều tỉnh cơbản đã đạt được BHYT toàn dân (Bắc Kạn gần 100%, Lai Châu 99%, Hà Giang 96%,Lào Cai 95%, Hòa Bình 93%, Sơn La 92%, Tuyên Quang 88%, Lạng Sơn 85%, TháiNguyên 80%, Kon Tum 85%) (phụ lục số 5). Đa số các tỉnh đạt gần 100% dânsố tham gia BHYT là do mở rộng số đối tượng được ngân sách cấp mua BHYT12.

Phân tích tỷ lệ tham gia BHYT theo nhóm đối tượngcho thấy, nhóm làm công ăn lương, cán bộ công chức trong khu vực công, đồng bàodân tộc thiểu số, người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, nhóm hưu trí, mất sức lao động,đối tượng bảo trợ xã hội do NSNN hoặc quỹ BHXH đóng tiền mua BHYT đều đạt ở mứcrất cao (gần 100%).

Tỷ lệ nhóm tự nguyện, hộ cận nghèo tham gia BHYT đãtăng dần từ việc điều chỉnh chính sách nhưng còn ở mức thấp. Có khoảng 20 tỉnhhỗ trợ thêm kinh phí từ ngân sách địa phương cho các đối tượng thuộc diện cậnnghèo tham gia BHYT13, một số tỉnh hỗ trợ 100% sốtiền mua cho hộ cận nghèo như Bình Dương, Ninh Thuận, Kiên Giang...

Cùng với chính sách mở rộng đối tượng được ngânsách hỗ trợ tham gia BHYT (người có công, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu sốở vùng khó khăn14, nhân dân ở vùng biển đảo...),việc tăng cường công tác chỉ đạo, tuyên truyền của Bộ Y tế, BHXH Việt Nam, Ủyban nhân dân (UBND) các cấp và xây dựng mạng lưới đại lý BHYT cùng với sự thamgia của một số đoàn thể, tổ chức xã hội trong vận động phong trào mua tặng thẻBHYT cho những người có hoàn cảnh khó khăn đã góp phần nâng tỷ lệ dân số thamgia BHYT nhanh hơn trong giai đoạn 2009 - 2012. Trên cơ sở đó, ý thức người dântrong việc tham gia BHYT để tự chăm lo sức khỏe cho mình, chia sẻ với cộng đồngđược nâng lên so với trước.

Có thể nói trong điều kiện kinh tế - xã hội ở ViệtNam, với mức thu nhập bình quân đầu người là 1.749 USD/người/năm (2012), việc đạtđược tỷ lệ gần 70% dân số tham gia BHYT là sự cố gắng lớn của Đảng, Nhà nước vànhân dân. Kết quả đó góp phần quan trọng vào việc bảo vệ quyền được chăm sóc sứckhỏe và giúp cho nhiều người dân không bị rơi vào bẫy nghèo đói khi bị ốm đau,bệnh tật. Trên thế giới nhiều nước có điều kiện kinh tế và thu nhập cao hơn ViệtNam nhưng cũng chưa đạt được tỷ lệ dân số tham gia BHYT như Việt Nam15.

2.2. Một số tồn tại, vướng mắc

- Đến cuối năm 2012, vẫn còn 18 tỉnh có tỷ lệ thamgia BHYT dưới 60%, trong đó có 4 tỉnh dưới 50% dân số tham gia BHYT (Nam Định49%, Tây Ninh 49%, Kiên Giang 48% và Bình Phước 46%).

- Giai đoạn 2009-2012, có 14 tỉnh tỷ lệ tham giaBHYT tăng chậm (dưới 5%) và có 6 tỉnh tỷ lệ tham gia BHYT giảm từ 1-7% (Bà Rịa-VũngTàu, Bình Dương, Đắk Lắk, Gia Lai, Vĩnh Long, trong đó Bến Tre giảm nhiều nhấtkhoảng 7%).

- Một số đối tượng bắt buộc phải tham gia BHYTnhưng tỷ lệ đạt thấp đó là:

a) Người lao động trong các doanh nghiệp đạt 54,7%,trong đó khu vực tư nhân chỉ đạt 20-30%; học sinh, sinh viên (HSSV) mới đạt tỷlệ 80% (Nam Định chỉ đạt 30%), trong đó sinh viên ở các trường trung cấp chuyênnghiệp, cao đẳng, đại học, đặc biệt các trường tư có tỷ lệ tham gia rất thấp vàvẫn còn khoảng 5% trẻ em dưới 6 tuổi chưa có thẻ BHYT.

b) Người thuộc hộ cận nghèo được Nhà nước hỗ trợ50% kinh phí mua BHYT và tăng lên 70% từ tháng 6/2012 nhưng đến cuối năm 2012chỉ đạt khoảng 25%, có nơi tỷ lệ chỉ đạt từ 2-5% (Hà Nội: 4,7%, Bình Thuận: 2%,Bình Phước: 0,1%...).

c) Nhóm người thuộc hộ gia đình làm nông, lâm, ngưvà diêm nghiệp có mức sống trung bình theo lộ trình sẽ tham gia BHYT từ năm2012 và Bộ Tài chính đã có dự toán bố trí ngân sách hỗ trợ 30% kinh phí để muaBHYT, nhưng chưa triển khai do chưa xây dựng được tiêu chí.

- Nhóm tự nguyện tham gia BHYT không tăng nhiều, đạt24% (năm 2011) và 28% (năm 2012), tại một số tỉnh tỷ lệ này rất thấp dưới 10%(Ninh Thuận 10%, Hà Nam 7,2%, Cà Mau 7,1%, Quảng Trị 6,6%, Nam Định 5,9%, KiênGiang 5,9%, Thanh Hóa 3%, Nghệ An 3%, Hải Dương 1%...).

- Bên cạnh một số kết quả tích cực do thực hiện cơchế tự chủ và xã hội hóa dịch vụ y tế tại các bệnh viện công đã phát sinh nhữngvấn đề cần phải quan tâm, đó là nhiều bệnh viện đã hình thành khu vực KCB theoyêu cầu, dành 5-10% số giường làm dịch vụ để thu phí cao, kết quả là tại cùng mộtkhoa hình thành 2 chế độ, bệnh nhân BHYT với 2-3 người/giường và bệnh nhân KCBtheo yêu cầu với 1 người/phòng có đầy đủ tiện nghi16.Sự tương phản này cùng với yêu cầu về y đức chưa được cải thiện cũng góp phầnlàm cho BHYT gặp khó khăn trong việc mở rộng độ bao phủ17. Tuy nhiên, hiện nay một số bệnh viện nhận thức được vấn đề nàyđã khắc phục một phần bất cập thông qua việc chủ động tách riêng khu dịch vụtheo yêu cầu với khu điều trị chung18.

* Nguyên nhân và trách nhiệm đối với các tồn tạitrên đó là:

- Hiệu quả công tác chỉ đạo tuyên truyền, vận độngngười dân tham gia BHYT của ngành y tế và BHXH còn thấp; chưa có giải pháp tíchcực để huy động xã hội tham gia mở rộng BHYT; kinh phí tuyên truyền hạn chế;các tổ chức xã hội, đoàn thể tham gia công tác tuyên truyền, vận động người dântham gia BHYT còn ít, các đại lý BHYT chưa gắn nhiều với địa bàn.

- Các cấp chính quyền chưa quan tâm đầy đủ việc triểnkhai chính sách, pháp luật BHYT; Sở Y tế ở nhiều nơi chưa quan tâm chỉ đạo, phốihợp với tổ chức BHXH trong việc thực hiện mục tiêu mở rộng tỷ lệ dân số thamgia BHYT tại địa phương.

- Chấp hành pháp luật chưa nghiêm, công tác phối hợpgiữa các cơ quan chức năng và tổ chức công đoàn để thanh tra, kiểm tra việc thựchiện CSPL về BHYT trong doanh nghiệp, bảo vệ quyền lợi người lao động còn hạnchế.

- Do giá dịch vụ y tế ở mức thấp trong nhiều năm, đầutư của Nhà nước cho bệnh viện còn hạn chế, nhiều bệnh viện thực hiện chủ trươngcủa Nhà nước về tự chủ bệnh viện và xã hội hóa dịch vụ y tế, kể cả kỹ thuật hiệnđại để phục vụ nhu cầu của bệnh nhân, quá trình thực hiện đã phát sinh một số yếutố tiêu cực làm ảnh hưởng đến BHYT19.

- Đa số tỉnh có tỷ lệ tham gia BHYT giảm hoặc ở mứcthấp là các tỉnh thuần nông, có điều kiện kinh tế - xã hội ở mức trung bình, ítđối tượng được ngân sách hỗ trợ tham gia BHYT. Mặt khác, tại một số tỉnh số hộnghèo giảm, theo đó số người được cấp thẻ BHYT cũng giảm (tỉnh Khánh Hòa trong2 năm 2009-2010 đã giảm gần 50.000 người nghèo).

- Một số quy định của Luật BHYT còn thiếu, chưa cụthể hoặc chưa đồng bộ như:

+ Chưa quy định cụ thể trách nhiệm của ngànhLĐ-TB&XH, chính quyền địa phương trong quy trình cấp thẻ, trách nhiệm trongviệc cấp thẻ BHYT miễn phí cho một số đối tượng do ngân sách đảm bảo..., Vì vậy,chưa phân định được trách nhiệm của từng cơ quan trong việc cấp trùng thẻ, chậmthẻ BHYT, sai thông tin trên thẻ.

+ Chưa quy định cụ thể trách nhiệm của ngành giáo dụcvà nhà trường đối với BHYT HSSV, cùng với tình trạng cạnh tranh về chi hoa hồngcủa các loại BHYT thương mại với BHYT ở nhà trường nên kết quả tham gia BHYT họcsinh ở một số địa phương còn thấp.

+ Chưa gắn việc triển khai chính sách BHYT với hộgia đình nên còn phổ biến tình trạng chỉ khi ốm nặng hay phát hiện mắc bệnh nany, mạn tính mới mua BHYT tự nguyện để đi KCB.

+ Luật BHYT quy định trẻ em dưới 6 tuổi khi đi KCBBHYT phải xuất trình thẻ BHYT. Tuy nhiên, Thông tư liên tịch số 09 do Bộ Y tếvà Bộ Tài chính lại quy định trẻ em dưới 6 tuổi chưa có thẻ BHYT có thể dùng giấykhai sinh, chứng sinh khi đi KCB. Quy định này làm chậm quá trình cấp thẻ BHYT,gây khó khăn trong việc thanh toán, quản lý đối tượng20.

3. Cơ chế tài chính để mở rộngdiện bao phủ và thực hiện chính sách BHYT

3.1. Sự tham gia của ngân sách nhà nước trong việcchuyển dần cấp ngân sách cho bệnh viện công sang hỗ trợ trực tiếp cho một số đốitượng tham gia BHYT

Giai đoạn 2009-2012, ngân sách nhà nước (NSNN) hỗtrợ cho khoảng 70% số đối tượng tham gia BHYT21,bình quân chiếm 42% so với tổng số thu BHYT (44.767 tỷ/107.225 tỷ đồng), chủ yếuhỗ trợ cho người có công, người nghèo, cận nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, trẻem dưới 6 tuổi, học sinh, sinh viên, đối tượng bảo trợ xã hội. Số tiền NSNN hỗtrợ tăng nhanh từ 4.537 tỷ đồng (2009) lên 10.732 tỷ đồng (2010) và 16.937 tỷ đồng(2012), với tỷ lệ tương ứng so với tổng số thu BHYT các năm là 35%, 42% và 43% (phụlục số 6). Đây là kết quả thực hiện chủ trương và chính sách của Đảng vàNhà nước về y tế thông qua việc thay đổi cơ chế hỗ trợ của Nhà nước cho KCB, từngbước chuyển chi ngân sách cho các bệnh viện sang hỗ trợ trực tiếp cho ngườidân, đồng thời huy động sự tham gia đóng góp của xã hội và người dân tham giaBHYT.

Đồng thời, việc sửa đổi Pháp lệnh ưu đãi người cócông với cách mạng đã tạo điều kiện mở rộng diện người có công và thân nhân củahọ được cấp BHYT; đối tượng là người dân sống ở các vùng đảo xa, khó khăn, đốitượng mới thoát nghèo, hộ cận nghèo sống tại các huyện nghèo cũng được Nhà nướcmua BHYT22.

Về cơ bản, các tỉnh đã bố trí kịp thời ngân sách đểmua BHYT cho các đối tượng được Nhà nước hỗ trợ. Phần ngân sách hỗ trợ cho cácđối tượng tham gia BHYT so với tổng số chi thường xuyên cho y tế hàng năm đãtăng từ 27% (2009) lên 33% (2012)23. Năm 2012,NSNN chi thường xuyên cho các bệnh viện trong cả nước 17.821 tỷ đồng24 chiếm 27,8% tổng chi cho y tế. Việc thực hiện lộtrình tính đúng, tính đủ giá dịch vụ y tế được tiến hành đồng thời với việcchuyển dần cấp ngân sách chi thường xuyên cho bệnh viện sang hỗ trợ trực tiếpcho người dân mua BHYT25 và lộ trình BHYT toàndân.

3.2. Việc tham gia BHYT của nhóm đối tượng khôngcó sự hỗ trợ của NSNN

Giai đoạn 2009-2012, chủ sử dụng lao động và ngườilao động, nhóm cán bộ, công chức làm việc trong khu vực công26 và đối tượng tham gia BHYT tự nguyện đóng trên 52.540 tỷ đồngchiếm 49% tổng số thu BHYT, số tiền này đã tăng từ 7.170 tỷ (2009) lên 18.072 tỷđồng (2012), nhưng tỷ lệ này có xu hướng giảm dần (năm 2009: 55%, năm 2010:49%, 2011 và 2012 là 46%).

Giai đoạn 2009-2012, tổ chức BHXH mua BHYT cho mộtsố nhóm đối tượng27 gần 9.650 tỷ đồng, chiếm khoảng9% tổng số thu BHYT.

3.3. Một số tồn tại, vướng mắc

- Mặc dù NSNN hỗ trợ một số nhóm đối tượng tham giaBHYT đã được phân bổ cho các tỉnh, song vẫn còn tình trạng một số tỉnh nợ ngânsách hỗ trợ mua BHYT cho trẻ em, học sinh (T/p Hồ Chí Minh, năm học 2012-2013 nợkhoảng 142,6 tỷ đồng hỗ trợ BHYT học sinh, tỉnh Điện Biên nợ gần 2,2 tỷ đồng hỗtrợ BHYT học sinh, T/p Hải Phòng nợ 46 tỷ đồng BHYT đã chi KCB cho trẻ em dưới6 tuổi trong giai đoạn 2010-2012, Nam Định nợ BHYT từ NSNN chiếm 80% tổng số nợBHYT toàn tỉnh).

- Gần 2/3 số tỉnh chưa có nguồn hỗ trợ từ ngân sáchđịa phương cho hộ cận nghèo tham gia BHYT.

- Đối tượng hưởng trợ cấp tuất hàng tháng từ quỹBHXH28 chưa được hưởng BHYT, chưa quy định nguồnđóng BHYT cho phụ nữ trong thời gian nghỉ thai sản được hưởng BHYT.

Nguyên nhân và trách nhiệm đối với tồn tại trênđó là:

- Do quỹ BHYT được quản lý tập trung tại BHXH ViệtNam, với cơ chế này nếu kết dư quỹ thì chuyển về trung ương, còn khi bội chithì xin cấp bổ sung nên chính quyền các địa phương chưa quan tâm nhiều đếntrách nhiệm của mình đối với việc mở rộng đối tượng, tăng nguồn thu cho quỹBHYT.

- Bộ Y tế và Bộ Tài chính chưa giải thích và thôngtin đầy đủ để xã hội hiểu và ủng hộ chủ trương điều chỉnh giá dịch vụ y tế, việctăng viện phí trên thực tế chỉ ảnh hưởng đến số người chưa tham gia BHYT, khôngảnh hưởng đến các đối tượng đã có BHYT do Nhà nước hỗ trợ.

- Một số quy định trong các văn bản pháp luật chưađồng bộ nên một số đối tượng chưa được hưởng BHYT29.

4. Việc quản lý, sử dụng quỹ vàcấp, đổi thẻ BHYT

4.1. Phương thức chi trả và thanh toán, quyếttoán chi phí KCB BHYT

a) Phương thức chi trả chi phí KCB BHYT:

Việc thanh toán chi phí KCB BHYT hiện nay được áp dụngtheo cả 3 phương thức: theo định suất, theo giá dịch vụ và theo trường hợp bệnh.

Về phương thức thanh toán theo định suất, từ tỷ lệ10% số bệnh viện áp dụng năm 2010, đến năm 2012 đã có 42% số bệnh viện áp dụngcơ chế thanh toán này. Một số tỉnh đã áp dụng phương thức thanh toán theo địnhsuất cho tất cả bệnh viện huyện (Hải Phòng, Hải Dương, Hà Nam). Đây là phươngthức thanh toán tạo sự chủ động cho bệnh viện quản lý quỹ KCB, chống lạm dụngthuốc, xét nghiệm. Tuy nhiên, mặt trái của phương thức này là bệnh viện sẽ kiểmsoát chặt, cắt giảm quyền lợi của bệnh nhân, hạn chế chuyển bệnh nhân lên tuyếntrên để tiết kiệm chi và phát sinh vướng mắc về cách tính suất phí, thanh toánchi phí ngoài định suất, sử dụng kinh phí chuyển tuyến...

Về phương thức thanh toán theo giá dịch vụ y tế, hiệncó trên 50% số bệnh viện áp dụng cơ chế này (T/p Hồ Chí Minh áp dụng với tất cảcác bệnh viện). Đây là phương thức tạo sự chủ động trong việc chỉ định xét nghiệm,thuốc, vật tư y tế nhưng dễ dẫn đến nguy cơ lạm dụng dịch vụ y tế, thuốc và gâybội chi quỹ BHYT.

Về phương thức thanh toán trọn gói theo trường hợpbệnh, chỉ mới tổ chức thí điểm tại 2 bệnh viện của Hà Nội với 4 nhóm bệnh (viêmruột thừa cấp, đẻ thường, viêm phế quản-phổi trẻ em và viêm phế quản-phổi ngườilớn), bước đầu đạt kết quả khả quan. Đây là phương thức tiến bộ được nhiều nướcáp dụng, góp phần giảm việc lạm dụng dịch vụ y tế, xét nghiệm, thuốc nhưng cầnphải có văn bản hướng dẫn chi tiết, cụ thể cho hàng ngàn loại bệnh khác nhau.

b) Về thanh toán, quyết toán chi phí KCB BHYT:

Nhìn chung, các quy định về thanh quyết toán đượcthực hiện theo đúng quy định của Luật BHYT. Việc tạm ứng, thanh quyết toán giữacơ quan BHXH và bệnh viện được thực hiện trong vòng 75 ngày, thanh toán vượt quỹđã giải quyết xong ở đa số các tỉnh (trong vòng 1 năm), thanh toán vượt trần chậmhơn do phải trình Hội đồng quản lý quỹ BHXH xem xét và quyết định30.

Bộ Y tế đã cập nhật danh mục thuốc, kỹ thuật y tế mớilàm cơ sở cho BHXH thanh toán cho các bệnh viện. Nhiều bệnh viện được thanhtoán đúng thời hạn, có nơi rút ngắn thời gian thanh toán hơn so với quy định(Hà Nội).

Bên cạnh đó, còn một số vướng mắc về cách tính vượtquỹ KCB ở bệnh viện, định mức thanh toán giữa bệnh viện và cơ quan BHXH nên đãgây nợ đọng kéo dài giữa BHXH với bệnh viện, giữa bệnh viện với công ty dược tạimột số tỉnh.

Về mức trần ở bệnh viện tuyến 2 (bệnh viện từ tuyếntỉnh và tương đương trở lên), Bộ Y tế đã phối hợp với Bộ Tài chính ban hành quyđịnh về trần tuyến 2 để quản lý chi phí ở bệnh viện và chống lạm dụng quỹ BHYT.Tuy nhiên, do có sự chênh lệch về trình độ kỹ thuật và điểm xuất phát nên hiệnnay trần tuyến 2 có sự khác nhau giữa các bệnh viện cùng hạng (cùng là bệnh việnlao tuyến tỉnh có nơi là 1,3 triệu đồng/ca bệnh, có nơi là 4 triệu đồng/ca; bệnhviện tâm thần tuyến tỉnh có nơi 1,8 triệu đồng/ca, có nơi 4 triệu đồng/ca; BHXHtỉnh Ninh Thuận áp trần cho Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh trên cơ sở mức chiphí của phòng khám, khoảng 0,35 triệu đồng/ca, trong khi thực tế phải là 2 triệuđồng/ca bệnh).

4.2. Về công tác giám định BHYT

Tổ chức BHXH Việt Nam ngày càng chú trọng hơn đếncông tác tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ giám định viên31. Toàn ngành có khoảng 2.300 cán bộ làm công tácgiám định, trong đó khoảng 32% có trình độ đại học y, dược, 22% trung cấp y, dược.

Việc giám định BHYT được triển khai trực tiếp tạicác bệnh viện trung ương, hầu hết BHXH các tỉnh phân cấp giám định cho BHXH huyện,một số ít tỉnh không phân cấp cho BHXH cấp huyện mà BHXH tỉnh thực hiện giám địnhđối với tất cả các bệnh viện trên địa bàn (t/p Hồ Chí Minh, Bình Dương). Hiệnnay, BHXH mới thực hiện giám định BHYT cho khoảng 20% tổng số bệnh án KCB BHYT,80% bệnh án chưa giám định vẫn được thanh toán theo quyết toán của bệnh viện.

Kết quả giám định BHYT cho thấy có tình trạng lạm dụngBHYT cả về phía cán bộ y tế cũng như người có thẻ BHYT. Những vi phạm phổ biếnđó là lạm dụng xét nghiệm, thuốc, hóa chất, vật tư y tế, kê đơn thuốc ngoàidanh mục cho phép, kê khống tiền thuốc, bệnh nhân nằm ghép nhưng vẫn thanh toánmỗi người/1 giường bệnh, lập hồ sơ bệnh án khống (như làm giả kết quả xét nghiệm),sử dụng chung xét nghiệm ở một số bệnh viện để thanh toán với quỹ BHYT; có nơi,cán bộ y tế ở bệnh viện sử dụng thẻ BHYT của người thân để làm thủ tục lấy thuốcở bệnh viện; người có thẻ BHYT lạm dụng thông qua việc cho mượn thẻ, đi khámnhiều nơi trong ngày (nhất là các bệnh mạn tính), cho thuê thẻ BHYT và thuê ngườibị bệnh mạn tính đi KCB để lấy thuốc (theo kiểm tra của BHXH Việt Nam, có trườnghợp thẻ BHYT ở tỉnh Đồng Nai được sử dụng 157 lần KCB trong năm).

Hiện nay, BHXH Việt Nam đang triển khai Đề án “Thíđiểm thực hiện phương pháp giám định hồ sơ thanh toán chi phí KCB BHYT theo tỷlệ” tại 10 địa phương32, theo đó chỉ giám định mẫu20% - 30% số bệnh án làm cơ sở áp dụng cho 100% số bệnh án. Sau 1 năm thí điểmđã cho thấy có những tiến bộ trong công tác quản lý, sử dụng quỹ BHYT như cảicách thủ tục hành chính, xây dựng quy chế chuyên môn, kiểm soát việc kê đơn thuốc,hạn chế một phần việc lạm dụng thuốc, kỹ thuật y tế33và góp phần giảm tỷ lệ sai sót trong KCB BHYT34.Tuy nhiên, số bệnh viện tham gia thí điểm cho rằng hình thức thí điểm này phátsinh khó khăn cho bệnh viện vì cần phải có thời gian và cán bộ để lựa chọn, sắpxếp một số lượng lớn các hồ sơ bệnh án.

4.3. Về sử dụng quỹ BHYT

a) Kết quả thực hiện:

Số tiền thu BHYT tăng nhanh qua các năm, từ 13.037tỷ đồng (2009), 25.581 tỷ đồng (2010) đã lên đến 40.237 tỷ đồng (2012). Số chiBHYT cũng tăng qua các năm, từ 15.481 tỷ đồng (2009), 19.686 tỷ đồng (2010),25.564 tỷ đồng (2011) đến 35.584 tỷ đồng (2012). Quỹ BHYT từ chỗ lũy kế bội chiđến năm 2009 là 3.083 tỷ đồng đã cân đối và có kết dư, lũy kế đến năm 2010 kếtdư khoảng 2.810 tỷ đồng và lũy kế đến năm 2012 kết dư 12.892 tỷ đồng (phụ lục số7).

Việc kết dư quỹ là do sau khi Luật BHYT có hiệu lực,đối tượng được ngân sách hỗ trợ tham gia BHYT được mở rộng, mức đóng BHYT tăngtừ 3% lên 4,5%, cùng với lương tối thiểu tăng nhiều lần trong những năm quatrong khi viện phí hầu như không thay đổi, đồng thời công tác quản lý quỹ BHYTcũng ngày càng tốt hơn. Nhiều tỉnh miền núi và Tây Nguyên có số kết dư quỹ BHYTkhá cao, có tỉnh kết dư hàng trăm tỷ đồng, đây là địa bàn gần đạt 100% dân sốcó BHYT. Tuy nhiên, do dân cư phân tán, giao thông khó khăn, xa bệnh viện, ít kỹthuật y tế hiện đại nên người dân dù có bệnh cũng ít tiếp cận dịch vụ y tế dẫnđến quỹ BHYT kết dư lớn.

Bên cạnh đó, vẫn còn một số tỉnh bội chi quỹ BHYT.Năm 2010 có 14 tỉnh, năm 2011 có 24 tỉnh và năm 2012 còn 10 tỉnh bội chi, đa sốở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (An Giang, Bến Tre, Kiên Giang, Hậu Giang, ĐồngTháp, Cần Thơ, Vĩnh Long, Cà Mau, Nam Định, Ninh Bình), có tỉnh bội chi liên tụcquỹ BHYT từ khi thực hiện đến nay và thường xuyên nhận hỗ trợ từ quỹ dự phòngtrung ương35. Điều này cho thấy sự không hợp lýkhi tỉnh có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển hơn lại nhận trợ cấp cho việcthâm hụt quỹ BHYT của mình từ việc điều tiết kết dư của các tỉnh miền núi có điềukiện kinh tế - xã hội khó khăn.

Phân tích việc sử dụng quỹ BHYT theo nhóm đối tượngtham gia cho thấy, nhóm tự nguyện có mức bội chi lớn nhất, số tiền được sử dụngđể KCB gấp 3 lần số tiền đóng BHYT (vì ốm nặng mới mua BHYT); nhóm cán bộ hưu trívà bảo trợ xã hội số tiền sử dụng để KCB gấp 2,5 lần số tiền đóng BHYT (vì tuổicao, sức yếu, bệnh nhiều, nhưng đa số đã tham gia BHYT trong nhiều năm).

b) Về sử dụng phần kết dư quỹ BHYT:

Đối với phần kết dư quỹ BHYT, do Luật và văn bản hướngdẫn chưa quy định cụ thể về thủ tục lập quỹ dự phòng hay chia số quỹ kết dư trướcnên quá trình thực hiện còn vướng mắc. Đến nay, số kết dư quỹ BHYT gần 13.000 tỷđồng chưa được phân bổ cho các tỉnh có quỹ kết dư, gây thắc mắc với các địaphương có kết dư quỹ KCB BHYT36.

Trước thực trạng trên, có ý kiến cho rằng nếu quỹ kếtdư nhiều thì nên giảm số tiền NSNN mua BHYT. Tuy nhiên, việc Nhà nước mua BHYTcho người dân đó là chính sách phúc lợi xã hội và là quyền lợi của người dân,hơn nữa mệnh giá gần 600 ngàn đồng/1 thẻ (năm 2012) vẫn là mức thấp, vì vậy sốkết dư cần được đầu tư trở lại cho tỉnh để tổ chức cung ứng dịch vụ, nâng cấp kỹthuật y tế, đầu tư phương tiện vận chuyển bệnh nhân phù hợp với điều kiện sống ởmiền núi, vùng sâu, vùng xa để người dân được hưởng lợi một cách công bằng từchính sách của Nhà nước.

4.4. Chi phí quản lý, công tác kiểm toán quỹBHYT và áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý BHYT

a) Chi phí quản lý BHYT và kiểm toán quỹ BHYT:

Hiện nay, chi phí quản lý được bố trí chung cho bộmáy làm công tác BHYT và BHXH, chưa hạch toán được phần chi phí quản lý riêngcho BHYT mỗi năm (phụ lục số 7).

Theo quy định của Luật BHYT, định kỳ 3 năm Kiểmtoán Nhà nước báo cáo Quốc hội về kết quả kiểm toán quỹ BHYT. Đầu năm 2013, Kiểmtoán Nhà nước đã tổng hợp tài chính quỹ, kiểm toán việc quản lý và sử dụng quỹBHYT tại BHXH Việt Nam giai đoạn 2010-2012. Năm 2011, qua kiểm toán tại một sốtỉnh đã kiến nghị thu hồi cho ngân sách 6,4 tỷ đồng. Năm 2013, kiểm toán BHYTcho người nghèo tại 8 tỉnh đã phát hiện trên 332.000 thẻ cấp trùng, kiến nghịthu hồi nộp NSNN 114 tỷ đồng. Ngoài ra, qua kiểm toán còn phát hiện việc thanhtoán thuốc ngoài danh mục, một số thuốc giá cao hơn quy định, thanh toán thuốcđiều trị nội trú đã có trong cơ cấu dịch vụ phẫu thuật, chi phí dịch vụ kỹ thuậtcao chưa được Bộ Y tế phê duyệt.

b) Việc áp dụng công nghệ thông tin trong quảnlý BHYT;

Cơ quan BHXH Việt Nam đã xây dựng và triển khai Kếhoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của ngành BHXH giai đoạn2012 - 201537; thống nhất việc sử dụng một số phầnmềm nghiệp vụ liên quan đến thực hiện chính sách BHYT trong các đơn vị thuộcBHXH Việt Nam như phần mềm cấp và quản lý sổ, thẻ cho người lao động và đối tượngtham gia BHYT; phần mềm quản lý thu BHYT; phần mềm quản lý BHYT tự nguyện; phầnmềm thống kê chi phí KCB BHYT.

Tuy nhiên, số phần mềm trên mới chỉ đáp ứng cho việcxử lý nghiệp vụ độc lập tại các đơn vị BHXH cấp huyện, một phần ở cấp tỉnh vàgiám định viên ở các cơ sở khám chữa bệnh. Hiện tại, dữ liệu nghiệp vụ còn phântán, chia cắt, ít có sự liên thông với nhau và chưa được tập trung tại cấp tỉnh.Tổ chức BHXH Việt Nam chưa hình thành được hệ thống quản lý, lưu trữ cơ sở dữliệu quốc gia về BHYT theo quy định tại khoản 10, Điều 41 của Luật BHYT38.

4.5. Việc quản lý, cấp, đổi thẻ BHYT

Cơ quan BHXH Việt Nam đã ban hành mẫu phôi thẻ BHYTmới39 và khoảng 30 văn bản hướng dẫn, phân cấpviệc cấp mới, đổi thẻ BHYT. Thời gian đầu, do chưa có kinh nghiệm triển khai cấpthẻ với nhiều nhóm đối tượng nên việc cấp thẻ, phân nhóm thẻ (nhất là nhóm ngườicó công) phát sinh một số vướng mắc, sai sót về thông tin trên thẻ, mức hưởng,đến nay đã được khắc phục và dần đi vào ổn định. Các tổ chức chịu trách nhiệmquản lý các nhóm đối tượng đã có cố gắng trong việc lập danh sách, rà soát đốitượng tham gia BHYT để chuyển cho cơ quan BHXH cấp thẻ kịp thời cho các đối tượngtham gia. Tuy nhiên, các tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, vùngđồng bào dân tộc thiểu số các sai sót trên vẫn còn xảy ra khá phổ biến.

Việc cấp thẻ BHYT có ảnh đã được tổ chức thí điểm đốivới một số nhóm đối tượng tại 5 địa phương (Gia Lai, Sóc Trăng, Thanh Hóa, HàGiang và Hải Phòng) với khoảng 261.000 thẻ BHYT góp phần đơn giản thủ tục cho bệnhviện, hạn chế lạm dụng thẻ.

Để người dân tiếp cận và tham gia BHYT thuận lợi,ngành BHXH đã xây dựng mạng lưới đại lý BHYT tại các xã và các trường học. Đếnnay, toàn quốc có gần 11.400 đại lý thu BHYT tại 76% tổng số các xã trong cả nướcđể bán BHYT cho nhóm tự nguyện, hộ cận nghèo... và gần 22.700 đại lý BHYT tạicác trường học.

4.6. Một số tồn tại, vướng mắc

- Số kết dư lớn quỹ BHYT là vấn đề đáng quan tâm, bởiđây là loại quỹ ngắn hạn, chỉ giới hạn đóng và sử dụng trong năm. Nhiều nướckhông quy định quỹ kết dư, nếu kết dư sẽ tăng mức hưởng hoặc giảm mức đóngBHYT. Ở Thái Lan quy định nếu kết dư phải nộp ngân sách hoặc ở Trung Quốc quy địnhkết dư tối đa là 10%.

- Chưa có phương thức thanh toán hợp lý, khoa họcgiữa các bệnh viện với cơ quan BHXH về chi phí KCB. Hiện nay, có tỉnh đã thựchiện 100% thanh toán theo định suất ở tuyến huyện, song có địa phương chưa thựchiện; việc tạm ứng kinh phí từ cơ quan BHXH cho bệnh viện còn thực hiện khácnhau ở các địa phương; số hồ sơ bệnh án giám định chỉ chiếm khoảng 20% nên chưađảm bảo việc thanh toán chính xác, chưa thể phát hiện đầy đủ việc lạm dụng BHYTở các bệnh viện.

- Sở Y tế một số tỉnh chưa quan tâm hướng dẫn bệnhviện thực hiện đúng quy trình, thủ tục phê duyệt giá của cấp có thẩm quyền nênmột số bệnh viện gặp khó khăn khi yêu cầu cơ quan BHXH chi trả một số dịch vụ ytế mới cho bệnh nhân BHYT, gây nợ đọng và ảnh hưởng quyền lợi của bệnh nhânBHYT.

- Hầu hết các xã đều có đại lý BHYT song hoạt độngmang tính hành chính, các đại lý chưa thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, vận độngnhân dân tham gia BHYT, một số đại lý chỉ bán BHYT tự nguyện cho người có hộ khẩutại địa phương.

- Tình trạng trùng thẻ BHYT ở các đối tượng do NSNNhỗ trợ40 xảy ra tại nhiều tỉnh (cá biệt có ngườinhận được 4-5 thẻ BHYT). Giai đoạn 2009-2012, qua rà soát tại tỉnh, thành phốđã phát hiện gần 800.000 thẻ BHYT cấp trùng, với số tiền ngân sách phân bổ khoảng342 tỷ đồng.

- Việc phát hành thẻ BHYT có ảnh của người tham giaBHYT sau thời gian thực hiện thí điểm chưa thể triển khai rộng rãi. BHXH ViệtNam kiến nghị chỉ cấp thẻ có ảnh cho đối tượng tham gia ổn định, chưa có giấy tờtùy thân thay thế, vì chi phí cho thẻ có ảnh khá tốn kém (khoảng 440 tỷ đồngcho gần 70 triệu người/năm).

* Nguyên nhân và trách nhiệm đối với tồn tạitrên đó là:

- Đội ngũ cán bộ giám định BHYT còn hạn chế cả về sốlượng và chất lượng, thiếu công cụ giám định hiệu quả (cần phải có phác đồ điềutrị chuẩn cho hàng ngàn loại bệnh, phải có quy trình chuyên môn kỹ thuật chuẩnvề xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh, đây là những vấn đề đòi hỏi Bộ Y tế phảicó thời gian và kinh nghiệm mới ban hành được), chưa đáp ứng yêu cầu về kỹ năngvà chuyên môn hóa cao của nghiệp vụ BHYT.

- Các bệnh viện được thực hiện cơ chế tự chủ tàichính và xã hội hóa đã tìm cách để tăng nguồn thu từ dịch vụ y tế làm phát sinhnhiều hình thức lạm dụng BHYT tinh vi khó phát hiện và kiểm soát, đồng thời vaitrò QLNN ở các địa phương còn hạn chế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, có tỉnh41 bội chi quỹ BHYT hàng trăm tỷ đồng, khi tăng cườngcông tác giám định và quản lý, thanh tra, kiểm tra thường xuyên thì việc quảnlý, sử dụng quỹ BHYT có hiệu quả hơn.

- Luật BHYT chưa quy định cụ thể việc phân cấptrách nhiệm trong hệ thống BHYT, chưa gắn được trách nhiệm và quyền lợi của địaphương trong quản lý, sử dụng quỹ BHYT nên chưa huy động được sự tham gia củaUBND các cấp.

- Ngành BHXH chưa đổi mới mạnh mẽ tổ chức mạng lướiđại lý để tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân tham gia BHYT (khó tìm mua thẻBHYT ở cộng đồng).

- Vấn đề trùng thẻ nhiều ở các đối tượng được NSNNhỗ trợ mua BHYT là do Luật BHYT giao cho nhiều bộ ngành, nhiều cấp khác nhau lậpdanh sách các nhóm đối tượng, thực tế 1 người có thể thuộc nhiều nhóm đối tượngtrong khi chưa có cơ chế phối hợp để rà soát danh sách đối tượng. Bộ Tài chínhchưa kịp thời thanh tra, kiểm tra việc trùng thẻ; hệ thống phần mềm quản lýBHYT của cả BHXH Việt Nam và các bệnh viện chưa kết nối, liên thông được vớinhau nên chưa kiểm soát được việc cấp trùng thẻ BHYT.

5. Cung ứng dịch vụ y tế chongười tham gia BHYT

5.1. Tổ chức mạng lưới, tăng cường cơ sở vật chất,trang thiết bị cho bệnh viện

Để phù hợp với điều kiện của Việt Nam, hệ thống cơsở KCB được tổ chức theo 4 tuyến (bệnh viện tuyến trung ương, tỉnh, huyện vàxã). Từ năm 2008 - 2012, tiếp tục chủ trương đầu tư nâng cấp các cơ sở y tế bằngnguồn trái phiếu Chính phủ, đã có hơn 600 bệnh viện huyện và 150 bệnh viện tuyếntỉnh được xây dựng, sửa chữa và nâng cấp trang thiết bị y tế với số vốn đầu tưkhoảng 23.200 tỷ đồng.

Tính đến cuối năm 2012, các bệnh viện tuyến huyệnđã có thêm 10.000 giường bệnh (tăng 17% so với năm 2008); việc sử dụng các dịchvụ kỹ thuật, thủ thuật, nội soi, xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh... đã tăng rõ rệt(120-320% ở tuyến tỉnh, 120-180% ở tuyến huyện). Một số bệnh viện được cung cấpcác trang thiết bị y tế hiện đại góp phần nâng cao chất lượng, giảm số người ViệtNam ra nước ngoài KCB. Năm 2012, nguồn thu từ KCB BHYT chiếm hơn 70% tổng thu từKCB (Hà Nội là 75%, một số bệnh viện tỷ lệ này là 80%).

Cả nước hiện có trên 2.400 cơ sở KCB ký hợp đồngKCB BHYT, trong đó trên 2.100 cơ sở KCB nhà nước, gần 300 cơ sở KCB tư nhân,khoảng 10.000 trạm y tế xã tham gia KCB BHYT. Hầu hết những bệnh nặng, mạntính... cần điều trị dài ngày, chi phí lớn đều đưa về các bệnh viện nhà nước. Mộtsố bệnh viện tư nhân thông qua việc cải tiến dịch vụ y tế, nâng cao y đức, tháiđộ phục vụ và cách ứng xử đã bắt đầu cạnh tranh mạnh với bệnh viện nhà nướctrong việc thu hút số lượng đăng ký KCB ban đầu (Bình Dương, Đắk Lắk).

Từ năm 2009 đến 2012, số lượt KCB BHYT tăng mạnh, cụthể: năm 2009, tổng số lượt KCB BHYT là trên 92,1 triệu (trong đó trên 6,3 triệulượt nội trú và gần 86,8 lượt ngoại trú); năm 2010, tổng số lượt KCB BHYT là gần102,2 triệu (trong đó 8,4 triệu lượt nội trú và gần 93,8 triệu lượt ngoại trú);năm 2011, tổng số lượt KCB BHYT là trên 114,4 triệu (trong đó gần 8,9 triệu lượtnội trú và 105,5 triệu lượt ngoại trú); năm 2012, tổng số lượt KCB BHYT là121,3 triệu (trong đó gần 10,2 triệu lượt nội trú và trên 111,1 triệu lượt ngoạitrú).

Người tham gia BHYT ngày càng có nhiều cơ hội hơntrong việc tiếp cận dịch vụ y tế. Năm 2009, bình quân KCB là 1,84 lượt/thẻ/nămđến năm 2012 đã tăng lên 2,04 lượt/thẻ/năm, trong đó KCB ngoại trú tăng từ 1,7lên 1,87 lượt/thẻ/năm (phụ lục số 8). Với mệnh giá thẻ BHYT ở mức thấp so vớicác nước trong khu vực, nhưng người tham gia BHYT ở Việt Nam được hưởng thụtương đối nhiều dịch vụ y tế và một số dịch vụ kỹ thuật cao, hiện đại (chạy thậnnhân tạo, can thiệp tim mạch, thuốc chữa ung thư, chống thải ghép...). Việctăng mức chi trả từ quỹ BHYT và danh mục quyền lợi tiếp tục mở rộng cho thấyvai trò quan trọng của BHYT trong việc chăm sóc sức khỏe của người dân.

5.2. Đăng ký KCB ban đầu và phân tuyến, chuyểntuyến KCB

a) Đăng ký KCB ban đầu:

Việc đăng ký KCB ban đầu góp phần sử dụng hợp lý,hiệu quả nguồn lực của cơ sở y tế tuyến dưới, giúp người bệnh tiết kiệm và giảmchi phí đi lại không cần thiết42. Bộ Y tế vàBHXH Việt Nam đã phối hợp chỉ đạo các địa phương phân bổ hợp lý số lượng ngườitham gia BHYT ở các cơ sở y tế.

Bình quân có 20% người tham gia BHYT đăng ký KCB banđầu tại y tế tuyến xã, 60% đăng ký tại tuyến huyện và gần 20% đăng ký tại cáccơ sở tuyến tỉnh và trung ương. Tại các địa bàn miền núi, đa số người dân đăngký KCB ban đầu tại tuyến xã (Đắk Lắk là 65%, tỉnh Vĩnh Long là 82,7%, Nam Định69%, Ninh Thuận 53%, có xã ở Điện Biên, 100% đăng ký tại xã).

b) Phân tuyến, chuyển tuyến KCB BHYT:

Bộ Y tế và BHXH Việt Nam đã phối hợp trong việc banhành văn bản hướng dẫn và chỉ đạo thực hiện chuyển tuyến KCB BHYT, cải tiến cácthủ tục KCB43, tạo điều kiện thuận lợi cho bệnhnhân khi cần thiết phải vượt tuyến, trái tuyến được quỹ BHYT chi trả 70%, 50%,30% chi phí tùy theo hạng bệnh viện.

Để đảm bảo quyền lợi của người tham gia BHYT, khắcphục tình trạng quá tải, Chính phủ đã chỉ đạo đẩy nhanh tốc độ đào tạo cán bộ ytế, triển khai đề án giảm quá tải bệnh viện44,thực hiện chế độ luân phiên có thời hạn đối với người hành nghề tại cơ sở KCB45, triển khai đề án bác sỹ trẻ về công tác ở vùngkhó khăn, cải tiến quy trình KCB để giảm thời gian chờ đợi cho bệnh nhân.

5.3. Cung ứng thuốc KCB theo BHYT

Công tác đấu thầu, cung ứng thuốc KCB BHYT được thựchiện theo quy định của Luật dược, Luật đấu thầu và Thông tư liên Bộ Tài chính -Bộ Y tế (tháng 01/2012) về hướng dẫn đấu thầu mua thuốc trong bệnh viện. Việc đấuthầu thuốc được thực hiện theo 3 cách đó là đấu thầu tập trung, đấu thầu theođơn vị và đấu thầu đại diện.

Năm 2012, đã có 46/63 tỉnh áp dụng đấu thầu tậptrung theo tỉnh, 7 tỉnh áp dụng hình thức đấu thầu đại diện, 10 tỉnh đấu thầutheo từng đơn vị, các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế, bộ, ngành khác tự tổ chức đấuthầu. Việc đấu thầu, cung ứng cơ bản đã đảm bảo có đủ thuốc thuộc danh mục thuốcdo Bộ Y tế ban hành, đáp ứng nhu cầu KCB theo BHYT. Việc áp dụng cơ chế đấu thầumới theo Thông tư 01 từ đầu năm 2013, bước đầu đã giảm chi phí mua thuốc, cónơi giảm 10-20%46. Tỷ trọng chi cho thuốc chiếmkhoảng 60% tổng chi phí KCB BHYT.

5.4. Về giá dịch vụ y tế, cùng chi trả, chi phíchi trả tối đa của quỹ BHYT

a) Giá dịch vụ y tế:

Giá dịch vụ y tế là cơ sở để quỹ BHYT thanh toánchi phí KCB với các bệnh viện. Trước tháng 4/2012, viện phí được áp dụng theoquy định từ năm 1995 và được điều chỉnh vào năm 2003. Giá viện phí duy trì ở mứcthấp một thời gian dài trong khi giá điện, nước và các loại thuốc, vật tư y tếvà tiền đóng BHYT tăng liên tục đã gây khó khăn cho bệnh viện trong việc đảm bảoquyền lợi của bệnh nhân BHYT.

Từ năm 2012, giá dịch vụ y tế được sửa đổi theoThông tư liên tịch của Bộ Y tế-Tài chính (Thông tư số 04/2012/TTLT-BYT-BTC mớiđiều chỉnh 3/7 yếu tố, có 447 loại dịch vụ y tế được điều chỉnh giá). Đến nay,đã có 62/63 tỉnh triển khai thực hiện với mức giá dịch vụ y tế chiếm khoảng60-85% so với mức giá tối đa47, nhiều tỉnh miềnnúi áp giá này ở gần với mức tối đa.

Việc điều chỉnh giá dịch vụ y tế góp phần nâng caomột phần chất lượng dịch vụ y tế và điều kiện hoạt động cho bệnh viện, nâng caohơn quyền lợi cho bệnh nhân BHYT. Sau 1 năm áp dụng, đã dần ổn định, đây là bướcđi quan trọng trong lộ trình tính đúng, tính đủ giá dịch vụ y tế, xác định rõphần Nhà nước hỗ trợ, phần người dân đóng góp trong BHYT gắn với lộ trình chuyểndần việc đầu tư NSNN cho bệnh viện sang hỗ trợ trực tiếp cho người dân tham giaBHYT. Một số bệnh viện có số thu từ BHYT tăng khoảng 10-15% so với trước và sửdụng một phần để cải thiện điều kiện cơ sở vật chất phục vụ bệnh nhân.

b) Về cùng chi trả trong KCB BHYT:

Hiện nay, các nhóm đối tượng thực hiện các mức độkhác nhau trong cùng chi trả khi KCB đó là: 20%, 5% hoặc không cùng chi trả. Từnăm 2009 - 2012, số tiền cùng chi trả ở mức 5% thu được 791 tỷ đồng, mức 20% là2.400 tỷ đồng, nguồn thu này góp phần bảo toàn quỹ BHYT đồng thời cũng là giảipháp hữu hiệu góp phần kiểm soát lạm dụng quỹ BHYT, nhất là từ phía người bệnh.

Bên cạnh cơ chế cùng chi trả, Thủ tướng Chính phủđã ban hành Quyết định số 14/2012/QĐ-TTg quy định cơ chế để các tỉnh hỗ trợ ngườinghèo cùng chi trả 5% chi phí KCB BHYT, tuy nhiên, do còn thiếu hướng dẫn cụ thể48 nên nhiều địa phương chưa triển khai thực hiện.

Qua giám sát, một số ý kiến đề nghị nên xem xét lạiviệc cùng chi trả đối với người nghèo, thân nhân người có công, những đối tượngthuộc diện bảo trợ xã hội sống nhờ trợ cấp Nhà nước.

c) Quy định tối đa mức cùng chi trả của bệnhnhân BHYT và chi phí tối đa của quỹ BHYT cho bệnh nhân tham gia BHYT:

Việc không giới hạn số tiền quỹ BHYT chi trả cho bệnhnhân đã cho thấy sự bất hợp lý, một số bệnh nhân được quỹ BHYT chi trả hàng tỷđồng, hàng ngàn bệnh nhân được chi trả 500-700 triệu đồng/năm, nhiều trường hợpđược chi trả mức 50-100 triệu đồng, so với mệnh giá thẻ BHYT thì mức hưởng nhưvậy đã làm giảm ý nghĩa của nguyên tắc đóng-hưởng trong BHYT.

Mặt khác, một số bệnh nhân BHYT phải cùng chi trả sốtiền khá lớn do bị bệnh mạn tính, sử dụng các kỹ thuật cao, thuốc và dịch vụ ytế đắt tiền cùng với khoản tiền phải trả khi sử dụng danh mục thuốc, kỹ thuậtngoài danh mục BHYT, mức cùng chi trả quá lớn đã làm giảm ý nghĩa bảo vệ củaBHYT.

5.5. Một số tồn tại, vướng mắc

- Những bất hợp lý đối với việc cung ứng dịch vụ ytế đó là:

+ Sự khác nhau trong số lượt KCB bình quân/năm ở cácđịa phương, trong khi người dân ở An Giang bình quân đi KCB là 3,2 lượt/thẻ/năm,Tiền Giang 3,7 lượt, Vĩnh Long 4,4 lượt, Bến Tre 3,4 lượt..., thì ở nhiều tỉnhmiền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ chỉ số này là 0,8-1,5 lượt/thẻ/năm, như ở LạngSơn 1,27 lượt, Hà Nội 1,3 lượt, Thanh Hóa 1,31 lượt và Nam Định 0,85 lượt...

+ Chi phí KCB BHYT còn bất hợp lý, bình quân trên cảnước quỹ BHYT chi trả KCB nội trú tại bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh gần 2 triệuđồng/ca bệnh, song có tỉnh là 1 triệu đồng, cá biệt có tỉnh là 4 triệu đồng/cabệnh, trong khi trình độ chuyên môn kỹ thuật và dịch vụ y tế giữa các bệnh việnđa khoa tuyến tỉnh không thể có sự chênh lệch đến mức gấp 3-4 lần. Tại tuyếnxã, năm 2012, chi phí KCB BHYT bình quân cả nước là 42.000 đồng/lần, trong khicó tỉnh là 100.000 đồng/lần49.

+ Tuy mức đóng BHYT như nhau song mức chi trả củaquỹ BHYT lại khác nhau do giá dịch vụ y tế còn khác nhau giữa các địa phương50. Mặt khác, do chênh lệch kỹ thuật và trang thiếtbị y tế giữa các tỉnh nên việc chăm sóc sức khỏe cho người dân ở miền núi, vùngsâu, vùng xa, biên giới còn hạn chế, khó khăn trong khi người dân ở đồng bằng lạiđược hưởng nhiều kỹ thuật y tế hiện đại và thuốc đắt tiền do BHYT chi trả.

- Tính công khai, minh bạch trong cung ứng dịch vụy tế và quyền lợi của người tham gia BHYT còn hạn chế. Người tham gia BHYT chưahiểu đầy đủ quyền lợi và trách nhiệm của mình khi đến KCB tại bệnh viện. Việcngười bệnh có BHYT phải đóng thêm một số khoản chi ngoài quyền lợi hưởng BHYThoặc phải lặp lại các xét nghiệm chẩn đoán khi chuyển tuyến điều trị vừa gây tốnkém cho bệnh nhân, vừa lãng phí quỹ BHYT.

- Hiện nay, giá dịch vụ y tế chỉ mới thiết kế 3/7 yếutố hình thành giá (chưa có yếu tố về lương và các loại phụ cấp cho cán bộ y tế),nhưng việc thực hiện điều chỉnh tiền lương hàng năm tại các bệnh viện lại phảilấy một phần từ nguồn thu dịch vụ y tế đã ảnh hưởng đến nguồn tài chính phục vụKCB BHYT và chưa thực sự tạo động lực cho các bệnh viện đối với chủ trương tănglương cơ sở.

- Những hạn chế về chuyên môn, tình trạng chậm cảithiện về y đức, thái độ phục vụ, tinh thần trách nhiệm và cách ứng xử của một sốcán bộ, nhân viên y tế tại một số bệnh viện công, đặc biệt một số vụ việcnghiêm trọng xảy ra gần đây đã làm giảm sút lòng tin của người bệnh, gia tăng bứcxúc trong dư luận xã hội.

- Phần lớn người tham gia BHYT chưa được thực hiệnquyền đăng ký KCB BHYT ban đầu tại tuyến xã, tuyến huyện và khi cần thiết đượcthay đổi như quy định của Luật BHYT. Tại nhiều địa phương, người bệnh phải chấpnhận nơi KCB ban đầu theo phân bổ của cơ quan BHXH và Sở Y tế. Đồng thời, nhữngngười đăng ký KCB ban đầu tại tuyến xã có mức hưởng thụ dịch vụ y tế, chất lượngthuốc thấp hơn so với những người đăng ký KCB ban đầu ở tuyến huyện và tỉnh51.

- Số ca vượt tuyến, trái tuyến tăng nhanh, từ 3 triệulượt (2010) lên 9,5 triệu (2011) và 11,6 triệu lượt (2012) đã làm tăng tình trạngquá tải ở tuyến trên (khoảng 80% trường hợp quá tải là ở tuyến bệnh viện trungương và các bệnh viện tỉnh/thành phố có nhiệm vụ như tuyến trung ương). Một sốbệnh viện tuyến huyện phải sử dụng 50%, thậm chí trên 70% quỹ KCB BHYT để chitrả cho KCB trái tuyến, vượt tuyến52 trong khikhông thể kiểm soát được phần chi phí này.

- Tại một số địa bàn, ở các vùng giáp ranh (giữacác tỉnh, huyện) việc KCB BHYT chưa được thuận lợi đối với người dân.

- Đấu thầu thuốc chưa đáp ứng yêu cầu, giá cùng mộtloại thuốc có sự chênh lệch giữa các tỉnh, giữa các bệnh viện trong tỉnh và giữacác bệnh viện với thị trường bên ngoài. Việc áp dụng cơ chế đấu thầu mới cũngchỉ là đấu giá thuốc, chưa có chế tài đủ mạnh về tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượngthuốc53, một số loại thuốc giá rẻ nhưng chất lượngchưa cao đã trúng thầu.

* Nguyên nhân và trách nhiệm đối với các tồn tạitrên đó là:

- Tình trạng vượt tuyến, trái tuyến một phần là dongười dân lo ngại, thiếu tin tưởng vào trình độ của cán bộ y tế tuyến huyện, muốnđược KCB tại các bệnh viện tuyến trên với đội ngũ cán bộ y tế giỏi, trang thiếtbị y tế hiện đại, được hưởng dịch vụ y tế chất lượng cao... một phần do lực húttừ bệnh viện tuyến trên để tăng nguồn thu đã tạo thuận lợi trong việc tiếp nhậnbệnh nhân54. Ngoài ra, giá viện phí chênh lệchgiữa các tuyến không nhiều, giao thông thuận lợi hơn cũng tạo điều kiện để ngườidân đến tuyến bệnh viện cao hơn.

- Việc cung ứng dịch vụ y tế có chất lượng là yếu tốquyết định sự thành công của chính sách BHYT, tuy nhiên quy định về cung ứng dịchvụ y tế trong Luật BHYT còn ít, chưa cụ thể, chưa quy định về gói dịch vụ BHYTcơ bản nên quá trình thực hiện đã phát sinh những vướng mắc, áp dụng quyền lợicho người bệnh còn khác nhau.

- Bộ Y tế, Bộ Tài chính chưa có biện pháp đặc thù đểtạo điều kiện cho các bệnh viện tỉnh còn hạn chế về kỹ thuật y tế phát triểntheo kịp các bệnh viện khác.

- Do tổ chức đấu thầu thuốc theo từng bệnh viện hoặctheo tỉnh, chưa tổ chức đấu thầu thuốc quốc gia đối với một số thuốc, vật tư ytế thường dùng, có chi phí cao nên giá thuốc khác nhau giữa các bệnh viện và giữacác tỉnh.

- Bộ Y tế và BHXH Việt Nam chưa xác định được tỷ lệchi hợp lý và hiệu quả từ quỹ BHYT cho trạm y tế xã.

6. Công tác quản lý nhà nước vềBHYT

6.1. Công tác chỉ đạo tuyên truyền, vận độngnhân dân tham gia BHYT và điều phối liên ngành

- Được phân công quản lý nhà nước (QLNN) về BHYT55, Bộ Y tế chịu trách nhiệm chủ trì, phối hợp vớicác bộ, cơ quan ngang bộ, các tổ chức có liên quan thực hiện nhiệm vụ tuyêntruyền về BHYT; đồng thời, UBND các cấp, tổ chức BHXH, cơ sở KCB BHYT, tổ chứcđại diện người lao động và tổ chức đại diện người sử dụng lao động có trách nhiệmtuyên truyền về BHYT.

Trong những năm qua, Bộ Y tế, BHXH Việt Nam và UBNDcấp tỉnh đã phối hợp với ngành tuyên giáo tuyên truyền Chỉ thị số 38-CT/TW củaBan bí thư về đẩy mạnh công tác BHYT trong tình hình mới và Nghị quyết số21-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảohiểm xã hội, BHYT giai đoạn 2012 - 2020; phối hợp với các bộ, ngành và các tổchức triển khai tuyên truyền vận động về BHYT bằng nhiều hình thức56 góp phần nâng cao nhận thức của xã hội và ngườidân về BHYT; tổ chức tập huấn cho cán bộ y tế và cán bộ BHXH.

- Hầu hết HĐND, UBND các tỉnh đều ban hành Chỉ thị,Nghị quyết, Quyết định và văn bản để chỉ đạo thực hiện chính sách BHYT tại địaphương, khoảng 30 tỉnh đã ban hành chỉ thị, kế hoạch thực hiện Luật BHYT57. Bộ Y tế, BHXH Việt Nam và một số tỉnh đã tổ chứcgiao ban hàng quý để xử lý vướng mắc trong quá trình thực hiện Luật BHYT.

Đồng thời, để phối hợp liên ngành, Bộ Y tế đã banhành Quyết định 5205/QĐ-BYT về quy chế phối hợp trong thực hiện BHYT giữa ngànhy tế với ngành BHXH. Đến nay, gần 40 tỉnh đã xây dựng quy chế phối hợp trong việcthực hiện CSPL về BHYT giữa ngành y tế với ngành BHXH và giữa ngành BHXH vớicác ban, ngành khác58.

6.2. Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm

Nhìn chung, đã có sự phối hợp giữa Bộ Y tế và BHXHViệt Nam trong việc thanh tra, kiểm tra KCB BHYT, quản lý, sử dụng quỹ BHYT tạimột số địa phương. Qua gần 4.500 lượt kiểm tra tại các cơ sở KCB BHYT đã pháthiện nhiều sai phạm, đặc biệt là việc lạm dụng thuốc, lạm dụng xét nghiệm và đãyêu cầu xuất toán 149 tỷ đồng, một số trường hợp vi phạm pháp luật đã bị xemxét xử lý hình sự59.

Tại một số địa phương, công tác thanh tra, kiểm traBHYT trên địa bàn cũng được quan tâm và đã xử lý những trường hợp vi phạmnghiêm trọng như tại thành phố Hồ Chí Minh (vụ việc tại Bệnh viện Chợ Rẫy đã đượcđưa ra xử tại tòa án), Kiên Giang (vụ vi phạm về BHYT tại 8 bệnh viện đã xử lýkỷ luật 7 cán bộ y tế, chuyển cơ quan điều tra vụ việc liên quan tới 3 cán bộ,thu hồi nộp ngân sách trên 192 triệu đồng), Điện Biên (thanh tra trên 200 đơn vịsử dụng lao động và gần 70 cơ sở KCB, đã xử lý kỷ luật 1 bác sỹ và thu hồi gần270 triệu đồng cho quỹ BHYT)... Tuy nhiên, những trường hợp vi phạm hành chínhtrong lĩnh vực BHYT lại chưa được Bộ Y tế, các bộ ngành và UBND các cấp quantâm xử lý theo quy định của pháp luật.

Thực tế cho thấy, BHXH hiện là lực lượng chínhtrong kiểm tra phát hiện sai phạm về BHYT ở các cơ sở KCB, chưa có sự phối hợpchặt chẽ giữa các ngành trong thanh tra, kiểm tra; bên cạnh việc tăng cườngcông tác thanh tra, kiểm tra cần phải xây dựng cơ chế tự quản, tự giám sát củacác bệnh viện cũng như tăng cường công tác thanh tra của chính quyền địaphương.

6.3. Một số tồn tại, vướng mắc

- Hoạt động tuyên truyền về BHYT còn hạn chế, nặngtính hình thức, chưa thực hiện thường xuyên, liên tục; chưa có mạng lưới cộngtác viên sâu rộng đến các cộng đồng dân cư; chưa xác định nhóm đối tượng cần tậptrung trong tuyên truyền, vận động, vì vậy, rất ít người khỏe mạnh chủ độngtham gia BHYT, nhóm tự nguyện tham gia BHYT chủ yếu là người ốm, bị bệnh mạntính, nan y. Bên cạnh đó, kinh phí cho công tác tuyên truyền còn thấp, khoảng300-500 triệu đồng/năm/tỉnh (trong đó đã dành quá nửa để mua tạp chí và báoBHXH chuyên ngành); hiệu quả tuyên truyền chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra của Đảngvà Nhà nước về chính sách BHYT toàn dân.

- Một số ít địa phương (thường là các tỉnh bị bộichi quỹ BHYT nhiều năm) thiếu sự chỉ đạo của UBND để phối hợp giữa ngành y tếvà cơ quan BHXH xử lý các vấn đề vướng mắc trong thực hiện BHYT ở địa phương.

- Công tác thanh tra của các ngành y tế,LĐ-TB&XH, tài chính và UBND các cấp còn hạn chế, kết quả mờ nhạt, chưa chủđộng phát hiện các vấn đề vi phạm trong quá trình tổ chức thực hiện. Công táckiểm tra của BHXH Việt Nam chưa thường xuyên với hàng ngàn bệnh viện tham giaKCB BHYT.

- Văn bản quy phạm pháp luật về xử lý vi phạm hànhchính trong lĩnh vực y tế từ năm 2011 đã quy định chi tiết về hình thức, thẩmquyền và mức tiền xử phạt đối với hầu hết các hành vi vi phạm về BHYT, nhưngtrong thực tế các cơ quan chức năng chưa xử lý theo quy định mặc dù có nhiềusai phạm của cả cán bộ y tế, cán bộ BHXH, người tham gia BHYT, cũng như chủ sửdụng lao động..., tính đến hết năm 2012 chưa có trường hợp nào bị xử phạt vi phạmhành chính trong lĩnh vực BHYT theo quy định của pháp luật.

- Tổ chức y tế địa phương sắp xếp chưa phù hợp, nhấtlà tuyến huyện và xã, bộ máy y tế tuyến huyện bị chia tách thành 4 đầu mối60, làm phân tán nguồn lực, khó phối hợp trong côngtác, vướng mắc trong chỉ đạo; đa số các tỉnh chưa có bộ máy chuyên trách giúpthực hiện chức năng QLNN ở Sở Y tế, việc quản lý theo ngành dọc của y tế địaphương cũng làm hạn chế sự tham gia của cấp ủy, chính quyền địa phương với côngtác y tế nói chung và BHYT nói riêng trong việc quản lý, mở rộng và thúc đẩy thựchiện BHYT toàn dân.

Phần thứ hai.

ĐÁNH GIÁ, KẾT LUẬN CHUNG

So với lịch sử BHYT thế giới hàng trăm năm thì chặngđường 20 năm thực hiện CSPL về BHYT ở Việt Nam, nhất là sau gần 4 năm thực hiệnLuật BHYT, chúng ta đã đạt được kết quả bước đầu quan trọng về BHYT, khẳng địnhchủ trương, quan điểm đúng đắn, nhất quán của Đảng, Nhà nước về chính sáchBHYT. Việt Nam đang từng bước tiếp cận với mục tiêu BHYT toàn dân, góp phần thựchiện tiến bộ, công bằng xã hội, phát triển kinh tế và bảo đảm chính sách ansinh xã hội phù hợp xu thế chung của thế giới.

BHYT Việt Nam về bản chất là BHYT xã hội, là cơ chếtài chính chi trả trước đảm bảo để người dân khi ốm đau có nguồn tài chính chitrả, tránh bị rơi vào hoàn cảnh khó khăn. BHYT Việt Nam đang từng bước thay thếcơ chế bao cấp trong KCB bằng việc Nhà nước tăng đầu tư ngân sách để hỗ trợ chongười dân, đồng thời huy động nguồn lực từ xã hội, người dân và cộng đồng đểtham gia BHYT. Với định hướng đúng và sự nỗ lực của Nhà nước, ngành y tế, BHXH,tài chính, giáo dục, lao động, các cơ quan liên quan, UBND các cấp trong thựchiện trách nhiệm được giao, phối hợp giải quyết các vấn đề phát sinh trong quátrình thực hiện Luật BHYT, tỷ lệ dân số tham gia BHYT đã tăng nhanh, người thamgia BHYT được hưởng dịch vụ KCB, kỹ thuật y tế hiện đại, chất lượng hơn, đượccung ứng thuốc KCB, kể cả thuốc mới, hiệu quả giúp hàng triệu lượt người vượtqua ốm đau và các căn bệnh mạn tính, nan y, hiểm nghèo. Quỹ BHYT đang dần trởthành nguồn tài chính cơ bản phục vụ cho hoạt động của các bệnh viện, góp phần giảmmức chi trả từ tiền túi của người bệnh cho công tác chăm sóc sức khỏe.

Chính sách BHYT Việt Nam đã bảo đảm nguyên tắc chiasẻ rủi ro giữa những người tham gia BHYT, đồng thời cũng đảm nhận nhiều chínhsách phúc lợi xã hội khác. Đến cuối năm 2012, gần 70% dân số cả nước đã thamgia BHYT, với phần đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và ngườidân chiếm khoảng 58% trong tổng thu BHYT, tạo nền móng quan trọng để tiến tớiBHYT toàn dân. Nhiều tỉnh miền núi và Tây Nguyên gần hoàn thành việc thực hiệnBHYT toàn dân. Quỹ BHYT từ chỗ bị bội chi đến năm 2012 đã cân đối và có kết dư.

Tuy vậy, để tiến tới BHYT toàn dân và đạt mục tiêuxây dựng nền y tế công bằng, hiệu quả và phát triển, chúng ta phải tiếp tục vượtqua một số tồn tại, thách thức, đó là:

1. Trong khi tỷ lệ bao phủ BHYT bình quân cả nướclà gần 70%, thì vẫn còn một số địa phương có tỷ lệ tham gia BHYT thấp; bên cạnhnhiều tỉnh có quỹ BHYT kết dư hàng trăm tỷ đồng chưa được phân bổ lại để sử dụngthì một số địa phương liên tục bội chi quỹ BHYT và nhận sự hỗ trợ của quỹ trungương nhiều năm mà chưa có cơ chế giải quyết hữu hiệu; chưa có giải pháp để thúcđẩy nhóm đối tượng có tỷ lệ tham gia BHYT thấp; chưa có cơ chế cụ thể để tạo điềukiện cho các nhóm cuối cùng tham gia lộ trình BHYT toàn dân vào năm 2014 nhưquy định tại Điều 51 của Luật BHYT.

2. Chất lượng KCB BHYT ở tuyến dưới chưa đáp ứngyêu cầu do hạn chế về nhân lực chuyên môn và kỹ thuật y tế đã gây nên tình trạngquá tải, chờ đợi lâu ở các bệnh viện tuyến trên; tinh thần thái độ và y đức củacán bộ y tế chậm được cải thiện đã tạo tâm lý lo ngại đối với người tham giaBHYT và xã hội.

3. Các hình thức lạm dụng quỹ BHYT, nhất là tại cácbệnh viện ngày càng tinh vi, khó kiểm soát và phát hiện, song chưa có công cụvà biện pháp hiệu quả để kiểm soát; vẫn còn tồn tại tình trạng chênh lệch giáthuốc cùng loại giữa các bệnh viện trong tỉnh, giữa các tỉnh, giữa bệnh viện vớithị trường; tình trạng không công bằng về chi trả quỹ BHYT cho mỗi ca bệnh ởcác bệnh viện cùng hạng; tình trạng chênh lệch về tần suất KCB giữa các địaphương.

4. Công tác thanh tra, kiểm tra, công tác quản lýcòn hạn chế; chậm áp dụng công nghệ thông tin để cải tiến thủ tục KCB, thanhtoán BHYT; tình trạng sai thông tin trên thẻ, cấp chậm, trùng thẻ BHYT ở nhiềutỉnh với số lượng khá lớn gây khó khăn cho người có thẻ cũng như lãng phí ngânsách.

Những nguyên nhân, trách nhiệm đối với các tồn tạitrong từng vấn đề liên quan đã được phân tích kỹ ở phần kết quả thực hiện CSPLvề BHYT. Ở góc độ QLNN, trách nhiệm liên quan đến những tồn tại trên đó là:

a) Đối với Quốc hội trong việc ban hành chínhsách y tế:

- Việc phân bổ ngân sách đầu tư cho y tế nói chungvà BHYT nói riêng còn hạn chế, chủ yếu mới chi tăng diện bao phủ theo chiều rộng;chưa đủ điều kiện để cải thiện rõ nét chất lượng KCB.

- Đối với một số nội dung trong Luật BHYT đó là:

+ Chưa xây dựng cơ chế khuyến khích việc tham giaBHYT theo hộ gia đình trong lộ trình BHYT toàn dân đến năm 2014 nên chỉ người ốmmới mua BHYT tự nguyện; quy định mức cùng chi trả của một số nhóm đối tượngchưa hợp lý;

+ Chưa quy định cụ thể trách nhiệm quản lý đối tượngcủa ngành giáo dục, ngành lao động, trách nhiệm của các bộ có liên quan trongviệc thực hiện chính sách BHYT cho các đối tượng được NSNN hỗ trợ tham gia;chưa quy định cụ thể, về phân cấp quản lý quỹ BHYT cho tỉnh/thành phố;

+ Chưa đặt đúng tầm của công tác giám định BHYTtrong việc quản lý, sử dụng hiệu quả quỹ BHYT;

+ Chưa quy định cụ thể trách nhiệm của UBND các cấptrong QLNN và chỉ đạo thực hiện chính sách BHYT ở địa phương;

+ Chưa quy định nguyên tắc để điều hành Quỹ BHYTlinh hoạt và kịp thời đúng với tính chất của quỹ ngắn hạn.

b) Đối với Chính phủ trong việc tổ chức thực thiLuật BHYT:

- Tổ chức, quy hoạch hệ thống y tế chưa hợp lý, đầutư nâng cấp y tế tuyến dưới chưa đủ mạnh; bộ máy làm công tác y tế ở tuyến huyệnphân tán; bộ máy làm công tác BHYT chưa đáp ứng với nhiệm vụ mang tính chuyênnghiệp cao, phức tạp, giám định chi phí quỹ BHYT cho hàng ngàn loại bệnh, loạithuốc khác nhau nhưng lại thiếu công cụ chuẩn mực để phục vụ giám định trong điềukiện các bệnh viện thực hiện tự chủ và xã hội hóa để tăng nguồn thu.

- Chưa ban hành cơ chế điều hành quỹ BHYT theo hướngbảo đảm an toàn nhưng linh hoạt để đáp ứng kịp thời quyền lợi của người thamgia, phù hợp tính chất quỹ ngắn hạn và xử lý phần kết dư hàng năm hợp lý.

- Phân công tuyên truyền, vận động về BHYT giữa BộY tế và BHXH Việt Nam chưa phù hợp (Luật BHYT quy định Bộ Y tế chủ trì, nhưngThủ tướng Chính phủ có quyết định giao BHXH Việt Nam kinh phí để chủ trì tuyên truyềnBHYT); chưa chỉ đạo các ngành, địa phương tìm biện pháp manh mẽ để khắc phụctình trạng lạm dụng đối với quỹ BHYT cũng như giải quyết những phát sinh tiêu cựcdo thực hiện Nghị định 43 và 85/NĐ-CP ; chưa chú trọng chỉ đạo các cơ quan chứcnăng, UBND các cấp tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện mụctiêu BHYT toàn dân.

c) Đối với Bộ Y tế:

- Là cơ quan được giao trách nhiệm QLNN về BHYTnhưng thực hiện chức năng QLNN còn hạn chế; chưa thường xuyên chỉ đạo và đôn đốccác địa phương thực hiện công tác tuyên truyền, thanh tra, kiểm tra và xử lý viphạm pháp luật BHYT.

- Chưa có giải pháp hiệu quả nhằm kiểm soát chống lạmdụng quỹ BHYT như: phương thức chi trả hợp lý của quỹ BHYT cho bệnh viện, phácđồ điều trị chuẩn, quy chuẩn xét nghiệm để các bệnh viện công nhận kết quả lẫnnhau tránh lặp lại xét nghiệm mỗi khi chuyển tuyến; chưa có giải pháp phù hợp đểđảm bảo sự công bằng về quyền lợi BHYT giữa các địa phương; chưa quy định phântuyến chuyển tuyến kỹ thuật hợp lý (hiện mới chỉ có quy định chuyển tuyến theođịa dư hành chính)61; chưa có giải pháp hữu hiệuđể nâng cao chất lượng KCB BHYT ở tuyến huyện, xã.

- Chậm đề xuất các giải pháp hữu hiệu để đảm bảo đấuthầu thuốc có hiệu quả nhằm lựa chọn được các loại thuốc có chất lượng với giáhợp lý phục vụ KCB BHYT.

- Chưa tập trung chỉ đạo và xử lý quyết liệt nhằmchấn chỉnh, nâng cao y đức và tinh thần thái độ của cán bộ y tế trong các bệnhviện, chậm đề xuất và triển khai ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tácKCB.

d) Đối với BHXH Việt Nam:

- Tổ chức phát hành và quản lý thẻ BHYT chưa khoa học,chưa tạo điều kiện thuận lợi để người dân tham gia BHYT; chậm ứng dụng công nghệthông tin phục vụ quản lý BHYT.

- Chưa tạo được động lực để khuyến khích người dântích cực tham gia BHYT, BHYT vẫn còn mang nặng tính bao cấp.

- Chưa chủ động kiểm tra, phát hiện trùng thẻ, chưanghiên cứu để cải tiến mạnh mẽ các thủ tục KCB BHYT, thủ tục thanh toán giữaBHXH với bệnh viện.

- Chưa có giải pháp đủ mạnh để nâng cao trình độ,năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ làm công tác giám định BHYT.

đ) Đối với các bộ, ngành khác:

- Ngành Tài chính chưa phát hiện kịp thời và thanhtra việc sử dụng NSNN hỗ trợ mua BHYT cho một số đối tượng nên để trùng số lượnglớn thẻ BHYT sau nhiều năm.

- Ngành LĐ-TB&XH chưa hướng dẫn cụ thể quytrình lập, rà soát danh sách đề nghị cấp thẻ BHYT cho các đối tượng do ngành quảnlý, để xảy ra tình trạng chậm lập danh sách đối tượng, trùng danh sách cấp thẻ;chưa thường xuyên thanh tra việc thực hiện BHYT trong các doanh nghiệp.

e) Đối với chính quyền các tỉnh/thành phố:

- Chưa thực hiện đầy đủ chức năng QLNN trong phạmvi địa phương, chỉ đạo phối hợp liên ngành để xử lý vấn đề phát sinh, thanhtra, kiểm tra về BHYT còn hạn chế; chưa quan tâm bố trí bộ máy làm công tácQLNN về BHYT.

- Công tác tuyên truyền về BHYT còn mang tính hìnhthức; chưa chỉ đạo và huy động được sự tham gia của các ban ngành, đoàn thểtrong việc vận động, tuyên truyền nhân dân tham gia BHYT.

- Một số tỉnh chưa bố trí đủ kinh phí để mua/hỗ trợtham gia BHYT cho một số đối tượng; một số tỉnh còn để ngân sách nợ tiền BHXH.

Phần thứ ba.

MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

1. Với Quốc hội

a) Ban hành Nghị quyết về đẩy mạnh thực hiện chínhsách, pháp luật BHYT, tiến tới BHYT toàn dân trên cơ sở kết quả của Báo cáogiám sát.

b) Tiếp tục tăng ngân sách để thực hiện các chínhsách an sinh xã hội trong đó có chăm sóc sức khỏe, xây dựng nền y tế công bằng,hiệu quả và phát triển; phân bổ ngân sách theo hướng chuyển từ chi ngân sáchcho bệnh viện sang cấp ngân sách hỗ trợ nhân dân tham gia BHYT cùng với lộtrình tính đúng, tính đủ giá dịch vụ y tế nhằm tăng tỷ lệ tham gia BHYT và quyềnlợi BHYT cho người dân.

c) Thường xuyên giám sát việc thực hiện mục tiêudân số tham gia BHYT, đưa chỉ tiêu tỷ lệ dân số tham gia BHYT vào Nghị quyếtphát triển kinh tế - xã hội hàng năm của Quốc hội; tăng cường giám sát việc thựchiện chính sách an sinh xã hội nói chung và BHYT nói riêng.

d) Xem xét và đưa quy định về đấu thầu thuốc BHYTtrong dự án Luật đấu thầu (sửa đổi).

đ) Xem xét, sửa đổi một số điều của Luật BHYT, đólà:

- Xây dựng cơ chế để khuyến khích tham gia BHYTtheo hộ gia đình.

- Quy định cụ thể trách nhiệm của các bộ, ngành,chính quyền địa phương đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật về BHYT.

- Phân cấp việc quản lý quỹ BHYT cho tỉnh mạnh mẽhơn để nâng cao sự chủ động của địa phương trong việc tăng tỷ lệ người dân thamgia BHYT, quản lý, sử dụng quỹ BHYT có hiệu quả, phục vụ quyền lợi người dân tốthơn.

- Quy định cơ chế thống nhất giá dịch vụ y tế đối vớibệnh viện cùng hạng trên toàn quốc; quy định cụ thể về đấu thầu thuốc, vật tư ytế phục vụ KCB theo BHYT.

- Bổ sung cơ chế kiểm soát lạm dụng dịch vụ y tế, đặtcông tác giám định BHYT đúng tầm, quy định cụ thể gói quyền lợi BHYT cơ bản màngười tham gia BHYT được hưởng.

- Điều chỉnh chính sách cùng chi trả với một sốnhóm đối tượng (thân nhân liệt sĩ, đối tượng thuộc diện bảo trợ xã hội); quy địnhmức cùng chi trả tối đa đối với người tham gia BHYT.

- Nghiên cứu, sửa đổi quy định về thẻ BHYT có ảnhcho phù hợp (xem phụ lục số 9).

2. Với Chính phủ

- Tiếp tục chỉ đạo việc hướng dẫn đầy đủ các quy địnhcủa Luật BHYT; thúc đẩy thực hiện lộ trình chuyển từ cấp NSNN trực tiếp cho cơsở KCB sang hỗ trợ trực tiếp kinh phí cho người dân mua BHYT cùng với lộ trìnhtính đúng, đủ giá dịch vụ y tế và BHYT toàn dân.

- Tổ chức đánh giá, tổng kết và xem xét, điều chỉnhmô hình tổ chức BHYT cũng như mô hình y tế cấp cơ sở (tuyến huyện và xã) phù hợpvới thực tế, gắn với trách nhiệm của UBND các cấp, đảm bảo hiệu quả trong QLNNvề y tế nói chung và về BHYT nói riêng.

- Ban hành tiêu chí đối với hộ nông, lâm, ngư nghiệpcó mức sống trung bình làm cơ sở để hỗ trợ nhóm này tham gia lộ trình BHYT.

- Tập trung chỉ đạo các tỉnh/thành phố triển khaicác giải pháp hữu hiệu để mở rộng đối tượng tham gia BHYT, đặc biệt quan tâmcác địa phương có tỷ lệ tham gia BHYT còn thấp và các nhóm đối tượng có tỷ lệtham gia BHYT thấp; chỉ đạo xử lý phần quỹ kết dư theo quy định của pháp luật đểđảm bảo hợp lý quyền lợi của các địa phương có kết dư quỹ BHYT.

- Chỉ đạo các bộ, ngành và UBND các tỉnh/thành phốtăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra việc thực hiện CSPL về BHYT; kiểm soátviệc cấp trùng thẻ BHYT, thúc đẩy việc áp dụng công nghệ thông tin thống nhất,đồng bộ trong quản lý BHYT giữa các cơ sở khám chữa bệnh và cơ quan BHXH.

- Chỉ đạo Bộ Y tế, BHXH Việt Nam, UBND các cấp, cơquan thông tin đại chúng phối hợp Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể trong hoạt độngthông tin, giáo dục, truyền thông về BHYT.

- Chỉ đạo BHXH Việt Nam tăng cường tính chuyên nghiệpcủa bộ máy làm công tác BHYT, nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ giám địnhBHYT và khẩn trương xử lý phần vượt trần BHYT năm 2012 đối với bệnh viện tuyếntỉnh.

- Chỉ đạo Bộ Tài chính tăng cường công tác thanhtra, kiểm tra việc quản lý sử dụng Quỹ BHYT; kiểm soát việc trùng thẻ BHYT; kiểmsoát ngân sách phân bổ cho các đối tượng được Nhà nước mua hoặc hỗ trợ muaBHYT.

- Chỉ đạo Bộ LĐ-TB&XH tiến hành rà soát các đốitượng được hưởng chính sách BHYT trong phạm vi quản lý; đánh giá, sửa đổi cáctiêu chí của các đối tượng phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội.

3. Với Bộ Y tế

- Tiếp tục hoàn thiện và ban hành gói dịch vụ y tếcơ bản phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, ngân sách và mức đóng để bảo đảmquyền lợi của người tham gia và an toàn quỹ BHYT.

- Ban hành đầy đủ các quy định nhằm kiểm soát lạm dụngquỹ BHYT như: phác đồ điều trị chuẩn, quy định chuẩn xét nghiệm để công nhận kếtquả lẫn nhau giữa các bệnh viện; đẩy nhanh thực hiện thanh toán KCB BHYT theophương thức hợp lý.

- Triển khai các giải pháp đấu thầu, cung ứng thuốc,vật tư y tế để lựa chọn được các loại thuốc hợp lý, nâng cao chất lượng KCBBHYT.

- Tăng cường thực hiện QLNN về BHYT, chấn chỉnh y đức,tăng cường thanh tra và đôn đốc các địa phương thực hiện nâng cao y đức, chấtlượng hoạt động chuyên môn trong ngành y tế; tiếp tục tập trung các biện pháphiệu quả để giảm quá tải bệnh viện.

- Phối hợp cùng Bộ Tài chính và BHXH Việt Nam xemxét, rà soát việc quy định trần KCB BHYT tuyến 2 đối với các bệnh viện cho phùhợp với thực tế.

4. Với Mặt trận Tổ quốc ViệtNam

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viênvà tổ chức xã hội khác tham gia tuyên truyền, vận động thành viên của mình vànhân dân thực hiện chính sách, pháp luật về BHYT.

5. Các tỉnh/thành phố trựcthuộc trung ương

- UBND các tỉnh/thành phố chỉ đạo Sở Y tế, cơ quanBHXH, các sở, ban ngành, chính quyền và đoàn thể các cấp phối hợp chặt chẽtrong việc tuyên truyền, vận động người dân tham gia BHYT. Đồng thời, triểnkhai các biện pháp hiệu quả để mở rộng tỷ lệ tham gia BHYT, thực hiện lộ trìnhBHYT toàn dân tại địa phương.

- Quan tâm chỉ đạo công tác QLNN về BHYT, đặc biệtlà hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về BHYT. Chú trọng điều phốiliên ngành và chỉ đạo các cơ quan chức năng phối hợp giải quyết kịp thời các vấnđề phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện Luật BHYT.

- HĐND các tỉnh/thành phố xem xét để đưa chỉ tiêu tỷlệ dân số tham gia BHYT vào Nghị quyết phát triển kinh tế-xã hội hàng năm vàdành ngân sách địa phương hỗ trợ cho nhóm đối tượng có hoàn cảnh khó khăn thamgia BHYT.

Trên đây là Báo cáo kết quả giám sát thực hiện CSPLvề BHYT giai đoạn 2009 - 2012, Ủy ban thường vụ Quốc hội xin kính trình Quốc hội./.

Nơi nhận:
- Như trên;
- Chính phủ;
- VPTW Đảng, VPQH, VPCP;
- Ban Kinh tế TW, Ban Tuyên giáo TW;
- Các Bộ: Y tế, Tài chính, LĐ-TB&XH, GD&ĐT, Ủy ban DT, BHXH Việt Nam;
- Đoàn ĐBQH các tỉnh, TP trực thuộc trung ương;
- UBND các tỉnh, TP trực thuộc trung ương;
- Các thành viên Đoàn giám sát;
- Lưu: HC, TH, CVĐXH.

TM. ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH




Tòng Thị Phóng

PHỤ LỤC SỐ 1

DANH MỤC CƠ QUAN, ĐỊA PHƯƠNG ĐƯỢC GIÁM SÁT VIỆC THỰCHIỆN CSPL VỀ BHYT GIAI ĐOẠN 2009 - 2012

STT

Nơi giám sát

Thời gian

Cơ quan, đơn vị làm việc với đoàn giám sát

Thành phần đoàn giám sát1

1

Chính phủ và các bộ ngành

Lần thứ 1: 25/2/2013

Lần thứ 2: 18/7/2013

- Chính phủ - Bộ Y tế

- Bộ Tài chính

- Bảo hiểm xã hội Việt Nam

- Bộ Giáo dục và Đào tạo

- Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội

- Kiểm toán nhà nước

- Thành viên Đoàn giám sát theo 551/NQ-UBTVQH13 ngày 26/12/2012 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về thành lập Đoàn giám sát “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo hiểm y tế, giai đoạn 2009-2012”

2

Địa phương: 9 tỉnh, thành phố

1. Điện Biên

27/2-1/3/2013

- Ủy ban nhân dân tỉnh

- Sở Y tế

- Bảo hiểm xã hội

- Sở Tài chính

- Sở Giáo dục và Đào tạo

- Sở Lao động, Thương binh và Xã hội

- Bệnh viện đa khoa tỉnh

- UBND huyện Điện Biên

- UBND huyện Mường Ẳng

- UBND xã Thanh Luông, huyện Điện Biên

- UBND xã Ẳng Nưa, huyện Mường Ẳng

- Đ/c Trương Thị Mai - Chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội làm Trưởng đoàn

- Đ/c Nguyễn Văn Tiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban về CVĐXH, Đ/c Đỗ Mạnh Hùng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban về CVĐXH - Phó Trưởng đoàn, Đ/c Giàng A Chu - Phó Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Đ/c Bùi Nguyên Súy - Phó Trưởng Ban dân nguyện, Đ/c Nguyễn Thị Khá, Đ/c Lê Thị Nguyệt, Đ/c Bùi Ngọc Chương - Ủy viên thường trực Ủy ban về CVĐXH, Đ/c Hoàng Thị Hoa - Ủy viên thường trực Ủy ban VH, GD, TN, TN & NĐ, Đ/c Hồ Thị Thủy - Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Phúc, thành viên Ủy ban về CVĐXH

2. T/p Hà Nội

4-6/3/2013

- Ủy ban nhân dân thành phố

- Sở Y tế

- Bảo hiểm xã hội

- Sở Tài chính

- Sở Giáo dục và Đào tạo

- Sở Lao động, Thương binh và Xã hội

- Bệnh viện đa khoa Thanh Nhàn

- Bệnh viện Lao và bệnh phổi

- UBND huyện Ứng Hòa

- UBND huyện Đông Anh

- UBND xã Phương Tú, huyện Ứng Hòa

- UBND xã Xuân Nộn, huyện Đông Anh

- Đ/c Trương Thị Mai - Chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội làm Trưởng đoàn

- Đ/c Tòng Thị Phóng, Phó chủ tịch Quốc hội tham gia buổi làm việc với UBND T/p Hà Nội

- Đ/c Nguyễn Văn Tiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban về CVĐXH, Đ/c Đỗ Mạnh Hùng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban về CVĐXH - Phó Trưởng đoàn, Đ/c Giàng A Chu - Phó Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Đ/c Bùi Nguyên Súy - Phó Trưởng Ban dân nguyện, Đ/c Nguyễn Thị Khá, Đ/c Lê Thị Nguyệt, Đ/c Bùi Ngọc Chương - Ủy viên thường trực Ủy ban về CVĐXH, Đ/c Hoàng Thị Hoa - Ủy viên thường trực Ủy ban VH, GD, TN, TN & NĐ, Đ/c Hồ Thị Thủy - Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Phúc, thành viên Ủy ban về CVĐXH

3. Kiên Giang

25-26/3/2013

- Ủy ban nhân dân tỉnh

- Sở Y tế

- Bảo hiểm xã hội

- Sở Tài chính

- Sở Giáo dục và Đào tạo

- Sở Lao động, Thương binh và Xã hội

- Bệnh viện đa khoa tỉnh

- UBND huyện Châu Thành

- UBND huyện Giồng Riềng

- UBND xã Vĩnh Hòa Hiệp Châu Thành

- UBND xã Hòa An huyện Giồng Riềng

- Đ/c Trương Thị Mai - Chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội làm Trưởng đoàn

- Đ/c Nguyễn Văn Tiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban về CVĐXH, Đ/c Nguyễn Thị Khá - Ủy viên thường trực Ủy ban về CVĐXH, Đ/c Trần Quang Chiểu - Ủy viên thường trực Ủy ban Tài chính - ngân sách, Đ/c Bùi Mạnh Hùng - Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Bình Phước, thành viên Ủy ban về CVĐXH, Đ/c Trương Minh Hoàng - Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau

4. T/p Hồ Chí Minh

27-28/3/2013

- Ủy ban nhân dân thành phố

- Sở Y tế

- Bảo hiểm xã hội

- Sở Tài chính

- Sở Giáo dục và Đào tạo

- Sở Lao động, Thương binh và Xã hội

- Bệnh viện Chợ Rẫy

- Bệnh viện nhân dân Gia Định

- UBND huyện Hóc Môn

- UBND xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn

- Đ/c Trương Thị Mai - Chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội làm Trưởng đoàn

- Đ/c Nguyễn Văn Tiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban về CVĐXH, Đ/c Nguyễn Thị Khá - Ủy viên thường trực Ủy ban về CVĐXH, Đ/c Trần Quang Chiểu - Ủy viên thường trực Ủy ban Tài chính - ngân sách, Đ/c Bùi Mạnh Hùng - Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Bình Phước, thành viên Ủy ban về CVĐXH, Đ/c Trương Minh Hoàng - Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau, Đ/c Huỳnh Thành Lập - Trưởng Đoàn ĐBQH t/p Hồ Chí Minh

5. Nam Định

26-28/3/2013

- Ủy ban nhân dân tỉnh

- Sở Y tế

- Bảo hiểm xã hội

- Sở Tài chính

- Sở Giáo dục và Đào tạo

- Sở Lao động, Thương binh và Xã hội

- Bệnh viện đa khoa tỉnh

- UBND huyện Hải Hậu

- UBND huyện Xuân Trường

- UBND xã Hải Trung, huyện Hải Hậu

- UBND xã Xuân Kiên, huyện Xuân Trường

- Đ/c Bùi Sỹ Lợi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban về CVĐXH làm Trưởng đoàn

- Đ/c Lê Thị Nguyệt, Đ/c Bùi Ngọc Chương - Ủy viên thường trực Ủy ban về CVĐXH, Đ/c Hoàng Thị Hoa - Ủy viên thường trực Ủy ban VH, GD, TN, TN & NĐ, Đ/c Phạm Đức Châu - Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Trị, thành viên Ủy ban về CVĐXH, Đ/c Hồ Thị Thủy - Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Phúc

6. Nghệ An

29-30/3/2013

- Ủy ban nhân dân tỉnh

- Sở Y tế

- Bảo hiểm xã hội

- Sở Tài chính

- Sở Giáo dục và Đào tạo

- Sở Lao động, Thương binh và Xã hội

- Bệnh viện đa khoa tỉnh

- UBND huyện Nghi Lộc

- UBND thị xã Cửa Lò

- UBND thị trấn Quán Hành, huyện Nghi Lộc

- UBND phường Nghị Hương, thị xã Cửa Lò

- Đ/c Bùi Sỹ Lợi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban về CVĐXH làm Trưởng đoàn

- Đ/c Lê Thị Nguyệt, Đ/c Bùi Ngọc Chương - Ủy viên thường trực Ủy ban về CVĐXH, Đ/c Hoàng Thị Hoa - Ủy viên thường trực Ủy ban VH, GD, TN, TN & NĐ, Đ/c Phạm Đức Châu - Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Trị, thành viên Ủy ban về CVĐXH, Đ/c Hồ Thị Thủy - Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Phúc

7. Bình Dương

27-28/6/2013

- Ủy ban nhân dân tỉnh

- Sở Y tế

- Bảo hiểm xã hội

- Sở Tài chính

- Sở Giáo dục và Đào tạo

- Sở Lao động, Thương binh và Xã hội

- Bệnh viện đa khoa tỉnh

- UBND huyện Bến Cát

- UBND thị xã Thuận An

- UBND phường Bình Chuẩn, tx Thuận An

- UBND xã An Tây, huyện Bến Cát

- Đ/c Nguyễn Văn Tiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban về CVĐXH làm Trưởng đoàn

- Đ/c Nguyễn Thúy Anh - Phó Chủ nhiệm Ủy ban về CVĐXH, Đ/c Giàng A Chu - Phó Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Đ/c Nguyễn Thị Khá, Đ/c Đặng Thuần Phong - Ủy viên thường trực Ủy ban về CVĐXH, Đ/c Trần Quang Chiểu - Ủy viên thường trực Ủy ban Tài chính - ngân sách, Đ/c Bùi Mạnh Hùng - Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Bình Phước, Đ/c Phạm Đức Châu - Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Trị, Đ/c Nguyễn Phạm Ý Nhi - ĐBQH t/p Hà Nội, thành viên Ủy ban về CVĐXH

8. Đắk Lắk

1 - 2/7/2013

- Ủy ban nhân dân tỉnh

- Sở Y tế

- Bảo hiểm xã hội

- Sở Tài chính

- Sở Giáo dục và Đào tạo

- Sở Lao động, Thương binh và Xã hội

- Bệnh viện đa khoa tỉnh

- UBND huyện Buôn Đôn

- UBND t/p Buôn Ma Thuột

- UBND xã Cuôr Knia, huyện Buôn Đôn

- UBND phường Tân An, t/p Buôn Ma Thuột

- Đ/c Nguyễn Văn Tiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban về CVĐXH làm Trưởng đoàn

- Đ/c Nguyễn Thúy Anh - Phó Chủ nhiệm Ủy ban về CVĐXH, Đ/c Giàng A Chu - Phó Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Đ/c Nguyễn Thị Khá, Đ/c Đặng Thuần Phong - Ủy viên thường trực Ủy ban về CVĐXH, Đ/c Trần Quang Chiểu - Ủy viên thường trực Ủy ban Tài chính - ngân sách, Đ/c Bùi Mạnh Hùng - Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Bình Phước, Đ/c Phạm Đức Châu - Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Trị, Đ/c Nguyễn Phạm Ý Nhi - ĐBQH t/p Hà Nội, thành viên Ủy ban về CVĐXH

9. Ninh Thuận

3 - 4/7/2013

- Ủy ban nhân dân tỉnh

- Sở Y tế

- Bảo hiểm xã hội

- Sở Tài chính

- Sở Giáo dục và Đào tạo

- Sở Lao động, Thương binh và Xã hội

- Bệnh viện đa khoa tỉnh

- UBND huyện Ninh Phước

- UBND huyện Ninh Hải

- UBND xã Phước hậu, huyện Ninh Phước

- UBND xã Nhơn Hải, huyện Ninh Hải

- Đ/c Nguyễn Văn Tiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban về CVĐXH làm Trưởng đoàn

- Đ/c Nguyễn Thúy Anh - Phó Chủ nhiệm Ủy ban về CVĐXH, Đ/c Giàng A Chu - Phó Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Đ/c Nguyễn Thị Khá, Đ/c Đặng Thuần Phong - Ủy viên thường trực Ủy ban về CVĐXH, Đ/c Trần Quang Chiểu - Ủy viên thường trực Ủy ban Tài chính - ngân sách, Đ/c Bùi Mạnh Hùng - Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Bình Phước, Đ/c Phạm Đức Châu - Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Trị, Đ/c Nguyễn Phạm Ý Nhi - ĐBQH t/p Hà Nội, thành viên Ủy ban về CVĐXH

PHỤ LỤC SỐ 2

TỔNG HỢP QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ BẢO HIỂM Y TẾ

1. Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 22/01/2002 củaBan Bí thư Trung ương Đảng về củng cố và hoàn thiện y tế cơ sở còn định hướng:...Phát triển bảo hiểm y tế (BHYT) ở nông thôn, đặc biệt là BHYT cho người nghèo,những người thuộc diện chính sách trợ cấp xã hội và nông dân.

2. Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/2/2005 củaBộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trongtình hình mới, khẳng định:

- Phát triển BHYT toàn dân, nhằm từng bước đạt tớisự công bằng trong chăm sóc sức khỏe, thực hiện sự chia sẻ giữa người khỏe vớingười ốm, người giàu với người nghèo, người trong độ tuổi lao động với trẻ em,người già.

- Việc thực hiện tự chủ về tài chính của các cơ sởKCB công lập cần được tiến hành từng bước, cùng với tiến trình mở rộng BHYT, tiếntới BHYT toàn dân.

3. Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứX Đảng ngày 25/4/2006 tiếp tục nhấn mạnh: “Phát triển và nâng cao chất lượngBHYT; xây dựng và thực hiện tốt lộ trình tiến tới BHYT toàn dân; phát triển mạnhcác loại hình BHYT tự nguyện, BHYT cộng đồng. Mở rộng diện các cơ sở y tế cônglập và ngoài công lập khám bệnh, chữa bệnh theo BHYT. Hạn chế và giảm dần hìnhthức thanh toán viện phí trực tiếp từ người bệnh. Đổi mới phương thức thanhtoán viện phí qua quỹ BHYT”.

4. Kết luận số 42-KL/TW ngày 01/4/2009 của BộChính trị về đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính (trong đó có tiền lươngvà giá dịch vụ y tế) đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập đã nhấn mạnhquan điểm: Đổi mới cơ chế tài chính trong các đơn vị sự nghiệp y tế công lập gắnvới việc thực hiện lộ trình tiến tới BHYT toàn dân, đồng thời theo hướng tínhđúng, tính đủ chi phí dịch vụ y tế.

5. Kết luận số 43-KL/TW ngày 01/4/2009 của BộChính trị về 3 năm thực hiện Nghị quyết số 46-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Côngtác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới” và 5năm thực hiện Chỉ thị số 06-CT/TW của Ban Bí thư về “Củng cố và hoàn thiện mạnglưới y tế cơ sở” nêu rõ quan điểm:

- Tổ chức, sắp xếp hệ thống y tế công lập, đặc biệtlà y tế cơ sở để tạo ra một mô hình hợp lý và ổn định dựa trên quản lý theongành đối với y tế địa phương... Tăng cường quản lý nhà nước đối với BHYT.

- Tiếp tục chuyển đầu tư trực tiếp ngân sách nhà nướccho các cơ sở dịch vụ công sang đầu tư trực tiếp cho người hưởng dịch vụ bằngcách mua thẻ BHYT cho người có công với cách mạng, người nghèo, người tàn tậtvà rủi ro về sức khỏe, hỗ trợ mua thẻ BHYT cho người cận nghèo; đẩy nhanh tiếnđộ thực hiện BHYT toàn dân.

6. Chỉ thị số 38-CT/TW ngày 7/9/2009 của BanBí thư về đẩy mạnh công tác BHYT trong tình hình mới, nêu rõ quan điểm:

- Tiếp tục quán triệt sâu sắc và nâng cao nhận thứcvề vị trí, vai trò, ý nghĩa của BHYT.

- Tổ chức thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các chínhsách về BHYT.

- Đổi mới công tác thông tin, truyền thông và tuyêntruyền về BHYT.

- Tăng cường công tác quản lý nhà nước về BHYT vàquản lý quỹ BHYT.

- Tổ chức tốt công tác khám bệnh, chữa bệnh BHYT.

- Phát động cuộc vận động toàn dân tham gia BHYT vàchuẩn bị lộ trình tiến đến BHYT bắt buộc trong những năm tiếp theo.

7. Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 củaBan Chấp hành Trung ương khóa XI về một số chính sách xã hội giai đoạn 2012 -2020 khẳng định quan điểm:

Bảo đảm y tế tối thiểu và nâng cao hiệu quả sử dụngBHYT đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng miền núi, các hộ nghèo. Sửa đổi, bổsung Luật BHYT, đổi mới công tác quản lý nhà nước về BHYT, có chính sách khuyếnkhích người dân, nhất là người có thu nhập dưới mức trung bình tham gia BHYT. Đếnnăm 2020 trên 80% dân số tham gia BHYT.

8. Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 củaBộ Chính trị ban hành về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảohiểm xã hội, BHYT giai đoạn 2012 - 2020, có nêu rõ một số quan điểm chỉ đạo:

- Bảo hiểm xã hội và BHYT là hai chính sách xã hộiquan trọng, là trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, góp phần thực hiện tiếnbộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội và phát triển KT -XH.

- Mở rộng và hoàn thiện chế độ, chính sách bảo hiểmxã hội, BHYT có bước đi, lộ trình phù hợp với phát triển KT - XH của đất nước.Phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội, BHYT đồng bộ với phát triển các dịch vụ xãhội, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của nhân dân; tạo điều kiện thuận lợicho mọi người tham gia và thụ hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, BHYT.

- Bảo hiểm xã hội, BHYT phải theo nguyên tắc cóđóng, có hưởng, quyền lợi tương ứng với nghĩa vụ, có sự chia sẻ giữa các thànhviên, bảo đảm công bằng và bền vững của hệ thống bảo hiểm xã hội, BHYT.

- Thực hiện tốt các chế độ, chính sách bảo hiểm xãhội BHYT là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, tổ chức xãhội, doanh nghiệp và của mỗi người dân.

- Đa dạng sản phẩm dịch vụ BHYT phù hợp với các tầnglớp trong xã hội, điều chỉnh các mức phí, mức hưởng đi đôi với phát triển các dịchvụ y tế chất lượng cao... Quy định mức thanh toán BHYT theo hướng vừa bảo đảmquyền lợi của người tham gia bảo hiểm, vừa bảo đảm cân đối quỹ theo nguyên tắc“đóng - hưởng”.

Như vậy, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về BHYTđều khẳng định nhất quán mục tiêu từng bước tiến tới BHYT toàn dân./.

PHỤ LỤC SỐ 3

DANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT HƯỚNG DẪN THIHÀNH LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ

STT

Tên văn bản

Trích yếu

Thời gian ban hành

1

Nghị định 62/2009/NĐ-CP

Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế

27/07/2009

2

Nghị định 92/2011/NĐ-CP

Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Bảo hiểm y tế

17/10/2011

3

Thông tư liên tịch 09/2009/TTLT-BYT-BTC

Hướng dẫn thực hiện BHYT

14/08/2009

4

Thông tư liên tịch 39/2011/TTLT-BYT-BTC

Hướng dẫn thủ tục thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với người tham gia BHYT bị tai nạn giao thông

11/11/2011

5

Thông tư liên tịch 25/2010/TTLT-BQP-BYT-BTC

Hướng dẫn quản lý, tổ chức thực hiện bảo hiểm y tế đối với người lao động trong quân đội và thân nhân quân nhân tại ngũ

05/03/2010

6

Thông tư liên tịch 03/2012/TTLT-BQP-BYT-BTC

Hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế đối với người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu và thân nhân người đang làm công tác cơ yếu

16/01/2012

7

Thông tư liên tịch 11/2012/TTLT-BCA-BYT-BTC

Hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế đối với thân nhân các sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ đang công tác trong công an nhân dân

12/09/2012

8

Thông tư 10/2009/TT-BYT

Hướng dẫn đăng ký khám bệnh, chữa bệnh ban đầu và chuyển tuyến khám bệnh, chữa bệnh BHYT

14/08/2009

9

Thông tư 11/2009/TT-BYT

Ban hành Danh mục dịch vụ kỹ thuật phục hồi chức năng và số ngày bình quân một đợt điều trị của một số bệnh, nhóm bệnh được quỹ Bảo hiểm y tế thanh toán

14/08/2009

10

Thông tư 12/2010/TT-BYT

Ban hành Danh mục thuốc y học cổ truyền chủ yếu sử dụng tại các cơ sở KCB

29/04/2010

11

Thông tư 31/2011/TT-BYT

Ban hành và hướng dẫn thực hiện Danh mục thuốc chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán

11/07/2011

12

Thông tư 10/2012/TT-BYT

Sửa đổi, bổ sung một số điều của thông tư số 31/2011/TT-BYT ngày 11/07/2011 về việc ban hành và hướng dẫn thực hiện danh mục thuốc chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán

08/06/2012

13

Thông tư 19/2010/TT-BTC

Quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí cấp lại và đổi thẻ bảo hiểm y tế

03/02/2010

14

Thông tư 134/2011/TT-BTC

Quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện một số điều của quyết định số 04/2011/QĐ-TTg ngày 20/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý tài chính đối với Bảo hiểm xã hội Việt Nam

30/09/2011

15

Thông tư 113/2012/TT-BTC

Quy định chi tiết về hoạt động đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng các quỹ bảo hiểm do Bảo hiểm xã hội Việt Nam quản lý

17/7/2012

16

Thông tư liên tịch 01/2012/TTLT-BYT-BTC

Về hướng dẫn đấu thầu mua thuốc trong các cơ sở y tế

19/01/2012

17

Quyết định 04/2011/QĐ-TTg

Về Quản lý tài chính đối với Bảo hiểm xã hội Việt Nam

20/01/2011

18

Quyết định 797/QĐ-TTg

Nâng mức hỗ trợ đóng BHYT cho người thuộc hộ gia đình cận nghèo

26/6/2012

PHỤ LỤC SỐ 4

ĐÁNH GIÁ VỀ VĂN BẢN HƯỚNG DẪN CHUYÊN MÔN, NGHIỆP VỤDO BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM BAN HÀNH

Luật BHYT giao Tổ chức BHYT quy định về 2 vấn đề: mẫuthẻ BHYT (tại khoản 5 Điều 16) và hướng dẫn hồ sơ, thủ tục, tổ chức thực hiệnchế độ BHYT (khoản 2 Điều 41). Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã ban hành 6 quyết địnhđể hướng dẫn các vấn đề trên và gần 150 văn bản hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụđối với BHXH các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, BHXH Bộ Quốc phòng. Bêncạnh đó, BHXH tất cả các tỉnh, thành phố cũng ban hành nhiều văn bản để hướng dẫnchuyên môn nghiệp vụ trong triển khai thực hiện BHYT tại địa phương.

Nhìn chung, các văn bản hướng dẫn do BHXH Việt Namban hành phù hợp với pháp luật, có tính khả thi, song một số văn bản vẫn còn vướngmắc, bất cập:

- Do Bộ Y tế chưa thực hiện phân hạng bệnh viện tưnhân nên BHXH Việt Nam phải hướng dẫn tạm thời phân hạng bệnh viện tư nhântương đương bệnh viện hạng II1 và áp dụng trầnthanh toán tuyến 2 đối với các bệnh viện tư nhân (Văn bản số 245/BHXH-CSYT ) đểthực hiện quy định tại khoản 3 Điều 22 Luật BHYT và xác định danh mục thuốcthanh toán BHYT.

- Văn bản số 1513/BHXH-CSYT về việc hướng dẫn triểnkhai Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-BYT-BTC quy định giá dịch vụ y tế, thuốcsử dụng để thực hiện dịch vụ được tính theo giá trúng thầu được phê duyệt áp dụngcho năm 2012, nêu một loại vật tư hoặc 1 loại thuốc được phê duyệt nhiều mứcgiá thì áp dụng giá thấp nhất gây thắc mắc, tâm tư đối với các cơ sở và cán bộy tế.

- Văn bản số 3637/BHXH-CSYT về triển khai thực hiệngiá dịch vụ y tế mới được phê duyệt theo Thông tư 04 có quy định chỉ thanh toándịch vụ siêu âm Doppler màu tim 4D đối với cơ sở KCB được phép thực hiện phẫuthuật hoặc can thiệp tim mạch là chưa phù hợp, vì nếu danh mục này được Hội đồngnhân dân tỉnh phê duyệt thì phải được thanh toán (tuy nhiên, BHXH đã thống nhấtvới Bộ Y tế trước khi ban hành để chống lạm dụng dịch vụ này tại các bệnh viện).

- Quyết định số 82/QĐ-BHXH ngày 20/01/2010 của Tổnggiám đốc BHXH Việt Nam có quy định về nguyên tắc đăng ký nơi KCB ban đầu: ngườitham gia BHYT cư trú hoặc công tác tại huyện nào được đăng ký KCB ban đầu tạicơ sở KCB tuyến xã, tuyến huyện và tương đương trên địa bàn huyện đó... Quy địnhnhư vậy chưa thực sự phù hợp với Điều 26 của Luật BHYT2.

PHỤ LỤC 5

TỶ LỆ BAO PHỦ BHYT THEO ĐỊA PHƯƠNG NĂM 2009-2012

Đơn vị: người

TT

Đơn vị

Năm 2009

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

Số người tham gia BHYT

Tổng số dân

Tỷ lệ có BHYT

Số người tham gia BHYT

Tổng số dân

Tỷ lệ có BHYT

Số người tham gia BHYT

Tổng số dân

Tỷ lệ có BHYT

Số người tham gia BHYT

Tổng số dân

Tỷ lệ có BHYT

1

Hà Nội

4,418,066

6,472,200

68%

3,691,008

6,561,900

56%

4,350,748

6,699,600

65%

4,414,235

6,771,294

65%

2

TP HCM

4,273,920

7,165,200

60%

4,502,936

7,396,500

61%

4,736,390

7,521,100

63%

4,803,927

7,601,585

63%

3

An Giang

708,036

2,149,200

33%

1,028,511

2,149,500

48%

1,096,866

2,151,000

51%

1,188,957

2,174,018

55%

4

Bà Rịa - VT

639,886

996,900

64%

562,144

1,012,000

56%

546,625

1,027,200

53%

644,461

1,038,192

62%

5

Bạc Liêu

407,619

858,400

47%

377,288

867,800

43%

358,179

873,300

41%

446,842

882,645

51%

6

Bắc Giang

772,082

1,560,200

49%

803,174

1,560,300

51%

954,558

1,574,300

61%

983,255

1,591,147

62%

7

Bắc Kạn

293,139

295,300

99%

297,677

296,500

100%

310,638

298,700

104%

302,791

301,896

100%

8

Bắc Ninh

521,503

1,026,700

51%

524,903

1,034,200

51%

622,407

1,060,300

59%

674,409

1,071,647

63%

9

Bến Tre

726,957

1,255,800

58%

572,998

1,256,700

46%

671,695

1,257,800

53%

651,921

1,271,260

51%

10

Bình Dương

1,044,123

1,497,100

70%

1,007,150

1,619,900

62%

1,106,460

1,691,400

65%

1,178,690

1,709,500

69%

11

Bình Định

745,342

1,489,000

50%

831,746

1,489,700

56%

935,889

1,497,300

63%

934,162

1,513,323

62%

12

Bình Phước

272,109

877,500

31%

346,168

893,400

39%

414,204

905,300

46%

422,468

914,988

46%

13

Bình Thuận

428,750

1,171,700

37%

570,100

1,176,900

48%

635,283

1,180,300

54%

645,537

1,192,931

54%

14

Cà Mau

439,230

1,207,000

36%

510,702

1,212,100

42%

576,949

1,214,900

47%

592,655

1,227,901

48%

15

Cao Bằng

446,770

512,500

87%

473,258

513,100

92%

482,619

515,000

94%

490,539

520,511

94%

16

Cần Thơ

429,907

1,189,600

36%

582,040

1,197,100

49%

610,205

1,200,300

51%

659,664

1,213,145

54%

17

Đà Nẵng

724,424

890,500

81%

686,140

926,000

74%

783,732

951,700

82%

820,545

961,884

85%

18

Đắk Lắk

1,292,976

1,733,100

75%

1,215,863

754,400

69%

1,274,105

1,771,800

72%

1,274,816

1,790,761

71%

19

Đắk Nông

298,574

492,000

61%

276,197

510,600

54%

305,319

516,300

59%

316,165

521,825

61%

20

Điện Biên

447,819

493,000

91%

445,587

504,500

88%

489,272

512,300

96%

507,433

517,782

98%

21

Đồng Nai

1,320,126

2,491,300

53%

1,439,039

2,569,400

56%

1,553,089

2,665,100

58%

1,584,915

2,693,620

59%

22

Đồng Tháp

865,974

1,667,700

52%

739,455

1,670,500

44%

909,498

1,673,200

54%

1,047,325

1,691,105

62%

23

Gia Lai

965,197

1,277,600

76%

885,218

1,300,900

68%

931,171

1,322,000

70%

960,417

1,336,147

72%

24

Hà Giang

472,949

727,000

65%

714,114

735,800

97%

731,880

746,300

98%

725,454

754,286

96%

25

Hà Nam

391,735

786,400

50%

393,215

786,300

50%

437,968

786,900

56%

449,991

795,321

57%

26

Hà Tĩnh

701,007

1,230,300

57%

624,536

1,228,000

51%

841,340

1,229,300

68%

798,289

1,242,455

64%

27

Hải Dương

728,699

1,706,800

43%

1,093,717

1,712,800

64%

1,031,245

1,718,900

60%

1,060,461

1,737,294

61%

28

Hải Phòng

820,009

1,841,700

45%

1,184,666

1,857,800

64%

1,221,650

1,878,500

65%

1,229,523

1,898,602

65%

29

Hậu Giang

292,464

758,000

39%

315,873

758,600

42%

398,800

769,200

52%

463,078

777,431

60%

30

Hòa Bình

509,270

789,000

65%

502,242

793,500

63%

677,669

799,300

85%

748,733

808,359

93%

31

Hưng Yên

415,587

1,131,200

37%

522,887

1,132,300

46%

613,309

1,150,400

53%

631,257

1,162,711

54%

32

Khánh Hòa

677,844

1,159,700

58%

671,120

1,167,700

57%

685,356

1,174,100

58%

689,043

1,186,664

58%

33

Kiên Giang

794,279

1,687,900

47%

752,551

1,703,500

44%

831,618

1,714,100

49%

837,285

1,732,443

48%

34

Kon Tum

336,399

432,900

78%

349,518

443,400

79%

374,503

453,200

83%

390,530

458,050

85%

35

Lai Châu

353,799

371,400

95%

363,809

382,400

95%

375,462

391,200

96%

391,390

395,386

99%

36

Lạng Sơn

343,426

733,100

47%

652,305

735,600

89%

660,976

741,200

89%

671,268

794,132

85%

37

Lào Cai

555,610

614,900

90%

564,173

626,200

90%

608,168

637,500

95%

611,074

644,322

95%

38

Lâm Đồng

699,357

1,189,300

59%

635,036

1,204,900

53%

678,366

1,218,700

56%

744,468

1,231,742

60%

39

Long An

732,634

1,438,500

51%

761,505

1,446,200

53%

890,024

1,449,600

61%

902,834

1,465,113

62%

40

Nam Định

665,571

1,826,300

36%

773,032

1,830,000

42%

794,219

1,833,500

43%

900,071

1,853,121

49%

41

Nghệ An

1,755,434

2,919,200

60%

1,794,775

2,917,400

62%

2,051,609

2,942,900

70%

2,109,619

2,974,393

71%

42

Ninh Bình

421,031

900,100

47%

607,339

900,600

67%

559,132

906,900

62%

606,312

916,605

66%

43

Ninh Thuận

215,155

565,700

38%

258,826

570,100

45%

296,204

569,000

52%

336,295

575,089

58%

44

Phú Thọ

612,071

1,316,700

46%

735,152

1,322,100

56%

949,269

1,326,000

72%

911,576

1,340,190

68%

45

Phú Yên

348,227

863,000

40%

457,080

868,500

53%

462,748

871,900

53%

480,558

881,230

55%

46

Quảng Bình

492,041

848,000

58%

532,165

849,300

63%

619,436

853,000

73%

613,029

862,128

71%

47

Quảng Nam

799,358

1,421,200

56%

976,298

1,425,100

69%

978,554

1,435,000

68%

1,112,591

1,450,356

77%

48

Quảng Ngãi

711,167

1,219,200

58%

725,096

1,218,600

60%

752,552

1,221,600

62%

783,609

1,234,673

63%

49

Quảng Ninh

615,232

1,146,600

54%

870,094

1,159,500

75%

874,183

1,163,700

75%

901,636

1,176,153

77%

50

Quảng Trị

346,341

599,200

58%

358,647

600,500

60%

430,605

604,700

71%

430,802

611,171

70%

51

Sóc Trăng

534,900

1,293,200

41%

695,123

1,300,800

53%

643,945

1,303,700

49%

838,957

1,317,651

64%

52

Sơn La

895,066

1,083,800

83%

1,070,073

1,092,700

98%

998,689

1,119,400

89%

1,036,276

1,131,379

92%

53

Tây Ninh

432,678

1,067,700

41%

392,366

1,075,300

36%

485,124

1,080,700

45%

534,706

1,092,265

49%

54

Thái Bình

876,298

1,784,000

49%

1,086,524

1,786,300

61%

1,140,302

1,786,000

64%

1,167,926

1,805,112

65%

55

Thái Nguyên

870,747

1,127,400

77%

796,543

1,131,300

70%

845,436

1,139,400

74%

920,049

1,151,593

80%

56

Thanh Hóa

2,108,972

3,405,000

62%

2,066,359

3,406,800

61%

2,472,752

3,412,600

72%

2,445,624

3,449,119

71%

57

TT Huế

723,854

1,088,700

66%

755,264

1,090,900

69%

831,186

1,103,100

75%

845,778

1,114,905

76%

58

Tiền Giang

648,890

1,673,900

39%

811,799

1,677,000

48%

893,153

1,682,600

53%

946,393

1,700,606

56%

59

Trà Vinh

707,370

1,004,400

70%

704,328

1,005,900

70%

582,998

1,012,600

58%

733,894

1,023,436

72%

60

Tuyên Quang

381,013

727,500

52%

567,818

728,900

78%

633,547

730,800

87%

650,135

738,620

88%

61

Vĩnh Long

592,401

1,029,800

58%

466,533

1,026,500

45%

545,304

1,028,600

53%

537,283

1,039,607

52%

62

Vĩnh Phúc

552,923

1,003,000

55%

564,733

1,008,300

56%

619,260

1,014,600

61%

617,569

1,025,458

60%

63

Yên Bái

389,337

743,400

52%

602,401

746,400

81%

639,362

758,600

84%

658,630

766,718

86%

64

Khối LLVT

1,268,153

0%

1,268,153

1,300,000

65

Ghi thu tại BHXHVN (ĐT hưu trí)

2,064,937

Tổng cộng

50,068,611

86,024,600

58,2%

52,407,090

86,927,700

60%

57,081,956

87,839,500

65%

59,310,125

88,824,998

66.8%

Ghi chú: Tỷ lệ dân số tham giaBHYT của một số tỉnh/thành phố tại phụ lục này có chênh với báo cáo của địaphương vì một số địa phương đã cộng số đối tượng tham gia BHYT là thân nhân củakhối lực lượng vũ trang.

PHỤ LỤC SỐ 6

NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC HỖ TRỢ ĐÓNG BHYT GIAI ĐOẠN 2009 -2012

Đơn vị: triệu đồng

STT

Chỉ số

Năm 2009

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

Tổng NSNN hỗ trợ từ
2009-2012

Số tiền

Tỷ lệ %

Số tiền

Tỷ lệ %

Số tiền

Tỷ lệ %

Số tiền

Tỷ lệ %

I

Ngân sách Nhà nước đóng

4.460.668

9.808.976

12.018.154

15.176.566

41.464.364

1

Cán bộ hưởng trợ cấp NSNN

9.057

0,20

14.303

0,15

15.540

0,13

20.112

0,13

59.012

2

Người có công với cách mạng

379.253

8,50

641.820

6,54

750.479

6,24

981.307

6,47

2.752.859

3

Cựu chiến binh

77.202

1,73

148.107

1,51

162.379

1,35

214.764

1,42

602.452

4

Người tham gia KC chống Mỹ

-

11.422

0,12

14.793

0,12

17.204

0,11

43.419

5

Đại biểu Quốc hội, HĐND

26.535

0,59

44.541

0,45

46.140

0,38

62.772

0,41

179.988

6

Người hưởng trợ cấp BTXH

161.428

3,62

301.733

3,08

606.993

5,05

810.679

5,34

1.880.833

7

Người nghèo, DTTS vùng ĐBKK

3.276.320

73,45

5.088.043

51,87

6.401.027

53,26

7.647.300

50,39

22.412.690

8

Thân nhân người có công

-

16.491

0,17

29.171

0,24

36.315

0,24

81.977

9

Thân nhân LLVT, cơ yếu

264.655

5,93

559,797

5,71

139.675

1,16

876.274

5,77

1.840.401

10

Trẻ em dưới 6 tuổi

253.747

5,69

2.979.720

30,38

3.849.458

32,03

4.506.633

29,69

11.589.558

11

Người đã hiến bộ phận cơ thể

-

-

-

2

0,00

2

12

Người lao động bị ốm đau dài ngày

-

22

0,00

14

0,00

42

0,00

78

13

Lưu học sinh

12.471

0,28

2.978

0,03

2.484

0,02

3.164

0,02

21.097

II

Đối tượng đóng, NSNN hỗ trợ

76.349

923.690

541.624

1.761.276

3.302.939

1

Người thuộc hộ cận nghèo

76.349

100,00

136.896

14,82

181.203

33,46

699.483

39,71

1.093.931

2

Học sinh, sinh viên

-

-

786.794

85,18

360.421

66,54

1.061.793

60,29

2.209.009

3

Hộ N-L-N-DN mức sống trung bình

Tổng số (I + II)

4.537.017

10.732.666

12.559.778

16.937.842

44.767.303

III

Tổng thu bảo hiểm y tế toàn quốc

13.034.944

25.540.580

29.362.987

39.286.613

107.225.124

% Chi từ ngân sách/Tổng thu BHYT

35

42

43

43

42

PHỤ LỤC 7

CÂN ĐỐI THU, CHI QUỸ BHYT NĂM 2009-2012

Đơn vị: triệu đồng

STT

Chỉ tiêu

Năm 2009

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

I

Số dư đầu năm

(655,484)

(3,083,010)

2,810,508

7,238,710

II

Điều chỉnh số dư quỹ năm trước

16,606

(1,556)

5,524

III

Tổng thu Quỹ BHYT (tỷ đồng)

13,037,255

25,580,817

29,987,009

40,237,000

1

Thu của các đối tượng do tỉnh thực hiện

13,034,945

21,630,339

25,946,365

9,337,000

2

BHXH VN ghi thu

2,235,264

2,753,973

900,000

3

Thu từ NSNN

129,019

668,107

4

Thu từ lãi đầu tư tài chính

12,491

585,746

5

Thu khác

2,310

1,573,704

32,818

IV

Tổng chi

15,481,387

19,685,743

25,564,331

34,584,000

1

Chi KCB BHYT: trong đó

15,481,387

19,080,604

24,712,071

33,419,000

- Chi KCB trong quỹ của tỉnh

18,692,119

23,647,662

- Chi KCB vượt quỹ của tỉnh

388,485

1,064,409

- Chi KCB nội trú

- Chi KCB ngoại trú

2

Chi phí quản lý

605,139

852,260

1,165,000

3

Chi khác

V

Cân đối trong năm (III-IV)

(2,444,132)

5,895,074

4,422,678

5,653,000

VI

Lũy kế (I+II+III-IV)

(3,083,010)

2,810,508

7,238,710

12,891,710

PHỤ LỤC 8

CHI PHÍ KCB BHYT THEO TUYẾN NĂM 2009-2012

Đơn vị tính: nghìnđồng

Chỉ số

Năm 2009

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012 (ước)

Số lượt KCB

Chi phí

Số lượt KCB

Chi phí

Số lượt KCB

Chi phí

Số lượt KCB

Chi phí

1. Tổng KCB BHYT chung

92.100.006

15.396.404.031

102.171.602

18.602.196.605

114.434.983

24.592.930.340

121.302.546

32.283.834.000

- Tuyến TW hoặc đa tuyến

3.527.361

3.697.706.747

3.453.523

4.009.139.653

3.938.546

5.184.610.284

4.146.931

6.889.930.452

- Tuyến tỉnh và tương đương

21.455.370

7.035.244.836

23.678.553

8.440.936.681

27.823.490

11.550.775.213

27.761.155

15.261.212.326

- Tuyến huyện và tương đương

41.956.706

3.956.173.605

43.225.100

5.113.812.281

48.827.595

6.641.629.322

52.890.403

8.593.075.661

- Tuyến xã

25.160.569

707.278.843

31.814.427

1.038.307.989

33.845.352

1.215.915.521

36.504.057

1.539.615.562

KCB BHYT nội trú

6.335.511

8.113.156.656

8.419.862

9.681.515.748

8.896.171

12.759.007.236

10.198.706

17.313.657.000

- Tuyến TW

648.887

2.498.648.555

673.443

2.712.431.483

778.032

3.602.742.327

914.184

4.888.832.161

- Tuyến tỉnh và tương đương

2.766.257

4.165.496.544

3.747.098

5.137.827.853

4.221.467

7.060.393.102

4.679.998

9.580.778.676

- Tuyến huyện và tương đương

2.853.588

1.429.762.042

3.837.280

1.816.567.099

3.795.601

2.080.045.502

4.473.454

2.822.570.259

- Tuyến xã

66.779

19.249.515

162.042

14.689.313

101.071

15.826.305

131.070

21.475.904

KCB BHYT ngoại trú

85.764.495

7.283.247.375

93.751.740

8.920.680.856

105.538.812

11.833.923.104

111.103.840

14.970.177.000

- Tuyến TW

2.878.474

1.199.058.192

2.780.080

1.296.708.170

3.160.514

1.581.867.957

3.232.747

2.001.098.291

- Tuyến tỉnh và tương đương

18.689.113

2.869.748.292

19.931.455

3.303.108.828

23.602.022

4.490.382.111

23.081.157

5.680.433.650

- Tuyến huyện và tương đương

39.103.118

2.526.411.563

39.387.820

3.297.245.182

45.031.995

4.561.583.821

48.416.949

5.770.505.402

- Tuyến xã

25.093.790

688.029.328

31.652.385

1.023.618.676

33.744.281

1.200.089.215

36.372.987

1.518.139.658

2. Bình quân số lượt KCB/thẻ BHYT

1,84

1,95

2,00

2,05

- Lần KCB nội trú

0,13

0,16

0,16

0,17

- Lần KCB ngoại trú

1,71

1,79

1,85

1,87

PHỤ LỤC SỐ 9

MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỚI QUỐC HỘI VỀ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LUẬTBẢO HIỂM Y TẾ

Quốc hội cần quan tâm một số vấn đề khi xem xét sửađổi một số điều của Luật BHYT như sau:

1. Một số vấn đề chung

- Xây dựng cơ chế để khuyến khích tham gia BHYTtheo hộ gia đình.

- Quy định cụ thể trách nhiệm của các bộ, ngành, chínhquyền địa phương đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật về BHYT.

- Phân cấp việc quản lý quỹ BHYT cho tỉnh mạnh mẽhơn để nâng cao sự chủ động của địa phương trong việc tăng tỷ lệ người dân thamgia BHYT, quản lý, sử dụng quỹ BHYT có hiệu quả, phục vụ quyền lợi người dân tốthơn.

- Quy định cơ chế thống nhất giá dịch vụ y tế đối vớibệnh viện cùng hạng trên toàn quốc; quy định cụ thể về đấu thầu thuốc, vật tư ytế phục vụ KCB theo BHYT.

- Bổ sung cơ chế kiểm soát lạm dụng dịch vụ y tế, đấtcông tác giám định BHYT đúng tầm, quy định cụ thể gói quyền lợi BHYT cơ bản màngười tham gia BHYT được hưởng.

- Điều chỉnh chính sách cùng chi trả với một sốnhóm đối tượng (thân nhân liệt sĩ, đối tượng thuộc diện bảo trợ xã hội); quy địnhmức cùng chi trả tối đa đối với người tham gia BHYT.

- Nghiên cứu, sửa đổi quy định về thẻ BHYT có ảnhcho phù hợp.

2. Một số vấn đề cụ thể

a) Về đối tượng tham gia BHYT:

- Thu hẹp và sắp xếp hợp lý các nhóm đối tượng thamgia BHYT.

- Nghiên cứu, bổ sung chính sách hỗ trợ đối với đốitượng là người dân tộc kinh sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hộikhó khăn, đặc biệt khó khăn, biên giới liên tục suốt từ những năm 60 tới nay.

b) Về mua thẻ BHYT và quản lý, sử dụng quỹ BHYT:

- Nghiên cứu, bổ sung nguồn mua BHYT cho người từ80 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng, cơ chế quy định nguồn nộptiền mua BHYT cho phụ nữ trong thời gian nghỉ thai sản.

- Xem xét bổ sung cơ chế để mọi người hảo tâm có thểmua thẻ BHYT từ các đại lý BHYT, từ tổ chức BHYT nơi gần nhất để tặng cho ngườithân, bạn bè, người thuộc nhóm yếu thế, người có hoàn cảnh khó khăn ớ các địaphương khác nhau trong cả nước.

- Bổ sung quy định cụ thể thứ tự ưu tiên trong việcphân bổ, sử dụng phần kết dư quỹ BHYT, đối với tỉnh có kết dư thì tỉnh được ưutiên sử dụng một phần kết dư (bất kể là quỹ dự phòng trung ương kết dư hay bộichi); đồng thời, bổ sung quy định đối với tỉnh bị bội chi thì tỉnh phải sử dụngngân sách địa phương để bù lại cho một phần trong số bội chi quỹ BHYT.

- Bổ sung quy định cụ thể tỷ lệ về trích nộp quỹ dựphòng tại trung ương, lập quỹ dự phòng ở địa phương, hội đồng quản lý quỹ tại tỉnh/thànhphố.

- Sửa đổi quy định về thanh quyết toán và tạm ứng,không nên lấy căn cứ là chi phí được quyết toán quý trước vì trên thực tế việcthanh quyết toán của quý trước thường chậm.

- Sửa đổi quy định về thời hạn thực hiện quyết toánquý theo hướng giảm từ 75 ngày tới mức thấp nhất có thể để tạo điều kiện thuậnlợi cho cả cơ sở KCB BHYT và cơ quan BHXH.

- Quy định cụ thể về hợp đồng KCB giữa cơ quan BHXHvà bệnh viện.

- Nghiên cứu, xem xét để quy định theo hướng thanhtoán quỹ BHYT đối với tất cả các trường hợp tham gia BHYT bị tai nạn giao thônghoặc không thanh toán đối với những trường hợp này.

c) Về cung ứng dịch vụ y tế:

- Quy định rõ thời gian được sử dụng giấy khaisinh, chứng sinh để đi KCB đối với trẻ em dưới 6 tuổi.

- Bổ sung cơ chế để không phân biệt KCB BHYT ban đầuở tuyến xã và tuyến huyện, KCB BHYT ở bệnh viện đồng hạng hoặc ở cơ sở KCB ởtuyến dưới so với tuyến đăng ký KCB BHYT ban đầu không coi là trái tuyến, vượttuyến; KCB ở các vùng giáp ranh giữa các tỉnh, huyện.

- Điều chỉnh quyền lợi được hưởng của người thamgia BHYT đối với một số dịch vụ y tế kỹ thuật cao và thuốc đắt tiền trên cơ sởsố năm tham gia BHYT và phù hợp với mệnh giá thẻ BHYT.

- Quy định cụ thể, chi tiết hơn, công khai, minh bạchvề cung ứng dịch vụ KCB BHYT.

d) Quản lý nhà nước về BHYT:

- Cần bổ sung quy định gắn trách nhiệm của Ủy bannhân dân tỉnh/thành phố với vấn đề bội chi, kết dư quỹ BHYT tại địa phương.

- Bổ sung quy định trách nhiệm của Bộ Giáo dục vàĐào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trong việc triển khai BHYT đối vớicác nhóm đối tượng do bộ quản lý.

- Cần quy định rõ trách nhiệm của UBND cấp xã trongviệc lập danh sách, xác nhận đối tượng tham gia BHYT của hộ gia đình trên địabàn.

3. Vấn đề liên quan với quy định của Bộ Luật lao động(sửa đổi)

Luật BHYT quy định quỹ BHYT không thanh toán chiphí KCB do “tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp” (Điều 23), trong khi Bộ Luậtlao động (sửa đổi năm 2012) lại quy định người sử dụng lao động chỉ thanh toánphần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do BHYT chitrả đối với người lao động tham gia BHYT (Điều 144). Vì vậy, khi sửa đổi LuậtBHYT cần quan tâm xem xét để bãi bỏ quy định quỹ BHYT không thanh toán chi phíkhám chữa bệnh do “tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp” cho phù hợp với Bộ Luậtlao động (sửa đổi).



1 Theo Nghị quyếtsố 34/2012/QH13 ngày 15/11/2012 của Quốc hội.

2 Đoàn giám sát củaỦy ban thường vụ Quốc hội gồm 18 ĐBQH, đại diện Bộ Y tế, Bảo hiểm xã hội ViệtNam, Bộ Tài chính và một số chuyên gia.

3 Theo Nghị quyếtsố 551/NQ-UBTVQH13 ngày 26/12/2012.

4 Đoàn đã thực hiệngiám sát tại T/p Hồ Chí Minh, Hà Nội, tỉnh Điện Biên, Kiên Giang, Nam Định, NghệAn, Bình Dương, Đắk Lắk, Ninh Thuận.

5 Tính đến ngày25/9/2013, đã nhận được báo cáo kết quả giám sát của 63/63 tỉnh/thành phố.

6 Nghị quyết46-NQ/TW, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X và XI của Đảng, Chỉthị số 38-CT/TW của Ban Bí thư...

7 So với ngày LuậtBHYT có hiệu lực, Chính phủ ban hành Nghị định số 62/2009/NĐ-CP và Nghị định số92/2011/NĐ-CP chậm từ 1-28 tháng; Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số04/2011/QĐ-TTg chậm 18 tháng; Bộ Y tế và các bộ, ngành liên quan ban hành cácthông tư chậm từ 2-39 tháng.

8 Bộ Y tế đang soạnthảo văn bản hướng dẫn vấn đề này, còn cân nhắc vì khả năng chi trả của quỹBHYT.

9 Thông tư liên tịchsố 39/2011/TTLT-BYT-BTC hướng dẫn thủ tục thanh toán tai nạn giao thông rất phứctạp, quy định người tham gia BHYT bị tai nạn giao thông, trong khi chưa xác địnhngười đó có vi phạm pháp luật về giao thông hay không, khi đi KCB được hưởngBHYT theo quy định; khi xác định người bị tai nạn giao thông là do vi phạm phápluật về giao thông thì người đó có trách nhiệm phải hoàn trả đầy đủ các chi phíKCB cho quỹ BHYT.

10 Luật Khám bệnh,chữa bệnh chỉ giao cho Bộ Y tế phân hạng bệnh viện của Nhà nước.

11 Cũng chính vìsự chậm trễ này dẫn đến việc BHXH Việt Nam ban hành văn bản hướng dẫn tạm thờixếp bệnh viện tư nhân thuộc nhóm bệnh viện hạng 2, nhưng lại có một số ý kiếnchưa đồng thuận. Ngoài ra cũng có ý kiến chưa đồng tình về một vài văn bản doBHXH Việt Nam ban hành như: Văn bản số 245/BHXH-CSYT Văn bản số1513/BHXH-CSYT Quyết định số 82/QĐ-BHXH Văn bản số 3637/BHXH-CSYT (phụ lụcsố 4).

12 Năm 2012, tỷ lệngân sách nhà nước (NSNN) hỗ trợ đối tượng mua BHYT trong tổng thu BHYT ở LạngSơn chiếm 90%, Sơn La là 88%, Điện Biên là 79%, Lào Cai là 73%, Đắk Nông là86%... trong khi đó tỷ lệ này ở các tỉnh vùng đồng bằng và đô thị chỉ từ20-30%.

13 T/p Hồ ChíMinh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dương, Thái Nguyên, Hà Giang, Đà Nẵng, Ninh Thuận,Quảng Ngãi, Lâm Đồng, Long An ...

14 Bình quân trêncả nước số người nghèo, dân tộc thiểu số chiếm khoảng 24% tổng số người có thẻBHYT, tại các tỉnh miền núi tỷ lệ này chiếm khoảng 65-75%.

15 Năm 2012,Paraguay thu nhập bình quân/người/năm (ppp) là 5.050 US$, có 17% dân số thamgia BHYT; Ấn Độ thu nhập bình quân là 3.550, có 11% dân số tham gia BHYT;Indonesia thu nhập bình quân 4.200, có 63% dân số tham gia BHYT; Albania thu nhậpbình quân 8.740 US$, có 40% dân số tham gia BHYT...

16 Bệnh nhân doQuỹ BHYT chi trả tiền giường chi 30-100 ngàn đồng/ngày, nhưng phòng dịch vụ cóloại 1 triệu đồng/ngày; hoặc khám bệnh theo BHYT với giá 5-30 ngàn đồng/lần,nhưng ngay phòng bên khám dịch vụ với giá 600 ngàn đồng /lần.

17 Một nghiên cứuxã hội cho biết, hơn 50% số người hưởng lương hiện nay đang tham gia BHYT bắtbuộc sẽ không tham gia BHYT nếu pháp luật quy định tham gia BHYT là tự nguyện.

18 Bệnh viện đakhoa tỉnh Phú Thọ xây dựng tòa nhà riêng (trong khuôn viên bệnh viện) gồm 200giường phục vụ điều trị theo yêu cầu, với đội ngũ cán bộ chuyên môn y tế riêngbiệt, khi cần hỗ trợ từ bệnh viện đa khoa tỉnh thì thanh toán chi phí theo sốgiờ phục vụ, trình độ cán bộ và bảo đảm công khai minh bạch. Phần tăng thu từkhu dịch vụ đã góp phần hỗ trợ chế độ cán bộ y tế và điều kiện kỹ thuật chungcho cả bệnh viện.

19 Một nghiên cứuxã hội cho biết, hơn 50% số người hưởng lương hiện nay đang tham gia BHYT bắtbuộc sẽ không tham gia BHYT nếu pháp luật quy định tham gia BHYT là tự nguyên.

20 Khoản 2, Điều17 của Luật BHYT quy định về hồ sơ cấp thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi phải cóbản sao giấy chứng sinh/khai sinh, hoặc xác nhận của UBND cấp xã nơi bố mẹ cưtrú; phải có danh sách của UBND cấp xã đề nghị cấp thẻ BHYT; trong vòng 10 ngàylàm việc phải cấp thẻ BHYT cho các cháu.

21 NSNN hỗ trợ100% mức đóng BHYT cho người có công với cách mạng, thân nhân người có công vớicách mạng, cựu chiến binh, người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, người dân tộc thiểusố sống ở vùng đặc biệt khó khăn, người hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội...; hỗ trợ70% mức đóng BHYT cho người thuộc hộ cận nghèo, 30% cho HSSV.

22 Theo Chiến lượcbiển đảo và Nghị quyết số 30a/ 2008/NQ-CP .

23 Năm 2012, NSNNphân bổ cho chi sự nghiệp y tế là 51.000 tỷ đồng.

24 NSNN chi thườngxuyên cho các bệnh viện trong cả nước năm 2010 là 11.400 tỷ đồng chiếm 25,6% tổngchi cho y tế, năm 2011 là 16.201 tỷ đồng chiếm 29,6% tổng chi cho y tế.

25 Nhà nước vẫntiếp tục tăng chi cho y tế và chi cho đầu tư phát triển đối với các bệnh việncông.

26 Doanh nghiệpnhà nước, DN có vốn đầu tư nước ngoài, DN ngoài quốc doanh, DN thuộc lực lượngvũ trang; Khối HCSN, đảng, đoàn thể; Khối xã, phường, thị trấn...; Đối tượng tựđóng: Thân nhân người lao động; Hộ làm nông-lâm-ngư nghiệp; Hộ KD cá thể.

27 Hưu trí, trợ cấpmất sức lao động, trợ cấp TNLĐ, bệnh nghề nghiệp, thôi hưởng trợ cấp mất sứclao động, cán bộ xã, phường hưởng trợ cấp BHXH và người đang hưởng trợ cấp thấtnghiệp.

28 Riêng Hà Nộicó gần 10.700 cụ trên 80 tuổi đang hưởng trợ cấp tuất và không được cấp BHYT.

29 Chưa đồng bộgiữa Luật BHYT với Bộ Luật lao động và với Luật người cao tuổi.

30 Thông tư liêntịch 09 không quy định gì về thanh toán vượt trần, kể cả do nguyên nhân kháchquan nên đến nay vẫn chưa thanh toán vượt trần tuyến 2 của năm 2012; năm 2011,có 50 địa phương bị vượt trần tuyến 2 với số tiền gần 639 tỷ đồng đến quý 2 năm2013 mới được thanh toán về cơ bản, một số địa phương báo cáo vẫn chưa thanhtoán vượt trần tuyến 2 của năm 2011.

31 Điều 29 của LuậtBHYT quy định tổ chức BHYT thực hiện giám định thủ tục KCB BHYT; kiểm tra, đánhgiá chỉ định điều trị, sử dụng thuốc, hóa chất, vật tư, thiết bị y tế, dịch vụkỹ thuật y tế cho người bệnh; kiểm tra, xác định chi phí KCB BHYT.

32 Thành phố HồChí Minh, Hà Nội, Phú Thọ, Thái Bình, Thái Nguyên, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, ĐàNẵng, Đắk Lắk, Kiên Giang.

33 Bệnh viện ChợRẫy, Bệnh viện nhân dân Gia Định đã thực hiện kiểm soát việc lạm dụng thuốc,xét nghiệm thông qua việc bình các đơn thuốc bất thường trong giao ban hàngngày của bệnh viện...

34 Bệnh viện đakhoa tỉnh Kiên Giang, sau một năm triển khai đã khắc phục khoảng 50% số sai sótmà trước đó không thể khắc phục được.

35 Các tỉnh liêntục bội chi quỹ BHYT trong 3 năm (2010-2012) là Kiên Giang, An Giang, ĐồngTháp, Vĩnh Long, Cần Thơ; một số tỉnh bội chi trong 2 năm (2011-2012) là Nam Định,Ninh Bình, Cà Mau, Hậu Giang.

36 Luật BHYT quyđịnh về sử dụng quỹ BHYT (Điều 35); Nghị định số 62/2009/NĐ-CP có quy định vềquỹ BHYT (Điều 11); Thông tư liên tịch số 09/2009/TTLT-BYT-BTC có quy định 60%phần kinh phí kết dư hàng năm được sử dụng tại địa phương. Chậm nhất đến ngày30/6 năm sau, nếu không sử dụng hết thì chuyển vào quỹ KCB BHYT của tỉnh nămsau.

37 Nhà nước khuyếnkhích đầu tư phát triển công nghệ và phương tiện kỹ thuật tiên tiến trong quảnlý BHYT.

38 Khoản 10 Điều41 của Luật BHYT giao BHXH Việt Nam có trách nhiệm ứng dụng công nghệ thông tintrong quản lý BHYT, xây dựng hệ cơ sở dữ liệu quốc gia về BHYT.

39 Khoản 5 Điều16 của Luật BHYT giao Tổ chức BHYT quy định mẫu thẻ BHYT, quản lý thẻ BHYT thốngnhất trong cả nước và chậm nhất đến ngày 01/01/2014 phải tổ chức thực hiện việcphát hành thẻ BHYT có ảnh của người tham gia BHYT.

40 Người có côngvới cách mạng, thân nhân người có công, người hoạt động kháng chiến, trẻ em dưới6 tuổi, người nghèo, cận nghèo, người hưởng bảo trợ xã hội, thân nhân quân đội,thân nhân công an, HSSV...

41 Tỉnh Phú Thọ,từ chỗ bội quỹ BHYT gần 100 tỷ đồng (2010), đến nay đã cân bằng và kết dư(2012).

42 Điều 26 của LuậtBHYT quy định người tham gia BHYT có quyền đăng ký KCB BHYT ban đầu tại cơ sởKCB tuyến xã, tuyến huyện hoặc tương đương; trừ trường hợp được đăng ký tại cơsở KCB tuyến tỉnh hoặc tuyến trung ương theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.

43 Luật BHYT quyđịnh về chuyển tuyến KCB BHYT (Điều 27, Điều 28); Nghị định số 62/2009/NĐ-CP cóquy định về thanh toán đối với KCB trái tuyến, vượt tuyến (Điều 7); Thông tư số10/2009/TT-BYT hướng dẫn đăng ký khám chữa bệnh BHYT ban đầu và chuyển tuyếnkhám chữa bệnh BHYT.

44 Bao gồm đầu tưtrái phiếu Chính phủ cho y tế, bệnh viện vệ tinh, bác sỹ gia đình...

45 Quyết định số 92/QĐ-TTg ngày 09/1/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án giảm quá tải bệnhviện giai đoạn 2013-2020; Quyết định số 14/2013/QĐ-TTg ngày 20/2/2013 về việcthực hiện chế độ luân phiên có thời hạn đối với người hành nghề tại cơ sởKCB...

46 Bình quân năm2012, quỹ BHYT chi trả khoảng 24.000 tỷ đồng tiền thuốc.

47 Bắc Ninh khoảng85% mức giá tối đa; Sóc Trăng, Đồng Tháp, Cao Bằng, Khánh Hòa, Nghệ An: khoảng80%; Quảng Ninh: 82%; Quảng Nam: 78%; Ninh Thuận 81%; Bình Định trên 60%; BắcGiang 65-71%; Thái Nguyên 62-70%; Hà Nam khoảng 63%; Đắk Lắk 66%...

48 Bộ Y tế chủtrì và Bộ Tài chính chưa có văn bản hướng dẫn tổ chức thực hiện Quyết định nàytheo quy định tại khoản 3 Điều 3 của Quyết định này.

49 Hà Nội, NinhThuận, Đắk Lắk từ 28.000-30.000 đồng/lần. Bình quân cả nước, tỷ lệ chi KCB ởtuyến xã trong tổng chi KCB BHYT là 4,8%, song ở Hải Dương là 6,7%, Lâm Đồng10,5%, Kon Tum 28,2%, Lai Châu 47,3%, Vĩnh Long 11,1%, Lào Cai 13%, Điện Biên21,5%, Nam Định 37%, ở một số tỉnh, tỷ lệ này chi 1-2% như Vĩnh Phúc 2,1%,Thanh Hóa 2,9% có nơi là 0% như tại T/p Hồ Chí Minh do chưa triển khai KCB theoBHYT tại tuyến xã.

50 Điều 88 của LuậtKCB quy định: Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnhđối với cơ sở KCB của Nhà nước thuộc phạm vi quản lý của địa phương theo đề nghịcủa Ủy ban nhân dân cùng cấp.

51 Theo báo cáo,quyền lợi của bệnh nhân BHYT khi đi khám nếu tại y tế xã bình quân là 1 thì tạibệnh viện huyện là 3, tỉnh là 6 và bệnh viện tuyến trung ương là 15.

52 Bệnh viện đakhoa quận Ngô Quyền, Hải Phòng chi tới 70% quỹ cho KCB BHYT trái tuyến, vượttuyến; tỷ lệ này ở bệnh viện huyện Bình Thủy, Cần Thơ là 76%...

53 Những hạn chếcần sửa của Thông tư 01 của liên bộ hướng dẫn đấu thầu: Thêm các tiêu chuẩn kỹthuật, đặc biệt tiêu chuẩn xuất xứ nguyên liệu thuốc, mở thêm danh mục 1 số thuốcbiệt dược.

54 Một nghiên cứucủa Bộ Y tế cho biết, 40-50% bệnh nhân ở một số bệnh viện tuyến trung ương là bệnhcó thể điều trị ở tuyến huyện và tỉnh.

55 Luật BHYT giaoBộ Y tế thực hiện QLNN về BHYT; các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi, nhiệm vụ,quyền hạn của mình phối hợp với Bộ Y tế QLNN về BHYT; UBND các cấp thực hiệnQLNN về BHYT tại địa phương.

56 Luật BHYT, cuốnsách 100 câu hỏi và giải đáp CSPL về BHYT, tờ rơi, áp phích hướng dẫn những điềucần biết khi đi KCB BHYT.

57 Hà Nội, HảiPhòng, An Giang, Đà Nẵng, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Bình Dương, Bình Phước, KiênGiang...

58 Hà Nội, ĐiệnBiên, Cao Bằng, Bắc Kạn, Bắc Giang, Hà Nam, Nghệ An, Đắc Nông, Đồng Nai...

59 Vụ án tại BìnhDương (thuê thẻ BHYT của công nhân, thuê bệnh nhân mạn tính đi khám bệnh để lấythuốc đắt tiền đem bán giá trị trên 80 triệu đồng) đã bị xử tù.

60 Phòng Y tế,Trung tâm y tế, Bệnh viện đa khoa, Trung tâm DS-KHHGĐ huyện.

61 Chuyển tuyếnhành chính: Là thứ tự xã lên bệnh viện huyện, tỉnh, trung ương, chuyển tuyến kỹthuật là tùy bệnh, nếu bệnh nặng có thể chuyển trực tiếp từ xã lên tỉnh, hay từhuyện lên tuyến trung ương.

1 Khi giám sát tạimỗi địa phương đều có đại diện Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh/thành phố tham giađoàn.

1 Trong thực tế bệnhviện tư nhân có thể đạt hoặc không đạt tiêu chuẩn bệnh viện hạng II.

2 Điều 26 của LuậtBHYT quy định người tham gia BHYT có quyền đăng ký KCB BHYT ban đầu tại cơ sởKCB tuyến xã, tuyến huyện hoặc tương đương; trừ trường hợp được đăng ký tại cơsở KCB tuyến tỉnh hoặc tuyến trung ương theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.