Kính chào Luật Minh Khuê, Em có vấn đề thắc mắc mong Luật sư tư vấn :

Chuyện xảy là tháng 4 năm 2018, em là nhân viên bốc xếp bia nước ngọt chocty bia saigon, em làm ở đây từ tháng 10 năm 2017 cho đến nay. Trong thờigian làm việc người chủ có giao trách nhiệm là đi giao hàng và thu tiền củakhách hàng. Sau khi làm về như mọi hôm tiền hàng được giao cho kế toán kiểmtra thiếu đủ sẽ báo lại cho người thu tiền để phòng tránh mất mác. Nhưng sau một thời gian kế toán thôi việc và kể từ đó hàng hóa củng như việc kiểmtiền được người chủ đứng ra đảm nhiệm, có điều em muốn nói ở đây là sau khitiền hàng em giao thì người chủ không kiểm tra ngay lại cho em đi về. Ngàynào củng vậy nhưng đến tối thì gọi em báo thiếu tiền rồi lại kiểm tra đủ.

Sau vài ngày củng như vậy tiền hàng giao về không kiểm tra vẫn cho em vềnhưng hôm nay lại gọi cho em báo mất hơn 15 triệu nhưng hôm đó em chắc chắnlà đã thu đủ tiền có sổ sách thu nhận tiền của khách hàng. Em củng đã quacty để đối chiếu sự việc nhưng bất thành. Một hai nói em lấy tiền của họ vàbắt em phải bồi thường số tiền đó nếu không sẽ tố cáo em ra pháp luật. Emrất sợ nhưng số tiền đấy em không hề biết lý do vì sao lại mất. Sau đóchồng của người chủ dắt em đến bọn xã hội đen bắt em phải vay tiền người đóđể trả cho họ.

Trong cuộc trò chuyện họ hăm dọa đòi đánh em, trong tìnhhuống đó em không biết làm gì, em không lấy nên em củng không thừa nhận. Sau một hồi người chủ chở em về và bắt em làm giấy nợ, em không đồng ý vàxin thôi việc. Em bị thu chứng minh thư rồi tung lên mạng bôi nhọa danh dựem mặc dù chuyện chưa rõ ràng.

Vậy nếu sau sự việc này bên họ khởi kiện em lấy tiền của họ thì em có được quyền làm đơn tố cáo họ tội vu khống em không thưa luật sư ?

- Mong sớm nhận được phản hồi từ quý công ty,tôi xin chân thành cảm ơn.

Trả lời : Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới chuyên mục hỏi đáp của công ty chúng tôi.Câu hỏi của bạn được giải đáp như sau :

1. Bị vu khống, bôi nhọ danh dự xử lý ntn ?

Thứ nhất: Trường hợp họ ép buộc bạn viết giấy nợ thì giấy nợ cũng không có giá trị vì không đáp ứng được nguyên tắc giao kết trong dân sự. Vì bạn không tự nguyện nên nếu bạn có ký thì sau này nó cũng không thể dùng làm căn cứ để bạn có nghĩa vụ phải trả nợ được.

Thứ hai: Nếu họ khởi kiện bạn thì chắc chắn sẽ là kiện theo pháp luật hình sự chứ không phải theo luật dân sự nữa. Rất có thể bạn sẽ bị kiện về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản...Nhưng ở đây chỉ là rất có thể chứ họ không có căn cứ và bạn hoàn toàn không lấy tiền của họ. Nếu họ kiện bạn thì cơ quan công an điều tra còn phải điều tra làm rõ chứ không phải kiện là bị truy cứu trách nhiệm hình sự nên bạn có thể yên tâm về vấn đề bị họ kiện, vì mình hoàn toàn trong sáng thì nếu có bị khởi kiện thật thì bạn cũng nên chấp hành và làm việc hợp tác với cơ quan công an điều tra.

Thứ ba: Nếu họ đã bêu xấu bạn lên mạng xã hội khi sự việc chưa rõ ràng làm ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của bạn thì kể cả họ chưa kiện bạn thì sau khi họ bêu xấu bạn trên mạng là bạn có quyền khởi kiện họ về tội vu khống rồi. Trong trường hợp này bạn có thể viết đơn khởi kiện gửi lên cơ quan tố tụng để được giải quyết. Căn cứ theo Điều 156 của Bộ luật hình sự năm 2015 quy định thì hành vi vu khống có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

"Điều 156. Tội vu khống

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người đang thi hành công vụ;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

h) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Vì động cơ đê hèn;

b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

c) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."

Vậy nên từ những nội dung bạn chia sẻ thì bạn có quyền đòi lại công bằng cho mình bằng cách khởi kiện ra tòa và yêu cầu bồi thường. Chúc bạn sức khỏe và có phương án giải quyết tốt nhất cho sự việc của mình.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay tới số: 1900.0159 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Phân tích cơ sở pháp lý phán quyết của tòa án ?

2. Khởi kiện hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm ?

Kính chào luật sư! Thời gian gần đây tôi bị liên tục bị xúc phạm nhân phẩm và danh dự bới 1 nick ảo( ko rõ nguời đó là ai ) trên face nhưng tôi ko thể tìm ra người liên tục đăng tải những bài viết xúc phạm tôi là ai và chứng cứ cụ thể để kiện người đó.
Vậy xin cho tôi hỏi trong trường của tôi cơ quan chức năng nào có thể can thiệp hỗ trợ ?
Tôi xin cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.0159

Trả lời:

Trong thời gian này bạn bị một ai đó liên tục xúc phạm đến danh sự nhân phẩm của bạn và bạn có là ai như vậy thì rất khó có thể buộc tội người ta về ''tội làm nhục người khác''.Về việc này bạn phải đến cơ quan công an nơi bạn đang cư trú và trình bầy và nhờ họ can thiệp để tìm ra được người đó là ai.Theo đó bạn phải tìm ra được chứng cứ chứng minh rằng người đó đã xúc phạm danh dự nhân phẩm của bạn.Và chứng cứ chứng cứ chứng minh phải đáp ứng những điều kiện quy định tại Điều 64 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 '' chứng cứ''.

1- Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự do Bộ luật này quy định mà cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án.

2- Chứng cứ được xác định bằng:
a) Vật chứng;
b) Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;
c) Kết luận giám định;
d) Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu khác.

Như vậy khi có chứng cứ chứng mình rằng việc có người, ai đó xúc phạm đến danh sự nhân phẩm của bạn, bạn sẽ nộp đơn tố cáo quy định tại Điều 269..Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 '' Thẩm quyền theo lãnh thổ''.

1. Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là Tòa án nơi tội phạm được thực hiện. Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi kết thúc việc điều tra.

2. Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt Nam thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước xét xử. Nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng ở trong nước của bị cáo thì tùy trường hợp, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định giao cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội hoặc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh hoặc Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử.

Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự thì Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử theo quyết định của Chánh án Tòa án quân sự trung ương.

Bị cáo phạm tội ở nước ngoài, nếu thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự thì do Toà án quân sự cấp quân khu trở lên xét xử, theo quyết định của Chánh án Toà án quân sự cấp cao.

Như vậy về việc này nếu như hành vi đó được xác định là tội làm nhục người khác theo như quy định tại điểm a khoản 2 điều Điều 155 BLHS 2015. ''Tội làm nhục người khác''

1 Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm,danh dự của người khác,thì bị phạt cảnh cáo,phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm

a) phạm tội 02 lần trở lên

>> Xem thêm:  Đăng bài viết đòi nợ trên mạng xã hội có được xem là xúc phạm danh dự không?

3. Hành vi xúc phạm, vu khống người khác trên mạng ?

Thưa luật sư, xinn cho hỏi: Lúc em đi học trong trường em có vay của một người 7 triệu. Sau này khi ra trường em quên mất nên khi về đi làm được 2 năm, người chủ kia lên facebook nói em có vợ mang bầu mà vẫn gái gú, rồi nói em nợ họ 42 triệu, nói xấu em đủ thứ trên tất cả các page của face trong khi em không có và nếu có thì chỉ có khoản nợ 7 triệu kia.
Vậy em có được làm đơn tố cáo người kia về tội vu khống và làm nhục không ạ ? Em đang làm trong ngàn công an ạ ?
Xin luật sư tư vấn và giải đáp giúp.

Luật sư tư vấn:

Như bạn trình bày: Trong thời gian đi học ở trường bạn có vay tiền một người với số tiền là 7 triệu đồng. Sau khi ra trường và đi làm 2 năm , số tiền này vẫn chưa được trả. Sau đó người cho vay đã sử dụng Face book để tung tin nhằm viết ra những điều không có thực về bạn. Nhằm muốn làm ảnh hưởng đến nhân phẩm, uy tín danh dự của bạn. Trong khi đó bạn lại làm công an. Vấn đề của bạn được pháp luật quy định như sau:

Với hành vi sử dụng các phương tiện thông tin công cộng để nhằm bịa đặt, xúc phạm danh dự, gây thiệt hại đến quyền , lợi ích hợp pháp của người khác. Hành vi này được người phạm tội đặt ra nhằm loan truyền những điều không đúng về sự thật và biết rõ đó là bịa đặt xúc phạm danh dự,gây thiệt hại đến lợi ích của bạn. Thì hành vi của người này đã phạm vào Tội vu khống được quy định tại Điều 156 BLHS 2015

Không có Điều, Khoản nào của pháp luật cấm Công an tố cáo về hành vi, mà mình là nạn nhân hay biết hành vi, vi phạm pháp luật đối với hành vi vi phạm pháp luật. Nên bạn có quyền làm đơn tố cáo với cơ quan cảnh sát điều tra hình sự để sớm xác minh vụ việc để xử lý.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ 1900.0159 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tư vấn về Tội vu khống, bôi nhọ danh dự làm hạ thấp uy tín cá nhân, Doanh nghiệp ?

4. BTTH khi bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm ?

Thưa Luật sư, bà Hòa có nhờ tôi cầm hộ thẻ ATM đi rút tiền, số tiền trong thẻ là 5 triệu đồng, tôi đã nhận lời và sau khi đi làm về tôi đã xuống cây ATM của ngân hàng nông nghiệp huyện để rút. Nhưng do cây bị lỗi nên tôi chỉ rút được 1 lần 2 triệu
Đến tối ngày 15/5/2016, bà Hòa vào nhà tôi bảo ngân hàng gửi về 2 tin nhắn với nội dung là rút được 4 triệu, bà đổ cho tôi lấy trộm tiền của bà .
Chồng bà Hòa đe dọa tôi: mày láo không trả tiền cho tao, tao báo công an và công đoàn công ty để đuổi việc mày. Tôi cùng bà hòa lên ngân hàng kiểm tra, ngân hàng giải thích là do cây bị lỗi nên không rút được tiền. Và đưa cho bà Hòa đơn khiếu nại viết đầy đủ thông tin để ngân hàng chuyển đơn xuống ngân hàng nông nghiệp và hẹn trong 20 ngày nếu ngân hàng xác minh đúng sự thật thì sẽ chuyển tiền vào tài khoản. Sau hơn 10 ngày bà Hòa đã nhận lại được số tiền, trong thời gian chưa nhận lại được tiền bà Hòa có đi nói xấu bôi nhọ tôi với mọi người là ăn trộm tiền của bà, khiến tôi đi đâu cũng bị mọi người khinh bỉ, kỳ thị.
Tôi muốn viết 1 đơn kiện để cơ quan chức năng xem xét và giải quyết cho tôi và gia đình.

Mong luật sư giúp đỡ và chỉ bảo cho tôi phải viết đơn như thế nào và nộp đơn những đâu để minh oan cho tôi và đảm bảo an toàn sức khỏe, tính mạng của gia đình tôi ?

Tôi xin cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua tổng đài 24/7: 1900.0159

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 20 Hiến pháp năm 2013 thì:

"Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm"

Hơn nữa, theo quy định tại Ðiều 34 BLDS 2015 có quy định như sau:

1. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

2. Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình.

Theo quy định tại Ðiều 584 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định: “1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

Về cách xác định thiệt hại, tại Điều 592 BLDS 2015 quy định Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm như sau:

“1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;

c) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.”

Việc xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác được hiểu là làm tổn thương nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của người khác. Việc đánh giá việc xúc phạm có ở mức độ nghiêm trọng hay không phải căn cứ vào thái độ, nhận thức của người phạm tội; cường độ và thời gian kéo dài của hành vi xúc phạm; vị trí và môi trường xung quanh; vị trí, vai trò, uy tín của người bị hại trong gia đình, tổ chức hoặc trong xã hội; dư luận xã hội về hành vi xúc phạm đó. Nếu có căn cứ rằng hành vi xúc phạm danh dự nhân phẩm của gia đình hàng xóm đối với gia đình bạn đến mức nghiêm trọng thì bạn có thể tố cáo gia đình họ.

Như vậy, từ căn cứ trên, dựa trên những hành vi của người em bà Hòa, bạn có quyền khởi kiện gửi đơn khởi kiện tới Tòa án hoặc bạn có thể tố cáo hành vi của người này đến Cơ quan Công an hoặc các cơ quan khác liên quan để được điều tra, giải quyết.

Về vấn đề viết đơn tố cáo thì bạn viết theo mẫu sau: Mẫu đơn tố cáo

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến, gọi: 1900.0159. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Mẫu giấy ủy quyền đòi nợ mới nhất năm 2020 ? Ủy quyền đòi nợ có hợp pháp ?