THƯ VIỆN PHÁP LUẬT

BỘ Y TẾ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 53/BC-BYT

Hà Nội, ngày 25 tháng 01 năm 2013

BÁO CÁO

CÔNG TÁCPHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS NĂM 2012 VÀ TRỌNG TÂM KẾ HOẠCH NĂM 2013

Kính gửi:

Đồng chí Nguyễn Xuân Phúc
Phó Thủ tướng Chính phủ
Chủ tịch Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm.

I. TÌNH HÌNH DỊCH HIV/AIDS TẠI VIỆTNAM

1. Tình hình nhiễm HIV/AIDS đến hếtnăm 2012

Tính đến hết năm 2012, số trường hợp nhiễm HIV hiện còn sốnglà 210.703 trường hợp, số bệnh nhân AIDS hiện còn sống là 61.669 và 63.372trường hợp tử vong do AIDS. Tỷ lệ nhiễm HIV toàn quốc theo số báo cáo là 239người trên 100.000 dân, tỉnh Điện Biên vẫn là địa phương có tỷ lệ nhiễm HIVtrên 100.000 dân cao nhất cả nước (1015,8), tiếp đến là thành phố Hồ Chí Minh(677), thứ 3 là Thái Nguyên (610,6). Riêng trong năm 2012, cả nước phát hiện14.127 trường hợp nhiễm HIV, 6.734 bệnh nhân AIDS và 2149 người tử vong doAIDS. So với cùng kỳ năm 2011, số trường hợp nhiễm HIV phát hiện và báo cáogiảm 26%, số người tử vong giảm gần 2 lần. 10 tỉnh có số trường hợp xét nghiệmphát hiện dương tính lớn nhất trong năm 2012 và tỷ lệ phát hiện của tỉnh, thànhphố so với tổng số phát hiện của cả nước trong năm 2012, bao gồm TP. Hồ ChíMinh: 2721 trường hợp (chiếm 19,26% so với tổng số trường hợp phát hiện); Hà Nội:751 trường hợp (chiếm 5,32%); Điện Biên: 671 (chiếm 4,75%); Nghệ An: 556 trườnghợp (chiếm 3,94%); Thái Nguyên: 479 trường hợp (chiếm 3,15%); Cần Thơ: 422trường hợp (chiếm 2,99%); Thanh Hóa: 335 trường hợp (chiếm 2,37%); Yên Bái: 328trường hợp (chiếm 2,32%). Các tỉnh có số người nhiễm HIV phát hiện trong năm2012 tăng với cùng kỳ năm 2011, bao gồm Đồng Nai (0,58%); Đắk Lắk (0,41%), Cần Thơ(0,32%); Tây Ninh (0,29%); Bình Định (0,12%); các tỉnh khác tăng nhẹ như TràVinh, Lào Cai.

Báo cáo 53/BC-BYT năm 2013 về công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2012 và trọng tâm kế hoạch năm 2013 do Bộ Y tế ban hành

Biểu đồ 1. Số trường hợp nhiễm HIV, bệnh nhânAIDS hiện còn sống và tổng số người đã tử vong do AIDS tính đến hết năm 2012.

Danh sách 10 tỉnh có số người nhiễm HIV còn sống cao nhất cảnước.

STT

Tỉnh/TP

HIV còn sống

1

Hồ Chí Minh

50931

2

Hà Nội

19987

3

Hải Phòng

7027

4

Thái Nguyên

6957

5

Sơn La

6362

6

Nghệ An

5545

7

Đồng Nai

5400

8

Điện Biên

5204

9

Thanh Hóa

5050

10

An Giang

4867

Về địa bàn phân bố dịch: tính đến hết năm 2012, toàn quốc đãphát hiện người nhiễm HIV tại 79,1% xã/phường (tăng 1,6% so với cuối năm 2011),gần 98% quận/huyện (không thay đổi so với cuối năm 2011) và 63/63 tỉnh/thànhphố.

Báo cáo 53/BC-BYT năm 2013 về công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2012 và trọng tâm kế hoạch năm 2013 do Bộ Y tế ban hành

Biểu đồ 3. Tỷ lệ % số xã/phường, quận/huyện vàtỉnh/ thành phố báo cáo có người nhiễm HIV.

Báo cáo 53/BC-BYT năm 2013 về công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2012 và trọng tâm kế hoạch năm 2013 do Bộ Y tế ban hành

Bản đồ 1: Phân bố tình hình nhiễmHIV/AIDS theo địa bàn địa lý

Theo kết quả phân tích số người nhiễm HIV theo địa bàn địalý cho thấy, số người nhiễm HIV chủ yếu tập trung các tỉnh miền bắc và các tỉnhvùng đồng bằng sông cửu long và miền đông nam bộ, khu vực có số người nhiễm HIVcao là các tỉnh miền núi tây bắc và các huyện miền núi Nghệ an và Thanh Hóa.

2. Phân tích tình hình dịch theo cáchình thái

Phân bố người nhiễm HIV theo giới tính: Trong tổng số những người nhiễm HIVđược phát hiện trong năm 2012, tỷ lệ người nhiễm HIV ở Nam giới chiếm 68,5%, giảm0,5% so với cuối năm 2011và ở nữ giới chiếm 31,5% tăng 0,5% so với cuối năm 2011.Biểu đồ phân bố người nhiễm theo giới tính qua các năm cho thấy nữ giới có xuhướng ngày càng tăng. Trong vòng 6 năm từ 2000 đến 2005, tỷ lệ người nhiễm HIVlà nữ giới tăng từ 5,4%, nhưng giai đoạn 2006 đến 2011 tỷ lệ này tăng 11,2%. Cóthể thấy tỷ lệ nhiễm HIV ở nữ giới trong số người được xét nghiệm phát hiện HIVcó tốc độ gia tăng ngày càng nhanh.

Báo cáo 53/BC-BYT năm 2013 về công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2012 và trọng tâm kế hoạch năm 2013 do Bộ Y tế ban hành

Biểu đồ 4b. Phân bố người nhiễm HIVtheo giới qua các năm

Phân bố người nhiễm HIV theo nhóm tuổi: Số người nhiễm HIV báo cáo năm 2012vẫn chủ yếu tập trung ở nhóm tuổi từ 20-39 tuổi chiếm 80% số người nhiễm HIV. Theobiểu đồ 5b cho thấy tỷ lệ người nhiễm HIV ở nhóm 30-39 tuổi phát hiện hàng năm cóxu hướng tăng, trong vòng 6 năm từ 2005 đến 2011 tỷ lệ người nhiễm HIV trongnhóm 30-39 tuổi đã tăng 11%. Trong năm 2012, hình thái dịch HIV/AIDS đang có xuhướng “già hóa” trong số người nhiễm HIV được phát hiện, nguy cơ các trường hợpnhiễm mới HIV đã có sự chuyển dịch từ nhóm tuổi từ 20-29 tuổi sang nhóm tuổi30-39.

Báo cáo 53/BC-BYT năm 2013 về công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2012 và trọng tâm kế hoạch năm 2013 do Bộ Y tế ban hành

Phân bố người nhiễm HIV theo đường lây truyền: trong số người nhiễm HIV được báocáo trong năm 2012 cho thấy: lây truyền qua đường tình dục chiếm tỷ lệ cao nhất(chiếm 45,5%), tỷ lệ này tăng hơn 3,7% so với cùng kỳ năm 2011, lây truyền quađường máu chiếm 42,1% giảm 4,3% so với cùng kỳ năm 2011(biểu đồ 6a), tỷlệ người nhiễm HIV lây truyền từ mẹ sang con chiếm 2,4%, có 10,1% tỷ lệ ngườinhiễm HIV không xác định rõ đường lây truyền. Như vậy đến nay ở nước ta lâytruyền HIV qua đường tình dục ngày càng tăng và chiếm tỷ lệ cao nhất.

Báo cáo 53/BC-BYT năm 2013 về công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2012 và trọng tâm kế hoạch năm 2013 do Bộ Y tế ban hành

Phân tích tỷ lệ người nhiễm HIV theo các nhóm đối tượng:

Báo cáo 53/BC-BYT năm 2013 về công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2012 và trọng tâm kế hoạch năm 2013 do Bộ Y tế ban hành

Kết quả giám sát phát hiện cho thấy, tỷ lệ người nhiễm HIVđược xét nghiệm báo cáo chủ yếu là người nghiện chích ma túy, chiếm 37,7%. Phânbố người nhiễm HIV theo nhóm đối tượng nghiện chích ma túy trong năm 2012 có xuhướng giảm xuống khoảng 4,3% so với cùng kỳ năm 2011. Tuy nhiên, tỷ lệ nhiễmHIV nhóm nghiện chích ma túy vẫn chiếm một tỷ lệ lớn nhất trong tổng số cáctrường hợp nhiễm HIV được báo cáo.

Trong 5 năm trở lại đây tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm tình dụckhác giới tăng nhanh từ 8,1% năm 2007 lên 22,2% năm 2011 (tăng 14,4% trong 5năm) và trong 11 tháng năm 2012 tỷ lệ này là 24,7%.

3. Phân tích chiều hướng lây truyềnHIV trong các nhóm quần thể

a) Nhóm nghiện chích ma túy

Báo cáo 53/BC-BYT năm 2013 về công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2012 và trọng tâm kế hoạch năm 2013 do Bộ Y tế ban hành

Kết quả giám sát trọng điểm HIV trong năm 2012 cho thấy tỷlệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy tiếp tục có xu hướng giảm, năm 2012tỷ lệ này là 11,6% so với năm 2011 là 13,4% (giảm 1,8%). Tất cả các vùng trongcả nước tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy đều giảm, tuy nhiên tỷ lệnhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy có sự khác nhau giữa các khu vực, tỷlệ này ở các tỉnh đồng bằng bắc bộ là 15,3%, khu vực miền núi phía bắc 15,6%, ởcác tỉnh miền đông nam bộ là 12,7%, các tỉnh bắc trung bộ là 7,6%, khu vực đồngbằng sông cửu long 8,2%, khu vực tây nguyên 6,1%, khu vực duyên hải miền trung4%. Một số tỉnh có tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy vẫn đang ởmức cao là: Cần Thơ 32%, thành phố Hồ Chí Minh 29%, Thái Nguyên 38%, Quảng Ninh23%, Sơn La 29%.

b) Nhóm phụ nữ bán dâm

Báo cáo 53/BC-BYT năm 2013 về công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2012 và trọng tâm kế hoạch năm 2013 do Bộ Y tế ban hành

Theo kết quả giám sát trọng điểm năm 2012 của 40 tỉnh/thành phố,tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ bán dâm là 2,7%. Tỷ lệ này có sự khácnhau ở các khu vực, ở các tỉnh đồng bằng bắc bộ tỷ lệ này chiếm 5,3%, khu vựcmiền núi phía bắc là 2,7%, các tỉnh miền đông nam bộ là 2,4%, các tỉnh bắctrung bộ là 2,4%, khu vực đồng bằng sông cửu long là 2,8%, khu vực tây nguyên0,5%, khu vực duyên hải miền trung 0,6%. Các tỉnh có tỷ lệ nhiễm HIV trong nhómphụ nữ bán dâm cao là thành phố Hà Nội (22.5%), Cần Thơ (12%) và Lạng Sơn(6,47%).

Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ bán dâm tăng cao khicó sự đan xen các yếu tố hành vi nguy cơ cao, kết quả nghiên cứu đã cho thấy,tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ bán dâm có tiêm chích ma túy là 33,3%,cao gấp hơn 10 lần so với nhóm không tiêm chích.

Phân tích chiều hướng nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ bán dâmqua các năm cho thấy, mặc dù tỷ lệ hiện nhiễm HIV đã giảm trong vòng 2 năm trởlại đây, tuy nhiên chiều hướng nhiễm HIV trong nhóm này vẫn còn nhiều biến độngvà chưa ổn định.

c) Nhóm nam quan hệ tình dục đồnggiới nam (MSM)

Năm 2011, nhóm quan hệ tình dục đồng giới nam chính thứcđược đưa vào là một trong những nhóm giám sát trọng điểm HIV hàng năm và đượctriển khai tại 9 tỉnh/thành phố tập trung nhiều MSM đang cư trú trên địa bànbao gồm: Hà Nội, Hải Dương, Đà Nẵng, Khánh Hòa, TP. Hồ Chí Minh, An Giang, CầnThơ, Sóc Trăng và Kiên Giang.

Kết quả giám sát trọng điểm năm 2012 cho thấy, tỷ lệ hiệnnhiễm HIV trong nhóm MSM là 2,3%. Tỷ lệ này cao nhất ở TP. Hồ Chí Minh (7,3%),tiếp đến là Hà Nội (6,5%), Sóc Trăng (2%). So sánh với kết quả giám sát trọngđiểm năm 2011, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm này có giảm xuống. Tuy nhiên, đểđánh giá chiều hướng nhiễm HIV trong nhóm này cần được tiếp tục theo dõi quacác năm tiếp theo.

Báo cáo 53/BC-BYT năm 2013 về công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2012 và trọng tâm kế hoạch năm 2013 do Bộ Y tế ban hành

Biểu đồ 10. Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm MSMqua các năm

Tình hình nhiễm HIV trong nhóm nghiên chích và phụ nữ bándâm ở các tỉnh không triển khai giam sát trọng điểm

Báo cáo 53/BC-BYT năm 2013 về công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2012 và trọng tâm kế hoạch năm 2013 do Bộ Y tế ban hành

Biểu đồ 11. Tỷ lệ hiện nhiễm HIVtrong nhóm nghiện chích ma túy 10 tỉnh điều tra năm 2012 (Nguồn: Quỹ Toàn cầu)

Báo cáo 53/BC-BYT năm 2013 về công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2012 và trọng tâm kế hoạch năm 2013 do Bộ Y tế ban hành

Biểu đồ 12. Tỷ lệ hiện nhiễm HIVtrong nhóm phụ nữ bán dâm 10 tỉnh điều tra giám sát hành vi và các chỉ số sinhhọc năm 2012 (Nguồn: Quỹ Toàn cầu)

Trong năm 2012, nghiên cứu điều tra trong nhóm nghiện chíchma túy và phụ nữ bán dâm ở 10 tỉnh mới dự án Quỹ toàn cầu, trong đó những tỉnhHà Nam, Ninh Bình, Hưng Yên, Vĩnh Phúc không thuộc tỉnh giám sát trọng điểm,hơn nữa những tỉnh này giai đoạn trước đây được đánh giá tình hình nhiễm HIVtrong các nhóm nghiện chích ma túy thấp và hầu như không được đầu tư nhiều cáchoạt động can thiệp, tuy nhiên kết quả nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ nhiễm HIVtrong nhóm nghiện chích ma túy ở những tỉnh này cao hơn mức bình quân cả nước(13,4%), tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ bán dâm ở tỉnh Hà Nam và Vĩnh Phúc ởmức rất cao so với tỷ lệ bình quân cả nước (3%). Cảnh báo nguy cơ lây nhiễm HIVtrong nhóm nghiện chích ma túy và phụ nữ bán dâm ở những tỉnh Hà Nam, Vĩnh Phúcở mức cao cần được quan tâm triển khai ngay các biện pháp can thiệp để ngănchặn dịch bùng phát.

NHẬN XÉT CHUNG VỀ TÌNH HÌNH DỊCH HIV/AIDS

1. Theo số liệu báo cáo dịch HIV/AIDS trong 11 tháng năm2012, tình hình dịch HIV tiếp tục giảm so với cùng kỳ năm 2011. Hình thái dịchHIV lây truyền qua đường tình dục đã và đang tăng cao hơn lây truyền qua đườngmáu. Bên cạnh đó tỷ lệ người nhiễm HIV mới phát hiện trong nhóm tuổi 30-39 ngàycàng chiếm tỷ trọng cao. Cảnh báo nguy cơ làm lây truyền HIV do lây truyền quađường tình dục sẽ là nguyên nhân chính làm lây truyền HIV ở Việt Nam trongnhững năm tiếp theo và khả năng khống chế lây nhiễm HIV qua đường tình dục sẽkhó khăn hơn nhiều lần so với khống chế lây truyền qua đường máu trong nhómtiêm chích ma túy. Cần đẩy mạnh các biện pháp can thiệp dự phòng lây truyền HIVqua đường tình dục, đặc biệt là giải pháp dự phòng lây truyền HIV từ nhóm nguycơ cao sang nhóm nguy cơ thấp.

2. Những tỉnh dịch HIV/AIDS mới nổi đáng lưu ý là BìnhDương, Vĩnh Phúc, Hà Nam là những tỉnh trước đây chưa được đầu tư nhiều choviệc triển khai các biện pháp can thiệp giảm tác hại. Hơn nữa những tỉnh này làtỉnh tiếp giáp với các thành phố lớn như thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh.

3. Cảnh báo nguy cơ dịch HIV tiếp tục gia tăng ở các tỉnhmiền núi phía Bắc như Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái và các huyện miền núicủa tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa. Hai thành phố lớn Hà Nội và Hồ Chí Minh diễn biếndịch phức tạp, khó kiểm soát.

II. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG PHÒNG, CHỐNGHIV/AIDS

1. Kết quả triển khai xây dựng cácvăn bản trong năm 2012

Trong năm 2012, Bộ Y tế trình Chính phủ ban hành 01 Chiếnlược, 01 Chỉ thị và 01 Nghị định và 01 Quyết định, ngoài ra Bộ Y tế phối hợpcác đơn vị liên quan xây dựng và ban hành 03 thông tư, 6 quyết định quy định,hướng dẫn chuyên môn về công tác phòng, chống HIV/AIDS. Cụ thể như sau:

+ Nghị định số 96/2012/NĐ-CP ngày 15/11/2012 của Chính phủquy định điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế

+ Quyết định số 608/QĐ-TTg ngày 25/5/2012 của Thủ tướngChính phủ về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020và tầm nhìn 2030.

+ Quyết định số 1202/QĐ-TTg ngày 31/8/2012 của Thủ tướngChính phủ về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống HIV/AIDSgiai đoạn 2012 - 2015.

+ Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 22/5/2012 của Thủ tướng Chínhphủ về việc tăng cường công tác phòng, chống HIV/AIDS.

- Ngoài các Đề án trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Cụcđã làm đầu mối, xây dựng trình cấp có thầm quyền phê duyệt các văn bản quy phạmpháp luật, các hướng dẫn chuyên môn kỹ thuật quan trọng sau:

+ Thông tư liên tịch số 163/2012/TTLT-BTC-BYT ngày08/10/2012 của liên Bộ: Tài chính - Y tế về việc quy định quản lý và sử dụngkinh phí thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống HIV/AIDS giaiđoạn 2012-2015.

+ Thông tư 09/2012/TT-BYT ngày 24/5/2012 của Bộ Y tế về việchướng dẫn giám sát dịch tễ học HIV/AIDS và giám sát các nhiễm trùng lây truyềnqua đường tình dục.

+ Thông tư 06/2012/TT-BYT ngày 20/4/2012 của Bộ Y tế về việcquy định về điều kiện thành lập và nội dung hoạt động đối với tổ chức tư vấn vềphòng, chống HIV/AIDS.

+ Quyết định số 4548/QĐ-UBQG50 ngày 20/11/2012 của Chủ tịchỦy ban quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm vềviệc phê duyệt 04 Đề án thực hiện Chiến lược quốc gia phòng, chóng HIV/AIDs đếnnăm 2020 và tầm nhìn 2030.

+ Quyết định số 3281/QĐ - BYT ngày 11/9/2012 của Bộ trưởngBộ Y tế về việc ban hành “Bảng kiểm tra trung tâm phòng, chống HIV/AIDS”.

+ Quyết định số 2495/QĐ - BYT ngày 18/7/2012 của Bộ trưởngBộ Y tế về việc ban hành hướng dẫn phát hiện tích cực bệnh lao và điều trị dự phòngmắc lao bằng Isoniazid (INH) ở người nhiễm HIV.

+ Quyết định số 2496/QĐ - BYT ngày 18/7/2012 của Bộ trưởngBộ Y tế về việc ban hành Quy chế phối hợp giữa Chương trình mục tiêu quốc gia Phòng,chống HIV/AIDS và Dự án phòng, chống bệnh Lao thuộc Chương trình mục tiêu quốcgia Y tế.

+ Quyết định số 2497/QĐ - BYT ngày 18/7/2012 của Bộ trưởngBộ y tế về việc phê duyệt khung kế hoạch phối hợp giữa Chương trình mục tiêuQuốc gia Phòng, chống HIV/AIDS và Dự án Phòng, chống bệnh Lao thuộc Chươngtrình mục tiêu quốc gia Y tế, giai đoạn 2012 - 2015.

+ Quyết định số 4994/QĐ-BYT ngày 14/12/2012 của Bộ trưởng BộY tế về việc Hướng dẫn triển khai phòng, chống HIV/AIDS tuyến xã phường.

Ngoài ra Bộ Y tế cũng đã tiến hành rà soát, sửa đổi, bổ sungvà xây dựng mới trên 10 văn bản quy phạm pháp luật và hướng dẫn chuyên môn đangđược hoàn thiện và trình ban hành vào quý I/2013. Bên cạnh xây dựng các văn bảnquy phạm pháp luật, Bộ Y tế đã xây dựng các hướng dẫn chuyên môn để hướng dẫn triểnkhai trong cả nước như hướng dẫn xây dựng kế hoạch hàng động của tỉnh thực hiệnChiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS, ước tính và dự báo nhiễm HIV/AIDSgiai đoạn 2012-2015, hướng dẫn lập bản đồ các tụ điểm ma túy, mại dâm, hướngdẫn xã phường triển khai công tác phòng, chống HIV/AIDS; Kế hoạch lien tịchgiữa Trung ương mặt trận tổ quốc Việt Nam, Bộ Y tế, Bộ Văn hóa thể thao và du lịchvề triển khai phong trào toàn dân phòng chống HIV/AIDS ở cộng đồng dân cư; Quychế phối hợp giữa Bộ Y tế và Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng trong việc triển khaihoạt động phòng, chống HIV/AIDS ở khu vực biên giới giai đoạn 2012 -2015 vànhững năm tiếp theo.

2. Công tác chỉ đạo

Năm 2012, công tác chỉ đạo phòng, chống HIV/AIDS tiếp tụcđược đẩy mạnh trên quy mô rộng hơn, Bộ Y tế tổ chức 3 sự kiện lớn cấp quốc giabao gồm tháng hành động dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con; tháng chiến dịchtruyền thông về công tác phòng, chống HIV/AIDS hưởng ứng ngày quốc tế phòng,chống HIV/AIDS 1/12 hằng năm; lễ phát động chương trình 100% sử dụng bao caosu. Ngoài ra tổ chức hội nghị lớn do Phó Thủ tướng chủ trì bao gồm tổng kết thíđiểm chương trình điều nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone, hội nghịtổng kết phong trào “Toàn dân tham gia công tác phòng, chống HIV/AIDS”, phổ biếnChiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030, phổbiến Nghị định 96/2012/NĐ-CP ngày 15/11/2012 của Chính phủ quy định điều trịnghiện các chất thuốc phiện bằng các chất thay thế. Bộ Y tế đã tổ chức hai hộinghị quan trọng theo sự chỉ đạo Phó Thủ tướng bao gồm Hội nghị phòng, chống HIV/AIDScho các tỉnh thuộc Ban chỉ đạo Tây Bắc, Hội nghị phòng, chống HIV/AIDS cho cáctỉnh Tây Nam bộ. Bên cạnh tổ chức các hội nghị lớn, định kỳ tổ chức giao ban vềcông tác phòng, chống HIV/AIDS với các tỉnh thành phố, tổ chức các hội thảokhoa học chuyên môn với các chuyên gia quốc tế và chuyên gia trong nước, triển khaicác khóa tập huấn hướng dẫn chuyên môn kỹ thuật cho các tuyến.

Công tác kiểm tra giám sát, Bộ Y tế tổ chức đoàn kiểm traliên ngành do lãnh đạo Bộ Y tế chủ trì và tham gia các đoàn công tác liên ngànhdo các bộ, ngành liên quan khác chủ trì đi kiểm tra hơn 15 tỉnh, thành trong cảnước.

Công tác triển khai xây dựng kế hoạch thực hiện Chiến lược Quốcgia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030: cho đến nay đã có 18tỉnh báo cáo cho Bộ Y tế hoàn thành xây dựng kế hoạch hành động của tỉnh thực hiệnChiến lược Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030.

Thực hiện tuyên bố cam kết của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam tại phiên họp đặc biệt của Đại hội đồng Liên hợp quốc vềHIV/AIDS (UNGASS) tháng 06 năm 2001, năm 2011 Việt Nam tiếp tục thực hiện camkết này qua việc đánh giá và chuẩn bị báo cáo lần thứ 5 giai đoạn 2010 – 2011.Trong thời gian 4 tháng chuẩn bị cho báo cáo từ tháng 12/2011, nhóm chuyên giavà tổ thư ký đã hoàn thành bản báo cáo lần thứ 5 gửi Liên hợp quốc vào ngày31/3/2012. Cũng trong khoảng thời gian này, Bộ Y tế phối hợp với Tổ chức Y tếthế giới tại Việt Nam (WHO) thực hiện thu thập các chỉ số báo cáo “Tiếp cận phổcập năm 2011” gửi WHO vào ngày 31/3/2012.

3. Công tác phối hợp liên ngành

a) Bộ Xây dựng

- Thiết kế, gia công và lắp đặt 03 pano tuyên truyền vềphòng, chống HIV/AIDS tại Công trình thuỷ điện Lai Châu. Tổ chức 04 lớp tậphuấn nâng cao kỹ năng về phòng, chống HIV/AIDS cho 400 công nhân đang thi côngtại Công trình thuỷ điện Lai Châu. Tổ chức lớp 01 lớp tập huấn nâng cao nănglực triển khai công tác PC HIV/AIDS tại nơi làm việc ngành Xây dựng.

- Mua và cấp phát miễn phí 10.000 bao cao su cho công nhânlàm việc tại Công trình thủy điện Lai châu, Sơn La.

- Tư vấn xét nghiệm tự nguyện HIV cho 9.369 trường hợp,trong đó phát hiện ra 10 trường hợp HIV dương tính thuộc đối tượng bệnh nhânđến khám, điều trị tại bệnh viện và công nhân đi lao động hợp tác nước ngoàithông qua các đơn vị tuyển dụng của ngành Xây dựng.

b) Bộ Giáo dục và Đào tạo

- Ban hành các văn bản chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện côngtác phòng, chống HIV/AIDS trong ngành giáo dục 2020.

- Tổ chức các cuộc họp triển khai, xây dựng nội dung truyềnthông về công tác HIV/AIDS cho bậc học mầm non, tiểu học, trung học cơ sở,trung học phổ thông.

- Bộ đã cung cấp hàng nghìn cuốn sách sự thật về HIV/AIDS vàtrẻ em, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản chỉ đạo và hướng dẫnvề công tác y tế trường học nói chung, công tác phòng, chống HIV/AIDS nói riêngcho các trường học, đội ngũ cán bộ làm công tác y tế tại các trường học.

- Tổ chức tập huấn để nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ về phòng,chống HIV/AIDS cho đội ngũ cán bộ làm công tác phòng, chống HIV/AIDS thuộc 63sở Giáo dục và Đào tạo tại Hà Nam và Quảng Trị;

- Tổ chức kiểm tra, giám sát liên ngành về công tác phòng, chốngHIV/AIDS, giảm kỳ thị và phân biệt đối xử với trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDStrong trường học tại các tỉnh, thành phố: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Thừa Thiên -Huế, Đà Nẵng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu.

c) Bộ Thông tin - Truyền thông

Chỉ đạo các cơ quan báo chí thực hiện việc tuyên truyềnphòng, chống HIV/AIDS trên báo chí. Tổ chức các hoạt động tuyên truyền phòngchống HIV/AIDS qua nhiều hình thức như đăng tải, tuyên truyền tin bài về phòngchống HIV/AIDS.

d) Bộ Tư pháp

Tuyên truyền trên báo, tạp chí chuyên đề pháp luật về phòng,chống HIV/AIDS.

Tổ chức toạ đàm chuyên đề phổ biến tuyên truyền pháp luật vềphòng, chống HIV/AIDS.

Nghiên cứu, đánh giá tính thống nhất đồng bộ, tính hợp phápgiữa các quy định về phòng, chống HIV/AIDS và ma túy mại dâm trong các văn bảnliên quan.

Nghiên cứu đề xuất và thảo luận các nội dung liên quan đến phòng,chống HIV/AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy mại dâm trong Luật Xử lý vi phạm hànhchính.

đ) Bộ Giao thông Vận tải

- Ban hành Chỉ thị số: 06/CT-BGTVT về tăng cường công tác phòng,chống HIV/AIDS trong ngành GTVT với các nội dung thiết thực và phù hợp vớingành GTVT.

- Chỉ đạo các đơn vị trong ngành tiếp tục kiện toàn Ban chỉ đạophòng, chống HIV/AIDS, phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm; tại nhiều đơn vị đãtổ chức lễ ký kết trong phòng, chống HIV/AIDS, phòng chống tệ nạn ma túy, mạidâm giữa lãnh đạo đơn vị, công đoàn, đoàn thanh niên và người lao động.

- Các đơn vị y tế GTVT đã thực hiện tổng số xét nghiệm HIV:72.669 mẫu.

- Tiếp tục tổ chức thực hiện các dự án chăm sóc sức khỏe và phòng,chống HIV/AIDS cho công nhân xây dựng tại các Dự án xây dựng Cảng quốc tế CáiMép - Thị Vải (Bà Rịa - Vũng Tàu), xây dựng cầu Nhật Tân, xây dựng đường Quốclộ 3 mới đoạn Hà Nội-Thái Nguyên: Tổ chức 11 lớp tập huấn (660 người), 3 buổitọa đàm (450 người) và nhiều buổi sinh hoạt phòng, chống HIV/AIDS cho trên1.000 công nhân. Cung cấp 180.000 bao cao su, tư vấn xét nghiệm HIV/AIDS cho2.000 công nhân.

e) Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch

Kiện toàn BCĐ phòng, chống AIDS và phòng, chống ma túy, mại dâmdo Thứ trưởng Huỳnh Vĩnh Ái trực tiếp phụ trách.

- Tổ chức Hội thỏa đánh giá thực hiện kế hoạch chương trìnhBao cao su dự phòng lây nhiễm HIV và các bênh lây truyền qua đường tình dục tạicác cơ sở dịch vụ lưu trú du lịch giai đoạn 2010-2012,

- Phối hợp với Bộ Y tế, Bộ Công An, Bộ Lao động Thương binhvà xã hội xây dựng Thông tư liên tịch hướng dẫn việc cung cấp bao cao su tại cơsở kinh doanh dịch vụ giải trí và lưu trú.

- Tổ chức phát động và trao giải cuộc thi sáng tác kịch bản vềphòng, chống HIV/AIDS.

g) Bộ Kế hoạch - Đầu tư

- Ban hành các văn bản chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện côngtác phòng, chống HIV/AIDS trong ngành

- Tổ chức 01 hội thảo về hướng dẫn triển khai thực hiệnphòng chống HIV/AIDS tại nơi làm việc cho cán bộ, công chức, viên chức trong cơquan Bộ tại Hà Nội.

- Tổ chức 01 hội thảo về hướng dẫn thực hiện phòng chốngHIV/AIDS tại nơi làm việc cho cán bộ, công chức trong cơ quan đại diện tại ĐàNẵng.

h) Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nôngthôn

- Chỉ đạo các đơn vị trong ngành triển khai công tác thôngtin, tuyên truyền để mọi cán bộ, nâng cao nhận thức và hiểu biết về HIV/AIDS,thay đổi hành vi phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS đồng thời tạo nên dư luận phảnđối nạn mua bán dâm, tiêm chích ma túy.

- Mở chuyên mục phòng chống HIV/AIDS trên báo Nông nghiệp

- Mít tinh nhân ngày thế giới phòng chống HIV(1/12/2012) tạiTrường Đại học Lâm nghiệp

k) Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao

- Kiện toàn hệ thống Ban chỉ đạo phòng, chống HIV/AIDS Viện Kiểmsát nhân dân các cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

- Ban hành các văn bản hướng dẫn phòng, chống phơi nhiễmHIV/AIDS do rủi ro nghề nghiệp, các văn bản hướng dẫn tổ chức mít tinh tại ViệnKiểm sát nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nhân ngày Thế giới phòngchống HIV/AIDS (1/12/2012).

- Tổ chức 06 cuộc họp ban chỉ đạo phòng chống AIDS, phòngchống tệ nạn ma túy, mại dâm của Viện kiểm sát nhân dân.

- Thực hiện các cuộc kiểm tra, giám sát về phòng chốngHIV/AIDS tại Viện kiểm sát tại Hồ Chí Minh, Đồng Tháp, An Giang và tại ViệnKiểm sát nhân dân Đà Nẵng, Quảng Nam.

k) Bộ Công An

- Ban Chỉ đạo đã hướng dẫn, chỉ đạo các đơn vị trong toànlực lượng Công an triển khai các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS trong năm2012; thực hiện các văn bản pháp quy về công tác phòng, chống HIV/AIDS của Bộ Ytế.

- Ban chỉ đạo phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn matúy, mại dâm Bộ Công an đã có công văn hướng dẫn Công an các đơn vị, địa phươnghưởng ứng “Tháng Chiến dịch truyền thông dự phòng lây nhiễm HIV từ mẹ sangcon”, hưởng ứng “Tháng hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS” .Công an cácđơn vị, địa phương đã có kế hoạch tham gia bảo vệ, mít tinh, diễu hành hưởngứng tháng hành động phòng, chống HIV/AIDS do địa phương nơi đóng quân tổ chức,đồng thời triển khai nhiều hoạt động tại đơn vị như treo hàng nghìn khẩu hiệu,băng rôn tuyên truyền về tháng chiến dịch, phát tài liệu, tờ rơi, tổ chức nóichuyện chuyên đề cho gần 10.500 lượt cán bộ, chiến sĩ Công an và gần 7.200 lượtphạm nhân.

- Xây dựng 02 hướng dẫn chuyên môn về truyền thông thay đổihành vi và tư vấn HIV trong trại giam, trại tạm giam.

- Tổ chức 125 cuộc truyền thông trực tiếp cho 38.000 phạmnhân, trại viên, học sinh trong các trại giam, trại tạm giam, cơ sở giáo dục,trường giáo dưỡng do Bộ Công an quản lý về các kiến thức cơ bản về HIV/AIDS,các biện pháp dự phòng lây nhiễm. Tổ chức 50 cuộc truyền thông trực tiếp chocác nhóm trực tiếp giáo dục hỗ trợ chăm sóc HIV tại 10 trại giam cho 7.500 phạmnhân.

- Thực hiện công tác thông tin - giáo dục - truyền thông về phòng,chống HIV/AIDS trên các phương tiện thông tin đại chúng của ngành Công an, cụthể:

+ Trên Truyền hình Vì An ninh Tổ quốc: Xây dựng 01 phim tài liệuvề “Lực lượng Công an nhân dân với công tác phòng, chống HIV/AIDS”, phát 20tin, bài.

+ Trên Báo Công an nhân dân: đăng 6 chuyên đề, 30 tin, bàiviết.

+ Trên Phát thanh Vì An ninh Tổ quốc: phát 02 chuyên đề, 30tin.

- In 7.049 cuốn tài liệu "Thông tin cơ bản về HIV/AIDS vàcác biện pháp dự phòng lây nhiễm", 1.800 cuốn "Một số văn bản quyphạm pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS" cấp cho Công an các tỉnh/thànhphố, trại giam, trại tạm giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng. In và cấp chocác trại giam 36.160 tờ rơi truyền thông phòng, chống HIV/AIDS.

- Tổ chức 60 lớp tập huấn cho 3.361 cán bộ chiến sỹ Công antuyến tỉnh, tuyến huyện là lực lượng cảnh sát phòng, chống ma túy, cảnh sáthình sự, cảnh sát điều tra, cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, cảnhsát trại giam, nhà tạm giữ, cán bộ quản giáo, cán bộ giáo dục, cán bộ y tế vềChương trình can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV (Nguồn Quỹ Toàn Cầu,dự án HAARP, Chương trình MTQGPC HIV/AIDS, UNAIDS hỗ trợ).

- Tổ chức tư vấn, xét nghiệm HIV cho phạm nhân tại 10 trạigiam với số phạm nhân được tư vấn và xét nghiệm HIV đầy đủ là 5.200 người.

- Thiết lập dịch vụ dự phòng, chăm sóc, điều trị và hỗ trợHIV/AIDS, cung cấp trang thiết bị y tế, vật tư cho 5 trại giam để điều trị ARVcho phạm nhân. Điều trị ARV cho phạm nhân AIDS, điều trị nhiễm trùng cơ hội và cácnhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục cho phạm nhân bị mắc bệnh tại 10 trạigiam. Số phạm nhân AIDS được điều trị ARV là 210 bệnh nhân, số phạm nhân đượcđiều trị STIs là 900 bệnh nhân.

m) Bộ Quốc Phòng

- Triển khai “Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đếnnăm 2020 và tầm nhìn 2030” theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, giúp Thủtrưởng Bộ Quốc phòng xây dựng và ban hành “Chương trình hành động phòng, chốngHIV/AIDS trong Quân đội đến năm 2020 và tầm nhìn 2030”

- Xây dựng kế hoạch chỉ đạo các đơn vị tổ chức sàng lọc HIVvà ma túy cho thanh niên trúng tuyển nghĩa vụ quân sự và học viên trúng tuyểncác nhà trường quân đội năm 2012, triển khai giám sát dịch tễ học HIV/AIDS năm2012.

- Thành lập 6 đoàn công tác (mỗi đợt 3 đoàn) của Cục Quân ykiểm tra công tác phúc tra sức khoẻ tân binh và giám sát HIV, ma túy tại một sốđơn vị.

- Chỉ đạo, hướng dẫn 5 đơn vị triển khai xây dựng điểm về phòngchống HIV/AIDS.

- Tiếp tục phối hợp với quân y Hoa Kỳ về triển khai các hoạtđộng phòng, chống HIV/AIDS trong khuôn khổ Chương trình PEPFAR.

- Quân y các cấp phối hợp với các cơ quan trong và ngoàiquân đội tổ chức tuyên truyền phổ biến kiến thức về tình hình lây nhiễm và cáchphòng tránh HIV/AIDS, chống kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDStrên các phương tiện thông tin đại chúng: viết 65 tin, bài đăng báo và các tạpchí chuyên ngành; thông báo nội bộ 329 buổi cho hơn 20.000 lượt người. In ấn vàcấp phát tài liệu truyền thông về phòng chống HIV/AIDS: 213 băng hình, 3200 poster,9.000 sách và tạp chí, tổ chức tuyên truyền phòng chống HIV/AIDS trên cácphương tiện thông tin đại chúng (truyền thanh nội bộ, chiếu video, phát băng hình,phát tài liệu...) tại 05 đơn vị điểm về phòng chống HIV/AIDS.

- Quân y đơn vị tổ chức triển khai chương trình giáo dụcphòng chống HIV/AIDS cho chiến sĩ mới nhập ngũ năm 2012 theo kế hoạch, phối hợpchặt chẽ với cơ sở y tế nơi đóng quân tổ chức các hoạt động truyền thông thiếtthực và hiệu quả. Nhân Tháng hành động quốc gia phòng chống HIV/AIDS (từ10/11-10/12) và ngày Thế giới phòng chống AIDS, các đơn vị đã tổ chức 47 cuộcmít tinh, giao lưu văn hoá văn nghệ, thi tìm hiểu về HIV/AIDS… hơn 15.000 ngườitham dự.

- Tổ chức giám sát HIV, ma túy cho thanh niên nhập ngũ vàtuyển sinh quân sự năm 2012, giám sát dịch tễ học đảm bảo tốt về thời gian vàchất lượng.

- Các bệnh viện triển khai giám sát HIV bảo đảm an toàn truyềnmáu và phẫu thuật: thu thập và sàng lọc HIV hơn 22.000 đơn vị máu, làm hơn53.000 xét nghiệm liên quan đến HIV.

- Tư vấn và xét nghiệm HIV cho 25.133 đối tượng (bộ đội vàdân), phát hiện 225 ca nhiễm HIV (dân)

- Kiểm tra duy trì và thực hiện các chế độ vệ sinh bệnhviện, quy trình vô trùng, khử trùng trong phẫu thuật, châm cứu, tiêm truyền…tại các cơ sở điều trị, khuyến khích và nâng cao sử dụng bơm kim tiêm một lầnđể tránh lây nhiễm HIV.

n) Ủy Ban Dân tộc

- Chỉ đạo triển khai Kế hoạch, hướng dẫn, đôn đốc kiểm tracác đơn vị và phối hợp với các bộ, ngành, địa phương thực hiện công tác tuyêntruyền phòng, chống ma túy, chống trồng cây chứa chất ma túy.

- Tuyên truyền, cập nhật thông tin trên trang tin điện tửcủa Ủy ban với gần hơn 500 trang tin, bài, ảnh về phòng chống ma túy, HIV/AIDSở vùng dân tộc thiểu số.

- Tổ chức 06 cuộc hội thảo, tập huấn: với hơn 600 người thamgia.

- Phối hợp với Bộ Tư Lệnh Bộ đội Biên phòng, tổ chức hộithảo công tác "Tuyên truyền phòng, chống ma túy, gắn với phát triển kinhtế, xã hội bảo vệ an ninh biên giới" cho cán bộ biên phòng, cán bộ côngtác dân tộc của các tỉnh khu vực bắc miền Trung (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh,Quảng Bình, Quảng trị); trưởng thôn, bản, người có uy tín của một số huyện, xãcủa tỉnh Thanh Hóa, với hơn 100 người tham gia (Ban Chỉ đạo).

- Ban Chỉ đạo đã tổ chức Đoàn kiểm tra, giám sát công tácphòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm tại 04 tỉnh Quảng Nam,Quảng Ngãi, Hậu Giang và Kiên Giang, lồng ghép các đợt công tác triển khai thựchiện các hoạt động theo kế hoạch của Ủy ban Dân tộc với nắm tình hình công tácphòng, chống ma túy, xoá bỏ cây có chứa chất ma túy tại một số địa phương vùngdân tộc.

o) Các tổ chức chính trị, xã hội vàcác cơ quan khác

Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam

- Phối hợp với Bộ Y tế, Bộ Văn hóa –Thể thao và Du lịch tổchức Hội nghị tổng kết thực hiện Phong trào toàn dân tham gia phòng, chốngHIV/AIDS tại cộng đồng dân cư giai đoạn 2008-2012, Xây dựng và triển khai Chươngtrình phối hợp thực hiện phong trào này đến năm 2020

- Thực hiện Dự án Sáng kiến lãnh đạo phật giáo tham gia phòng,chống HIV/AIDS, tư vấn và chăm sóc cho những người nhiễm, ảnh hưởng bởi HIV/AIDStại cộng đồng.

- Tổ chức tuyên truyền trên hệ thống thông tin của Mặt trận như:Báo Đại đoàn kết, Website Mặt trận, Thông tin Công tác Mặt trận, Tạp chí Mặt trậnđược chuyển tải đến các xã, phường, khu dân cư trong cả nước.

- Chỉ đạo các địa phương phối hợp với ngành Y tế triển khai ThángHành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS năm 2012.

- Tiếp túc duy trì và xây dựng 02 điểm chỉ đạo về phòng,chống HIV/AIDS tại Hải Phòng và Phú Yên.

Tổng liên đoàn lao động Việt Nam

- Đã có hàng trăm tin, bài, ảnh phản ánh hoạt động của cáccấp Công đoàn về công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong CNLĐkhu vực kinh tế ngoài Nhà nước trên báo Pháp luật, báo Người lao động, Laođộng, Lao động Thủ đô và nhiều tạp chí, WEB SITE của các LĐLĐ tỉnh. Với phươngchâm hướng mạnh về cơ sở, phần lớn các tin, bài phản ánh hoạt động của các địaphương có đông công nhân lao động như Liên đoàn Lao động các tỉnh: Hải Dương, HưngYên, Phú Thọ, Quảng Trị, Đồng Nai, Hải Phòng, Hà Nội, Bình Dương, Đà Nẵng, LongAn, TP Hồ Chí Minh...

- Tổng Liên đoàn đã tổ chức hội thảo chuyên đề về xây dựngmô hình Tổ tự quản trong CNLĐ, sơ kết đánh giá bước đầu và hướng dẫn các cấpCông đoàn xây dựng tổ Tự quản trong CNLĐ. Điển hình của hoạt động này là cácLĐLĐ tỉnh Bình Dương, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh. Đây là mô hình truyềnthông hiệu quả nhằm giúp người lao động hiểu biết về chính sách, pháp luật,được cung cấp thêm những kiến thức về kỹ năng sống để làm việc và phòng chốngtội phạm, ma túy và các tệ nạn xã hội khác. Nhân dịp “Tháng công nhân”, nhiềuđịa phương, ngành đã khai trương điểm sinh hoạt Văn hoá công nhân, gặp gỡ giaolưu đối thoại và thăm hỏi CNLĐ có hoàn cảnh khó khăn, động viên họ yên tâm laođộng sản xuất.

Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh

- Kiện toàn Ban chỉ đạo phòng chống HIV/AIDS và phòng chốngtệ nạn ma túy, mại dâm của Đoàn thanh niên, do đồng chí Bí thư Trung ương Đoàntrực tiếp phụ trách và các đồng chí lãnh đạo các Ban, đơn vị của Trung ươngĐoàn tham gia thành viên Ban chỉ đạo.

- Ban hành kế hoạch và hướng dẫn các tỉnh, thành Đoàn vàĐoàn trực thuộc bám sát tình hình thực tiễn tại cơ sở, chủ động xây dựng kếhoạch truyền thông phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm vớiphương châm đổi mới, cụ thể, hiệu quả và thiết thực.

- Ban hành công văn chỉ đạo tháng chiến dịch dự phòng lâytruyền HIV từ mẹ sang con năm 2012, tháng hành động quốc gia phòng chốngHIV/AIDS;

- Xây dựng kế hoạc hành động của Đoàn thanh niên thực hiệnChiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020, tầm nhìn 2030.

- Phối hợp với Tỉnh đoàn Bắc Giang tổ chức Lễ mít tinh hưởngứng Tháng Hành động quốc gia phòng chống HIV/AIDS và Ngày Thế giới phòng, chốngHIV/AIDS tại Bắc Giang thu hút gần 4000 người tham dự.

- Phối hợp với Bộ Y tế, Ủy ban ND TP Cần Thơi tổ chức Chươngtrình phát động 100% Bao cao su phòng lây nhiễm HIV.

- Các tỉnh, thành Đoàn đã cụ thể hóa các nội dung tuyên truyềnphòng chống HIV/AIDS trên bản tin thanh niên được phát hành thường kỳ, đây vừalà tài liệu để sinh hoạt vừa là tài liệu truyền thông hiệu quả trực tiếp tớitừng đoàn viên, góp phần nâng cao nhận thức cho đoàn viên, thanh niên về côngtác phòng chống HIV/AIDS.

- Bên cạnh đó các cấp bộ Đoàn đã lồng ghép với các hoạt độngnhư: Ra quân Tháng Thanh niên; Chiến dịch thanh niên, học sinh, sinh viên tìnhnguyện Hè; tổ chức hội trại tuyên truyền, các đội tuyên truyền xung kích; tổchức các diễn đàn tuyên truyền về tác hại của ma túy, phòng chống lây nhiễmHIV/AIDS.

- Phối hợp với Ban chỉ đạo phòng chống AIDS, phòng chống tệnnạn ma túy, mại dâm tỉnh Ninh Bình chỉ tổ chức mít tinh tháng hành động Quốc giaphòng chống HIV/AIDS tại Ninh Bình với sự tham gia của trên 2000 đoàn viênthanh niên và nhân dân.

- Năm 2012, Trung ương Đoàn đã tổ chức 02 khóa tập huấn chogần 500 cán bộ Đoàn cấp quận, huyện và cơ sở về công tác phòng chống HIV/AIDSvà phòng, chống tệ nạn xã hội trong thanh thiếu niên khu vực Đồng bằng sôngtiền, sông Hậu.

Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

- Ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn Hội phụ nữ cáctỉnh, thành phố triển khai các hoạt động thực hiện Chương trình mục tiêu Quốcgia phòng, chống HIV/AIDS giai đoạn 2012-2015 và Chiến lược Quốc gia phòngchống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030;

- Truyền thông trực tiếp các nội dung về phòng, chốngHIV/AIDS, chống kỳ thị và phân biệt đối xử thông qua các buổi sinh hoạt CLBĐồng cảm, tổ, nhóm phụ nữ tại 63 tỉnh/thành.

- Các cấp Hội phụ nữ tổ chức nhiều hoạt động hưởng ứng Thánghành động Quốc gia phòng chống HIV/AIDS và Ngày thế giới phòng chống AIDS năm2012. Kết quả có 63 cuộc truyền thông trực tiếp được tổ chức tại cộng đồng, thuhút khoảng 9,450 hội viên, phụ nữ và người dân cộng đồng tham dự và hưởng ứng;tổ chức 1.590 buổi tuyên truyền/nói chuyện chuyên đề phổ biến kiến thức về dựphòng lây nhiễm HIV/AIDS, Luật phòng chống HIV/AIDS và các chính sách liên quanđến HIV/AIDS.

- Tổ chức 273 buổi tuyên truyền lồng ghép tại các buổi sinhhoạt chi hội, thu hút 7.119 cán bộ, hội viên phụ nữ tham gia; Vận động 2.145đối tượng có nguy cơ cao đến các cơ sở y tê để tư vấn, xét nghiệm và kết nối đếncác dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS2; phối hợp với ban văn hoá thông tinxã/phường tuyên truyền 1.816 buổi phát thanh trên loa xã/phường; Tổ chức thămvà tặng quà 97 phụ nữ nhiễm HIV có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trị giá quà7.400.000 đ; 694 băng rôn tuyên truyền được treo tại các tuyến phố do Hội phụnữ tự quản;

- Tổ chức hội nghị định hướng và chia sẻ kinh nghiệm trongcông tác phòng chống HIV/AIDS cho lãnh đạo và cán bộ chuyên trách công tác gia đìnhvà xã hội của Hội LHPN 63 tỉnh/thành. Tại Hội nghị, Lãnh đạo TW Hội định hướngtriển khai Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn2030 và định hướng hoạt động trọng tâm năm 2012 cho Hội LHPN các tỉnh, thành.

- Phối hợp với Hội LHPN thành phố Hải Phòng, Hà Nam, TháiNguyên và Điện Biên tổ chức 04 lớp tập huấn cung cấp kiến thức và kỹ năngtruyền thông về dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con cho 150 cán bộ Hội cơsở, thành viên ban chủ nhiệm các câu lạc bộ phòng chống HIV/AIDS tại cộng đồng.

- Nhân rộng thêm 8 Câu lạc bộ Đồng cảm tại các tỉnh ĐiệnBiên, Hà Nam, Hải Phòng, Lạng Sơn và định hướng nội dung hoạt động cho gần 400 Câulạc bộ phòng chống HIV/AIDS tại 63 tỉnh, thành (duy trì lồng ghép cáccác mô hình hoạt động, các chương trình dự án của các cấp Hội)

- Tục duy trì Mô hình Mái ấm tình thân “Hỗ trợ phụ nữvà trẻ em nhiễm, bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS” thông qua các hoạt động tưvấn trực tiếp, tư vấn qua điện thoại, cung câp thông tin và kết nối người cóHIV đến các dịch vụ hỗ trợ y tế, xã hội và pháp lý tại Hà Nội và các tỉnh lâncận.

Hội Người Cao tuổi Việt Nam

- Tham mưu Trường trực chỉ đạo các cấp Hội thực hiện lồngghép công tác phòng, chống HIV/AIDS vào nội dung công tác Hội và các nội dungthi đua “Tuổi cao – Gương sáng”.

- Tổ chức 03 lớp tập huấn cho 270 cán bộ Hội tại tỉnh Nam Địnhvà tỉnh Hoà Bình, Hải phòng.

- Tuyên truyền phòng chống HIV/AIDS trên Báo người cao tuổi,tạp chí người cao tuổi.

Hội Cựu chiến binh Việt Nam

- Tổ chức 01 hội thảo giao giao lưu công tác phòng chống tộiphạm, phòng chống AIDS và phòng chống ma túy, mại dâm 6 tỉnh hội cựu chiến binhBắc miền Trung tại Quảng Bình.

- Tổ chức 01 hội nghị toàn quốc tổng kết công tác phòngchống tội phạm, phòng chống AIDS và phòng chống ma túy, mại dâm 5 năm (giaiđoạn 2007-2012) tại Hà Nội

Hội Nông dân Việt Nam

- Tổ chức 01 lớp đào tạo về phòng chống HIV/AIDS cho cán bộHội cơ sở tại Hà Nội.

- Tổ chức 01 lớp đào tạo về phòng chống HIV/AIDS cho cán bộHội cơ sở tại Hội An - Quảng Nam.

- 01 cuộc kiểm tra, giám sát được thực hiện nhằm hỗ trợ tỉnhHội trong việc triển khai, thực hiện các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS vàphối hợp liên ngành.

Hội chữ thập đỏ Việt Nam

- Phối hợp với Trung tâm Truyền hình Nhân đạo, báo Nhân đạovà đời sống, Tạp chí Nhân đạo, trang tin điện tử của Trung ương Hội đưa tin,bài và phát sóng tuyên truyền các hoạt động, mô hình truyền thông, tư vấn vàchăm sóc người nhiễm HIV tại cộng đồng do mạng lưới tình nguyện viên Chữ thậpđỏ nòng cốt thực hiện.

- Tổ chức tập huấn cập nhật kiến thức và chia sẻ mô hìnhphòng chống HIV/AIDS cho 140 cán bộ, lãnh đạo cơ quan Trung ương Hội.

- Thực hiện giám sát và hỗ trợ kỹ thuật triển khai các môhình tại 04 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Sơn La.

4. Kết quả triển khai hoạt độngchuyên môn về phòng, chống HIV/AIDS

4.1. Công tác thông tin, giáo dục,truyền thông thay đổi hành vi:

Trong năm 2012, hoạt động thông tin giáo dục truyền thôngtiếp tục được đẩy mạnh. Các Bộ, ngành, đoàn thể, Trung ương và các địa phươngđã triển khai tuyên truyền dưới nhiều hình thức phong phú, đa dạng, tăng cườngcông tác thông tin, tuyên truyền nâng cao nhận thức nhằm thay đổi hành vi, giảmnguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS, giảm tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS.

- Phát triển các tài liệu truyền thông phòng, chống HIV/AIDSđặc biệt là các tài liệu truyền thông phòng, chống HIV/AIDS cho người dân tộcvà khu vực biên giới.

- Phối hợp với UBND tỉnh Thanh Hóa tổ chức Lễ phát độngTháng Cao điểm Dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con năm 2012 với khoảng 3.500người tham dự.

- Phối hợp với Hội nhà báo Việt Nam tổ chức các đoàn nhà báođi thực địa tại các địa phương để đưa tin, viết bài trên các phương tiện thôngtin đại chúng. Tham gia đoàn công tác liên ngành đi kiểm tra, giám sát các hoạtđộng phòng, chống HIV/AIDS ở địa phương như Thanh Hóa, Sơn La, Hồ Chí Minh,Điện Biên, Ninh Bình…

- Hoạt động thông tin giáo dục truyền thông tại địa phươngcũng được tích cực triển khai thực hiện với kết quả tính đến 31/12/2012 nhưsau: hoạt động truyền thông trực tiếp về thay đổi hành vi nguy cơ lây nhiễmHIV/AIDS đã triển khai cho trên 15.000.000 lượt người. Hoạt động truyền thôngtiếp cận nhiều nhất cho nhóm nghiện chích ma túy với tổng số trên 3.642.000lượt người (chiếm tỷ lệ 24% lượt người được tiếp cận hoạt động truyền thông). Hoạtđộng truyền thông thay đổi hành vi cũng đã chú trọng tới nhóm người bán dâm,tiếp viên nhà hàng với số lượt tiếp cận trên 1.275.000 lượt. Số lượt ngườinhiễm HIV và người thân của họ tiếp cận dịch vụ truyền thông trực tiếp thay đổihành vi trong năm gần 700.000 lượt người chỉ chiếm 4,6% số lượt người đượctruyền thông trực tiếp thay đổi hành vi.

4.2. Công tác can thiệp giảm tác hạidự phòng lây nhiễm HIV

- Tính đến 31/12/2012 tổng số tuyên truyền viên đồng đẳng (TTVĐĐ)tham gia hoạt động can thiệp giảm hại là 5.700 người và 10.000 cộng tác viên(CTV). Trong tổng số TTVĐĐ tham gia tiếp cận tại cộng đồng, nhóm TTVĐĐ cho nhómnghiện chích ma túy chiếm tỷ lệ cao nhất 58,5%, nhóm bán dâm 36% và còn lại lànhóm nam quan hệ đồng giới nam.

- Hoạt động phân phát bao cao su miễn phí đã bao phủ trêntoàn quốc từ cuối năm 2011. Tuy nhiên với chương trình phân phát bơm kim tiêmtính đến hết tháng 12/2012 vẫn còn 7 tỉnh/thành phố chưa triển khai (Bình Định,Phú Yên, Bình Thuận, Gia Lai, Kom Tum, Bình Phước và Bạc Liệu), như vậy độ baophủ của chương trình chỉ chiếm 88,9% tỉnh/thành phố trên cả nước. Chương trìnhphân phát, thu gom BKT trong năm 2012 đã tiếp cận được trên 5.700.000 lượtngười nghiện chích ma túy với số lượng BKT được phát miễn phí 41.800.000 Trongsố đó, số lượng BKT do tuyên truyền viên đồng đẳng phát chiếm 85% tổng số BKTphát ra.

- Song song với hoạt động phân phát là hoạt động thu gom vàtiêu hủy bơm kim tiêm. Trong năm 2012, cả nước đã thu gom và tiêu hủy được21.700.000 chiếc BKT đã qua sử dụng (chiếm 52% tổng số BKT phát ra). Hoạt độngthu gom BKT cũng chủ yếu thực hiện qua mạng lưới TTVĐĐ (chiếm 92% số thu gom). Mặcdù số lượng CTV ít nhưng mạng lưới này cũng tham gia nhiệt tình hoạt động phânphát và thu gom BKT (kết quả cho thấy có 8% số BKT phát ra và 4,5% số BKT đượcthu gom từ nhóm CTV).

- Hoạt động phân phát bao cao su miễn phí triển khai trên100% các tỉnh/thành phố. Toàn quốc đã phân phát được trên 24.000.000 chiếc bao caosu. Nhóm TTVĐĐ cũng tham gia tích cực hoạt động giảm hại này, kết quả cho thấycó đến 17.000.000 chiếc bao cao su do nhóm phân phát, chiếm 70% tổng số bao caosu phát ra. Nhóm CTV tham gia phân phát được 2.440.000 chiếc (chiếm 10% tổng sốphát ra). Song song với hoạt động phân phát miễn phí bao cao su, hoạt động tiếpthị xã hội bán bao cao su giá rẻ được triển khai rất hiệu quả, năm 2012 chươngtrình đã bán hơn 32 triệu bao cao su giá rẻ và thu về hơn 12 tỷ đồng để tiếptục mua bao cao su phục vụ chương trình.

- Tình hình triển khai điều trị Methadone: chương trình đượctriển khai tại 14 tỉnh, thành phố với 60 điểm điều trị gồm: TP. Hà Nội, HảiPhòng, Cần Thơ, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh, Hải Dương, Điện Biên, Nam Định, ThanhHóa, Thái Nguyên, Quảng Ninh, An Giang, Ninh Bình, Phú Thọ. Tổng số bệnh nhânđang điều trị: 12.253 bệnh nhân.
Báo cáo 53/BC-BYT năm 2013 về công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2012 và trọng tâm kế hoạch năm 2013 do Bộ Y tế ban hành

4.3. Công tác giám sát HIV/AIDS vàtư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện:

Trong năm 2012, có 40 tỉnh triển khai giám sát trọng điểmHIV (trong đó có 10 tỉnh thực hiện giám sát trọng điểm HIV và các nhiễm trùnglây truyền qua đường tình dục), 29 tỉnh thực hiện giám sát trọng điểm HIV lồngghép hành vi. Công tác giám sát phát hiện HIV đã và đang triển khai trên 63tỉnh/thành. Năm 2012, Bộ Y tế đã tổ chức triển khai sử dụng phần mềm HIV Info3.0 nhằm hỗ trợ quản lý người nhiễm và báo cáo trực tuyến.

Tiếp tục đẩy mạnh phát triển hệ thống thông tin phòng, chốngHIV/AIDS: công tác báo cáo hoạt động phòng, chống HIV/AIDS đã triển khai trựctuyến từ cấp tỉnh lên trung ương, hệ thống báo cáo trực tiếp đang tiếp tục mởrộng sang tuyến huyện, hiện có 30% số huyện đã tham gia báo cáo trực tuyến.

Công tác tư vấn xét nghiệm HIV: hiện nay đã có 485 phòng tưvấn xét nghiệm HIV (bao gồm phòng tư vấn xét nghiệm tự nguyện, phòng tư vấn xétnghiệm HIV đặt tại các cơ sở y tế do cán bộ y tế đề xuất) tại 63 tỉnh/thànhphố.

Quản lý phòng xét nghiệm: cho đến nay Bộ Y tế đã thẩm địnhvà cho phép 84 phòng xét nghiệm đủ điều kiện khẳng định các trường hợp HIV (+)tại 54 tỉnh, thành phố. Các tỉnh còn lại chưa có phòng xét nghiệm khẳng địnhHIV dương tính do điều kiện về cơ sở hạ tầng chưa đảm bảo và/hoặc mới thành lậpnên chưa có cán bộ đủ năng lực để thực hiện việc xét nghiệm khẳng định cáctrường hợp HIV dương tính.

Hoạt động xét nghiệm EID (phát hiện nhiễm HIV ở trẻ dưới 18tháng tuổi): cho đến nay đã có 52/63 tỉnh/thành phố thực hiện lấy mẫu chẩn đoánsớm nhiễm HIV ở trẻ em sinh ra tự mẹ nhiễm HIV hoặc nghi ngờ nhiễm HIV gửi vềViện Pasteur TP Hồ Chí Minh và Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương để thực hiện xétnghiệm này. Tổng số xét nghiệm được thực hiện tính hết tháng 9/2012 đạt khoảng1.600 xét nghiệm. Trong năm 2012, hoạt động xét nghiệm phát hiện nhiễm HIVchotrẻ dưới 18 tháng tuổi được triển khai tại các tỉnh/thành phố do Viện Pasteurthành phố Hồ Chí Minh và Viện vệ sinh dịch tễ Trung ương thực hiện. Cục Phòng,chống HIV/AIDS điều phối sinh phẩm xét nghiệm và bộ dụng cụ cho 2 đơn vị trênđể thực hiện xét nghiệm.

Hoạt động xét nghiệm CD4: tính tới 31/12/2012, cả nước có 45cơ sở thực hiện xét nghiệm đếm tế bào CD4 tại 27 tỉnh, thành phố phục vụ côngtác đìiều trị cho bệnh nhân HIV/AIDS. Trong đó có 38 cơ sở nhận được hỗ trợ sinhphẩm từ chương trình PEPFAR và Dự án Quỹ toàn cầu phòng, chống HIV/AIDS, 30 cơsở nhận được hỗ trợ hợp đồng bảo trì, bảo dưỡng máy xét nghiệm từ Chương trìnhPEPFAR, Dự án Quỹ toàn cầu phòng, chống HIV/AIDS và Dự án LIFE-GAP. Tổng số xétnghiệm thực hiện được tính đến 31/12/2012 là 151698 lượt xét nghiệm tăng trên25000 xét nghiệm so với cùng kỳ năm 2011, bình quân mỗi tháng tăng 2000 xétnghiệm. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn trong việc triển khai hoạt động xétnghiệm đếm tế bào T-CD4 như: Một số cơ sở hiện nay không có sinh phẩm để thựchiện xét nghiệm do không mua được sinh phẩm hoặc chưa có nguồn kinh phí choviệc mua sinh phẩm để thực hiện xét nghiệm. Một số máy xét nghiệm thuộc dự án KFWcấp đã hết hợp đồng bảo trì bảo dưỡng và thường xuyên gặp sự cố không thể thựchiện xét nghiệm cho bệnh nhân. Trong 9 tháng đầu năm 2012, Cục Phòng, chốngHIV/AIDS đã tích cực trong việc xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp quy,tài liệu đào tạo và tổ chức một số chuyến giám sát, hỗ trợ kỹ thuật và gửi côngvăn hướng dẫn các tỉnh, thành phố thực hiện triển khai hoạt động xét nghiệm đếmtế bào CD4 và gửi mẫu xét nghiệm tới cơ sở khác trong trường hợp máy xét nghiệmgặp sự cố không thể thực hiện được xét nghiệm cho bệnh nhân.

Trong năm 2012, Cục Phòng chống HIV/AIDS đã tăng cường công táckiểm tra, giám sát, quản lý việc sử dụng sinh phẩm chẩn đoán HIV. Phối hợp vớicác đơn vị liên quan xây dựng dự án ngân hàng mẫu; đánh giá sinh phẩm chẩn đoánHIV. Hiện tại dự án ngân hàng mẫu đang trình Lãnh đạo Bộ y tế và xin ý kiến gópý của các Vụ, Cục liên quan.

4.4. Chương trình chăm sóc và điềutrị HIV/AIDS

Tính đến 30/9/2012, trên toàn quốc có 69.882 đang được điềutrị bằng thuốc kháng vi rút (ARV) trong đó có 66.167 người lớn và 3.715 trẻ em,đạt 99,83% kế hoạch năm 2012, có 10 tỉnh, thành phố có số người được điều trịcao với tổng số 48.367 bệnh nhân được điều trị, chiếm 69,21% số người nhiễm HIVđang được điều trị trên toàn quốc. Thành phố Hồ Chí Minh có số người đang điềutrị ARV cao nhất cả nước, tính đến 30/9/2012, có 21.350 người nhiễm HIV đangđiều trị tại TP Hồ Chí Minh, chiếm 30,55% số lượng bệnh nhân đang điều trị trêntoàn quốc.

Tốc độ tăng trưởng bệnh nhân điều trị ARV trung bình là 942bệnh nhân/tháng (trung bình 3 tháng gần nhất). Phác đồ bậc 1 chiếm đa số với tỷlệ là 96,82%, phác đồ bậc 2 là 3,05% và có 0,13% thuộc phác đồ khác.

Mô hình thí điểm điều trị 2.0: Ngày 3/4/2012, Bộ Y tế đã banhành Quyết định số 1039/QĐ-BYT về việc triển khai thí điểm mô hình tiếp cậnđiều trị 2.0. Triển khai tại Thành phố Cần Thơ (Quận Ninh Kiều, huyện VĩnhThạnh, huyện Ô môn và huyện Thốt Nốt) và tỉnh Điện Biên (TP Điện Biên, huyệnĐiện Biên, huyện Mường Ẳng và huyện Tuần Giáo). Mỗi quận/huyện lựa chọn 3 xã.

Phối hợp HIV/lao: Tiếp tục duy trì các kết quả đã đạt đượcliên quan đến HIV/lao, trong 6 tháng đầu năm, Chương trình HIV và Dự án phòng,chống lao quốc gia đã phối hợp xây dựng Quy chế phối hợp, khung kế hoạch phốihợp giữa 2 chương trình giai đoạn 2012 - 2015. Các văn bản hướng dẫn kỹ thuậtliên quan đến phát hiện lao tích cực bệnh lao và dự phòng mắc lao ở người nhiễmHIV, cũng đã được hoàn thiện và đang trình lãnh đạo Bộ Y tế phê duyêt. Triểnkhai điều trị dự phòng mắc lao bằng INH cho người nhiễm HIV tại các cơ sở điềutrị. Phối hợp với Chương trình chống lao và các dự án cung cấp máy xét nghiệmGene Xpert chẩn đoán lao nhanh tại một số tỉnh có tỷ lệ nhiễm HIV cao và lao đakháng thuốc cao.

4.5. Chương trình dự phòng lây nhiễmHIV từ mẹ sang con (PLTMC)

Công tác PLTMC hiện đang được triển khai trên địa bàn toànquốc với những định hướng mới đối với các can thiệp về PLTMC như sau: (1) Tưvấn xét nghiệm HIV cho phụ nữ mang thai (PNMT) sớm, (2) Thuốc ARV cho PLTMC sớmtừ tuần thai thứ 14 (thay cho từ tuần thai thứ 28 trước đây).

Hiện nay toàn quốc có 226 điểm cung cấp dịch vụ dự phòng lâytruyền HIV từ mẹ sang con. 02 điểm tuyến Trung ương, 92 điểm tuyến tỉnh, còn lạilà tuyến huyện 132 huyện chiếm khoảng 25% số huyện trong toàn quốc. Tuy nhiênhiện chỉ có trên 133 cơ sở cung cấp dịch vụ PLTMC toàn diện, và cũng chủ yếutập trung tại tuyến tỉnh, thành phố tại các tỉnh, thành phố có dự án tài trợ, điềunày dẫn đến việc tiếp cận với dịch vụ PLTMC chưa đồng bộ và rất khó khăn ởnhiều vùng miền trong cả nước.

Đến hết quý III/2012, có 855.439 PNMT được tư vấn và xét nghiệmHIV (chiếm 50,3% trong số PNMT đến khám thai); trong đó, 512.216 xét nghiệm trongthời gian mang thai (chiếm 60 %), 348.369 xét nghiệm lúc chuyển dạ (chiếm 40,7%). Trong tổng số phụ nữ mang thai tới tư vấn và xét nghiệm có 1.275 PNMT nhiễmHIV (0,15 %).

Đến hết quý 2 năm 2012, Có 872 trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm HIV,trong đó có 613 trẻ được điều trị dự phòng bằng Cotrimoxazole trong vòng 2tháng sau sinh (70,3%).

5. Khó khăn và thách thức

5.1. Tình hình dịch và các biện pháp giám sát dịch: Mặc dùdịch HIV/AIDS tiếp tục có xu hướng giảm cả về số người nhiễm, số bệnh nhân AIDSvà tử vong do AIDS, tuy nhiên vẫn chưa đảm bảm tính bền vững, dịch HIV/AIDS ởnước ta vẫn tiềm ẩn những nguy cơ bùng phát nếu chúng ta không có những biệnpháp can thiệp mạnh mẽ và hiệu quả. Có sự đan xen giữa các hành vi của nhóm đốitượng nghiện chích và mại dâm, một số tỉnh có nguy cơ dịch gia tăng trở lại nếukhông triển khai các biện pháp can thiệp trên quy mô lớn như Hà Nội, TP Hồ ChíMinh, Sơn La, Thái Nguyên.

Do mức độ tiếp cận của chương trình vẫn còn mức hạn chế,những địa phương không có triển khai hoạt động phòng, chống HIV/AIDS, độ baophủ về xét nghiệm HIV còn hạn chế, người dân ở xa khó tiếp cận dịch y tế, do đókhả năng người nhiễm HIV chưa được xét nghiệm HIV và không biết tình trạngnhiễm HIV vẫn còn đáng kể.

Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới, đối với mô hìnhdịch tập trung như của Việt Nam nên tập trung ưu tiên triển khai các hoạt độnggiám sát gồm ước tính quần thể nhóm nguy cơ, giám sát ca bệnh, giám sát trọngđiểm, giám sát hành vi. Việt Nam đã cơ bản triển khai tất cả các hoạt động theokhuyến cáo. Tuy nhiên, do đặc điểm của đối tượng nguy cơ ở Việt Nam là ngườinghiện chích ma túy, phụ nữ bán dâm, nam có quan hệ tình dục đồng giới, do đóviệc tiếp cận và đảm bảo chất lượng số liệu giám sát trên các nhóm này rất khókhăn.

5.2. Mức độ tiếp cận với chương trình còn hạn chế: chỉ đạttrung bình khoảng 50-60% đối với chương trình bơm kim tiêm, 40-50% đối vớichương trình bao cao su; chương trình điều trị Methadone mới có 60 cơ sở, với12.253 người (theo kế hoạch dự kiến năm 2012 sẽ có 61 cơ sở điều trị và 15.600bệnh nhân được điều trị), mặt khác mô hình triển khai chưa đa dạng làm giảm khảnăng cung cấp dịch vụ cho người nghiện các chất dạng thuốc phiện.

Dịch vụ điều trị HIV: Hiện tại có 308 cơ sở điều trịHIV/AIDS, trong đó có 162 cơ sở thuộc tuyến huyện. Như vậy, mới có 25% số huyệncung cấp dịch vụ điều trị HIV/AIDS bằng ARV.

Dịch vụ dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con: Hiện tại có227 cơ sở dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con, trong đó có 133 cơ sở thuộctuyến huyện, chiếm 20% số huyện.

5.3. Hệ thống cung cấp dịch vụ điều trị HIV/AIDS: Ngày26/1/2011 Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 09/2011/TT-BYT về việcHướng dẫn điều kiện và phạm vi chuyên môn của cơ sở y tế điều trị bằng thuốcARV. Tuy nhiên hiện chỉ có gần 50% các cơ sở điều trị đáp ứng được các điềukiện của Thông tư này. Điều này ảnh hưởng lớn đến việc cung cấp dịch vụ khámchữa bệnh cho người nhiễm HIV qua hệ thống bảo hiểm y tế. Đặc biệt trong bối cảnhcác nguồn viện trợ cung cấp dịch vụ cho điều trị HIV (xét nghiệm, sinh phẩm,thuốc điều trị nhiễm trùng cơ hội..) đang bị cắt giảm thì việc cung cấp dịch vụqua hệ thống bảo hiểm y tế được xem xét như là nguồn chính nhằm duy trì sự bềnvững của công tác điều trị HIV/AIDS. Nhiều cơ sở y tế chưa thực sự xác địnhđiều trị HIV/AIDS là một trong các nhiệm vụ của cơ sở mình. Điều này dẫn đếnviệc quản lý điều trị bệnh nhân HIV/AIDS chưa thực sự nằm trong hệ thống quảnlý bệnh nhân chung trong cùng cơ sở y tế.

5.4. Cung ứng thuốc tại các cơ sở điều trị: để thực hiệnkhuyến cáo của WHO về việc loại trừ sử dụng d4T vào tháng 6/2013 đồng thời đảmbảo lượng thuốc thay thế d4T đủ cung cấp cho bệnh nhân, Cục Phòng, chốngHIV/AIDS đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn về việc chuyển đổi thuốc d4T. Tuynhiên hiện tại nhiều cơ sở điều trị, đặc biệt là các cơ sở có số lượng bệnh nhânđiều trị d4T cao, đã thực hiện việc chuyển đổi không theo hướng dẫn. Điều nàyảnh hưởng lớn đến việc dư thừa d4T và thiếu hụt nguồn thuốc thay thế d4T. Tìnhtrạng thuyên chuyển cán bộ dược liên quan đến công tác quản lý và cấp phátthuốc ARV đã dẫn đến công tác dự trù, báo cáo thuốc ARV còn chưa đạt hiệu quả,chưa đáp ứng được nhu cầu điều trị thực tế tại cơ sở.

5.5. Tình trạng phân biệt, kỳ thị đối xử đối với người nhiễmHIV/AIDS vẫn còn cao, làm ảnh hưởng đáng kể tiếp cận với dịch vụ điều trị củangười nhiễm HIV, rào cản cho việc xét nghiệm phát hiện HIV sớm và chuyển gửiđến dịch vụ chăm sóc điều trị.

5.6. Ngân sách và tính bền vững của chương trình:

Năm 2012, ngân sách cho chương trình phòng chống HIV/AIDSnăm 2012 phê duyệt muộn, ảnh hưởng đến việc triển khai hoạt động tại tuyếntrung ương, địa phương.

Kinh phí triển khai cho chương trình phòng, chống HIV/AIDStừ Chương trình mục tiêu Quốc gia và của các tỉnh vẫn ở mức thấp, những tỉnhkhông có dự án quốc tế triển khai gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra, chương trìnhphòng, chống HIV/AIDS dựa vào nhóm cộng tác viên và tuyên truyền viên đồng đẳngđược chứng minh có hiệu quả cho chương trình giảm hại, trong khi chế độ, chínhsách dành cho các tuyên truyền viên đồng đẳng và cộng tác viên trực tiếp thamgia chương trình còn thấp gây khó khăn cho việc tuyển chọn.

Tỷ trọng ngân sách cho phòng, chống HIV/AIDS hiện nay do tàitrợ nước ngoài khá lớn, khi Việt Nam thoát khỏi tình trạng nước nghèo, nguồnviện trợ sẽ bị cắt giảm, do đó cần có các giải pháp để huy động nguồn lực đảmbảo tính bền vững của chương trình.

5.7. Nhân lực: Nằm trong khó khăn chung về nhân lực của hệ ytế dự phòng, chương trình phòng, chống HIV/AIDS đang thiếu hụt nghiêm trọng độingũ cán bộ tại tất cả các tuyến. Sự thiếu hụt nhân lực là rào cản cho việc mởrộng chương trình điều trị và công tác can thiệp giảm tác hại. Trong khi số cánbộ có trình độ và kinh nghiệm được tuyển dụng thêm ít, các cán bộ kinh nghiệmvà năng lực xin chuyển công tác khác hoặc chuyển lĩnh vực khác, nguyên nhânchính do công việc căng thẳng và vất vả, trong khi thu nhập còn quá thấp, đãingộ ngành nghề, phụ cấp đặc thù, phụ cấp vùng miền và phụ cấp thâm niên chưacó.

III. TRỌNG TÂM KẾ HOẠCH NĂM 2013

1. Công tác xây dựng văn bản

1. Quyết định của Thủ tướng: Phê duyệt đề án “Đảm bảo nguồnlực tài chính cho công tác phòng, chống HIV/AIDS”

2. Thông tư liên tịch Bộ Y tế - Bộ Tài chính về việc Hướngdẫn thực hiện khoản 4 điều 23 của Nghị định số 96/2012/NĐ-CP ngày 15/11/2012của Chính phủ về việc quy định về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiệnbằng thuốc thay thế.

3. Thông tư của Bộ Y tế:

a) Hướng dẫn thực hiện một số điều quy định tại Nghị định số96/2012/NĐ-CP ngày 15/11/2012 của Chính phủ về việc quy định về điều trị nghiệncác chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế

b) Quy định tiêu chuẩn phòng xét nghiệm HIV

c) Hướng dẫn đánh giá sinh phẩm xét nghiệm chẩn đoán HIV

d) Sửa đổi, bổ sung Quyết định số 28/2008/QĐ-BYT ngày 14/8/2008của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành Quy chế báo cáo và biểu mẫu báo cáo hoạtđộng phòng, chống HIV/AIDS

đ) Hướng dẫn tư vấn xét nghiệm HIV do cán bộ y tế đề xuất

4. Xây dựng các tài liệu hướng dẫn chuyên môn phục vụ công tácphòng, chống HIV/AIDS

2. Nhiệm vụ chương trình công tácchủ yếu:

a) Công tác chỉ đạo:

- Đôn đốc và hỗ trợ các tỉnh hoàn thiện Kế hoạch hành độngthực hiện Chiến lược Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn2030.

- Tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra, giám sát hoạt động phòng,chống HIV/AIDS theo phân tuyến kỹ thuật. Tổ chức hoặc cử cản bộ tham gia cácđoàn công tác liên ngành.

- Tăng cường các hoạt động hợp tác quốc tế trong hỗ trợ tàichính và kỹ thuật.

b) Công tác chuyên môn

- Đẩy mạnh các hoạt động thông tin giáo dục truyền thông về HIV/AIDS,chú trọng đến các khu vực miền núi, vùng dân tộc thiểu số.

- Mở rộng và nâng cao chất lượng các hoạt động can thiệpgiảm hại, đặc biệt đẩy mạnh mở rộng chương trình điều trị nghiện các chất dạngthuốc phiện bằng thuốc thay thế.

- Củng cố và đa dạng hóa mô hình tư vấn xét nghiệm tựnguyện, ưu tiên các vùng khó khăn, cơ sở y tế hạn chế như các tỉnh miền núiphía bắc.

- Tăng cường chất lượng dịch vụ chăm sóc, điều trị ARV vàđiều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con. Mở rộng các dịch vụ xét nghiệmHIV, đảm bảo tính dễ tiếp cận và chất lượng cao.

- Tăng cường hoạt động giám sát dịch HIV/AIDS, theo dõi vàđánh giá chương trình, mở rộng ứng dụng tin học hóa trong quản lý, điều hành vàthu thập báo cáo.

3. Tổ chức các sự kiện:

a) Tổ chức tháng chiến dịch dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sangcon tháng 6/2013

b) Tổ chức Hội nghị đánh giá tiến độ thực hiện mục tiêu pháttriển thiên niên kỷ số 6 về HIV/AIDS vào tháng 5/2013

c) Tổ chức Hội nghị công tác phòng, chống HIV/AIDS cho cácthành phố lớn vào tháng 7/2013

d) Tổ chức Hội nghị quốc gia về công tác theo dõi và đánh giáchương trình phòng, chống HIV/AIDS.

e) Tổ chức Hội nghị Khoa học lần thứ V về phòng, chốngHIV/AIDS vào cuối năm 2013.

IV. KIẾN NGHỊ

1. Kiến nghị Chính phủ, các Bộ,ngành:

- Sớm cấp kinh phí hoạt động năm 2013 cho các tỉnh để bảobảo tiến độ và chất lượng hoạt động.

- Quan tâm đầu tư công tác phòng, chống HIV/AIDS cho cáctỉnh khu vực miền núi phía bắc, các tỉnh đồng bằng sông cửu long.

- Đề nghị Bộ Tài chính nghiên cứu việc tăng ngân sách chochương trình phòng, chống HIV/AIDS nói chung và chương trình can thiệp giảm táchại nói riêng. Xem xét bố trí ngân sách và hướng dẫn chi tiêu phù hợp thực hiệnĐề án “Sản xuất và sử dụng thuốc Methadone tại Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015”.Phối hợp với Bộ Y tế xây dựng, hoàn thiện chế độ, chính sách trong điều trịnghiện bằng thuốc Methadone theo quy định tại Nghị định Chính phủ về điều trịnghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.

- Đề nghị Bộ Công an, Bộ Lao động Thương binh và xã hội chỉđạo các đơn vị trực thuộc hỗ trợ Bộ Y tế trong việc triển khai Đề án “Sản xuất vàsử dụng thuốc Methadone tại Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015”. Chỉ đạo cơ quanCông an các cấp phối hợp chặt chẽ với ngành Y tế đảm bảo an ninh trật tự tạicác cơ sở điều trị cũng như khu vực dân cư xung quanh. Hỗ trợ tạo điều kiện tìmkiếm công ăn việc làm cho những người tham gia điều trị Methadone

2. Kiến nghị địa phương:

- Xây dựng kế hoạch thực hiện Chiến lược quốc gia phòng,chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030, Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày22/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác phòng, chống HIV/AIDS.

- Xây dựng kế hoạch phòng, chống HIV/AIDS năm 2013 bám sátvào tình hình dịch HIV/AIDS và hình thái nguy cơ lây truyền HIV, ưu tiên những địabàn có tình dịch HIV/AIDS cao và nhóm đối tượng dễ bị lây nhiễm HIV.

- Nghiên cứu và triển khai thực hiện Nghị định số96/2012/NĐ-CP ngày 15/11/2012 của Chính phủ quy định điều trị nghiện các chấtdạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thànhphố trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước vềđiều trị thay thế trong phạm vi địa phương. Căn cứ số lượng người nghiện cácchất dạng thuốc phiện và ngân sách của địa phương thành lập cơ sở điều trị thaythế theo nguyên tắc: Quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có từ 250 ngườinghiện các chất dạng thuốc phiện trở lên thì triển khai việc tổ chức điều trịthay thế; đối với những huyện có ít hơn 250 người nghiện các chất dạng thuốcphiện, tùy vào tình hình thực tế và nhu cầu của địa phương Ủy ban nhân dân cấptỉnh quyết định việc triển khai điều trị thay thế. Tăng cường công tác xã hộihóa trong điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone.

- Chỉ đạo các đơn vị liên quan tăng cường truyền thông nângcao nhận thức của người dân hiểu rõ các nguy cơ làm lây truyền HIV, đi làm xétnghiệm sớm HIV khi có phơi nhiễm các nguy cơ làm lây nhiễm HIV để đăng ký điềutrị kịp thời.

- Nghiên cứu, huy động các nguồn lực tài chính từ địa phươngđể bù đắp các thiếu hụt do nguồn tài trợ cắt giảm.

Nơi nhận:
- Như trên;
- Văn phòng Trung ương Đảng (để báo cáo);
- Ban tuyên giáo Trung ương (để báo cáo);
- Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội (để báo cáo);
- Vụ Khoa giáo - Văn xã, VPCP (để báo cáo);
- Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến (để báo cáo);
- Thành viên UBQG PC AIDS và PC tệ nạn ma túy, mại dâm (để báo cáo);
- Các đồng chí Thứ trưởng (để biết);
- Lưu: VT, AIDS.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG




Nguyễn Thanh Long