BỘ NGOẠI GIAO
******

Số: 28/2005/LPQT

Hà Nội, ngày 21 tháng 02 năm 2005

Biên bản ký họp lần thứ27 Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật giữaChính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòadân chủ nhân dân Lào có hiệu lực từ ngày 07 tháng 01 năm 2005./.

TL. BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO
KT. VỤ TRƯỞNG VỤ LUẬT PHÁP VÀ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ
PHÓ VỤ TRƯỞNG




Nguyễn Hoàng Anh

BIÊN BẢN

KỲ HỌP LẦN THỨ 27 ỦY BAN LIÊN CHÍNH PHỦ VỀ HỢP TÁC KINH TẾ, VĂN HÓA,KHOA HỌC KỸ THUẬT GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀCHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO.

I. CHƯƠNG TRÌNH KỲ HỌP

Từ ngày 03 đến ngày 7tháng 01 năm 2005, tại Hà Nội, Thủ đô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namđã tiến hành kỳ họp lần thứ 27 Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác kinh tế, vănhóa, khoa học kỹ thuật giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nướcCộng hòa dân chủ nhân dân Lào.

Đoàn Việt Nam do đồng chí Nguyễn Tấn Dũng, ủy viên Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Thủ Tướng thường trực Chính phủ, Chủ tịch Phân ban hợp tác Việt Nam - Lào, Trưởng đoàn.

Đoàn Lào do đồng chíThoong-lun Xi-xu-lít, ủy viên Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Nhândân cách mạng Lào, Phó Thủ Tướng Chính phủ, Chủ tịch Phân ban hợp tác Lào -Việt Nam, Trưởng đoàn.

Danh sách thành viên củađoàn Việt Nam và đoàn Lào (sau đây gọi tắt là hai Bên) ghi trong Phụ lục kèmtheo.

Hai Bên thông qua ch­ươngtrình làm việc của kỳ họp, đánh giá tình hình thực hiện Hiệp định về hợp táckinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật 2004, trao đổi phương hướng nhiệm vụ hợptác năm 2005; ký Biên bản Kỳ họp và Hiệp định về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoahọc kỹ thuật giữa Việt Nam và Lào năm 2005.

II. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNHTHỰC HIỆN HIỆP ĐỊNH HỢP TÁC NĂM 2004

Trong nămqua, hợp tác Việt Nam - Lào đã nhận được sự quan tâm thường xuyên của các Ban,ngành Trung ương, Quốc hội và Chính phủ hai Bên. Trên cơ sở Hiệp định về hợptác kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật năm 2004; Hiệp định khung 2001 - 2005giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộnghòa dân chủ nhân dân Lào ký ngày 06 tháng 02 năm 2001 tại Hà Nội, hai Bên thốngnhất ghi nhận:

Hợp tác kinhtế, văn hóa, khoa học kỹ thuật năm 2004 đã có bước chuyển biến tích cực; Hợptác đào tạo đã đáp ứng được nhu cầu về số lượng, năm 2004 đã tăng 69,69% so vớithỏa thuận Hiệp định 2001 - 2005. Chất lượng đào tạo đã được quan tâm hơn. Sốhọc sinh khá, giỏi năm 2004 tăng 53,63% so với 2003, chiếm 16,11% học sinh Làohọc tại Việt Nam; Các thỏa thuận hợp tác về miễn thị thực cho người mang hộchiếu phổ thông qua lại giữa hai nước, giảm 50% thuế suất thuế nhập khẩu và cácquy định tính thuế, xuất xứ hàng hóa (C/O) từ mỗi nước, giảm phí sử dụng cảngVũng Áng, giảm phí dịch vụ lao động và cấp thẻ theo thời hạn hợp đồng của ngườilao động Việt Nam tại Lào và cung cấp tín dụng bổ sung đường 18B . . . được haiBên tích cực chủ động triển khai.

Kim ngạchxuất nhập khẩu tăng 30,9% so với năm 2003. Hoạt động xúc tiến đầu tư được sựquan tâm chỉ đạo của cả hai Bên đang được cải thiện. Hai Bên đã phối hợp tổchức các Hội nghị xúc tiến đầu tư thương mại vào Lào tại ba khu vực Bắc, Trung, Nam của Việt Nam.

Nhiều doanhnghiệp đã quan tâm đầu tư các dự án lớn như trồng cây cao su, cà phê, chế biếngỗ xuất khẩu và khai khoáng nhằm tận dụng thế mạnh của mỗi nước, có tác độngtrực tiếp tới phát triển hợp tác kinh tế giữa hai nước. Các cơ chế, chính sáchđược xem xét, điều chỉnh đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệptrong hoạt động đầu tư, sản xuất. Hoạt động thanh toán được duy trì, tạo điềukiện thuận lợi cho việc mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, đầu tư giữa hainước.

Việc quản lývà sử dụng vốn viện trợ được quan tâm phối hợp kiểm tra thường xuyên của haiBên đã từng bước đi vào nề nếp và tập trung hơn. Các dự án được hoàn thành đưavào sử dụng đã đánh dấu sự chuyển biến mới trong quan hệ hợp tác giữa hai nước.

Hợp tác giữacác địa phương hai nước được mở rộng không chỉ hỗ trợ giúp đỡ nhau một cáchthiết thực bằng kinh nghiệm, khả năng sẵn có theo truyền thống trước đây, mà đãcó sự chuyển hướng tích cực trong việc hợp tác cùng phát triển trên nhiều lĩnhvực kinh tế. Hoạt động đầu tư, thương mại của các doanh nghiệp được sự quan tâmcủa các địa phương hai Bên, có trọng tâm, trọng điểm, đáp ứng được nhu cầu pháttriển, khai thác được tiềm năng và thế mạnh sẵn có về đất đai và nguồn tài nguyên,nhân lực của các địa phương mỗi Bên.

Tuy nhiên,hai Bên còn những khó khăn, tồn tại:

Kết quả đàotạo chưa được như mong muốn; phối hợp quản lý hai Bên trong việc thực hiện cácQuy chế và Nghị định thư hợp tác đào tạo đã ký kết chưa chặt chẽ, cha tạo đượcmôi trường thúc đẩy học tập trong học sinh.

Hoạt độngđầu tư còn chậm, chưa tạo sự chuyển biến tích cực trong sản xuất và thương mạigiữa hai Bên. Các hàng hóa nông sản sản xuất tại mỗi nước chưa có những chínhsách khuyến khích mạnh mẽ để thúc đẩy giao lưu giữa các địa phương hai Bên. Hệthống cơ sở hạ tầng giao thông đầu tư chưa đúng tầm để thực sự trở thành mốiliên kết hấp dẫn trong quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước và khu vực. Việctổ chức thực hiện Thỏa thuận Viêng Chăn 2002 còn chưa đồng đều và có sự phốihợp thống nhất giữa hai Bên.

Mặc dù đã cósự điều chỉnh nhằm duy trì và phát huy sớm hiệu quả các dự án hợp tác, song mộtsố dự án (Trạm bơm đầu nguồn hệ thống thủy lợi Đông-phu- xi, Nâng cao năng lựcTrung tâm đo lường Quốc gia Lào...) triển khai còn chậm và chưa dứt điểm. Quảnlý các chương trình dự án đầu tư sử dụng vốn viện trợ của Việt Nam dành cho Lào còn có những bất cập.

III. PHƯƠNG HƯỚNG VÀNHIỆM VỤ CHỦ YẾU HỢP TÁC KINH TẾ, VĂN HÓA, KHOA HỌC KỸ THUẬT NĂM 2005

Thực hiệntinh thần và nội dung cuộc gặp giữa hai Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam vàĐảng Nhân dân cách mạng Lào ngày 06 tháng 01 năm 2005; trên cơ sở Chiến lượchợp tác 10 năm, Hiệp định về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật giaiđoạn 2001 - 2005;

Trong bốicảnh quốc tế và khu vực, xuất phát từ tình hình thực tế của mỗi nước việc khẳngđịnh tiếp tục phát triển mối quan hệ hợp tác đặc biệt, đoàn kết hữu nghị gắn bólâu đời Việt Nam - Lào là nhân tố quan trọng đảm bảo sự hợp tác hiệu quả tronglĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật giữa hai nước.

Năm 2005 lànăm hoàn thành các thỏa thuận đã được ký kết giữa hai nước giai đoạn 2001 -2005, nhằm tiếp tục thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa hai nước, phương hướng vànhiệm vụ chủ yếu hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật năm 2005 như sau:

1. Tiếp tục thúc đẩy hợptác đầu tư làm cơ sở phát triển quan hệ kinh tế, thương mại của hai nước trêntinh thần tôn trọng chủ quyền, nâng cao tính thần độc lập tự chủ nhằm khai thácthế mạnh của mỗi nước.

Trên từnglĩnh vực, hợp tác có lựa chọn với quy mô thích hợp mang tính đột phá vừa giảiquyết thiết thực những nhu cầu trước mắt, tác động trực tiếp tới phát triểnkinh tế, vừa tiêu biểu cho hợp tác hai nước.

Coi trọngchất lượng và hiệu quả và tác động của hợp tác tới quan hệ hai nước. Quan tâmhợp tác khu vực biên giới, tạo cơ sở cho việc phát triển kinh tế và giữ vững anninh biên giới của mỗi nước.

2. Tập trung sử dụng vốnviện trợ vào việc duy trì và nâng cao chất lượng hợp tác phát triển nguồn nhânlực bằng những hình thức thích hợp, mở rộng hình thức chuyên gia đào tạo tạichỗ trên một số lĩnh vực quản lý tài chính, kinh tế kế hoạch tại Lào;

Tiếp tụchoàn thành các nội dung đã thỏa thuận trong giai đoạn 2001 - 2005 giữa hai Bên.

Hợp tác cótrọng tâm, trọng điểm, đồng bộ không dàn trải, hình thức. Tập trung vào cáclĩnh vực sản xuất hàng hóa mà mỗi Bên có điều kiện, khả năng và có nhu cầu đểthực sự tạo động lực phát triển cho mỗi Bên;

Củng cố lạicác chương trình dự án đã hợp tác, tiếp tục hỗ trợ để duy trì hoạt động thườngxuyên và hiệu quả các chương trình dự án đã được thực hiện trong quan hệ hợptác giữa hai nước.

3. Trong các lĩnh vực hợptác cụ thể:

3.1. Để nângcao chất lượng đào tạo học sinh Lào tại Việt Nam, hai Bên thỏa thuận:

- Triển khaicụ thể trong năm 2005 việc thi tuyển chọn lưu học sinh sang học tại Việt Nam theo phương thức phía Lào tổ chức thi tuyển và cử học sinh sang học tại Việt Nam, phía Việt Nam phối hợp và kiểm tra tiếng Việt sau khi học dự bị để vào học bậc học của Việt Nam. Từ năm 2005, học sinh Lào sẽ sang học đại học tại Việt Nam được học dự bị đại học tốiđa hai năm (trong đó một năm học tiếng Việt và một năm dự bị đại học)

- Phối hợpquản lý và thực hiện chặt chẽ Nghị định thư về hợp tác đào tạo cán bộ, ký ngày15 tháng 01 năm 2002. Hợp tác giáo dục Và đào tạo giữa các địa phương hai nướcở các bậc học được thống nhất quản lý tập trung giữa hai Bộ Giáo dục .

- Phía Việt Nam hỗ trợ nghiên cứu, ban hành thống nhất giáo trình dạy tiếng Việt và bộ Từ điển Việt -Lào và Lào - Việt;

- Quan tâmhợp tác và hỗ trợ kỹ thuật cho các cơ sở đào tạo tiếng Việt tại Lào cũng nhưviệc đầu tư các trang thiết bị cần thiết cho việc dạy và học tiếng Việt tại cáctrường dự bị tiếng Việt tại Việt Nam;

Giao hai BộGiáo dục nghiên cứu đề án giảng dạy cho Trường Trung học phổ thông nội trú bằnghai thứ tiếng Lào và Việt tại Lào để làm cơ sở xây dựng dự án đầu tư cho loạihình trường này.

- Đa dạnghóa hình thức đào tạo, theo khả năng của mình, phía Việt Nam sẵn sàng cử chuyêngia giúp Lào đào tạo tại chỗ ở Lào trên cơ sở yêu cầu cụ thể của phía Lào theocơ chế Việt Nam hỗ trợ kinh phí đi, về và sinh hoạt phí cho chuyên gia, phíaLào chi phí ăn, ở và phương tiện đi lại, các điều kiện giảng dạy của chuyên giaViệt Nam tại Lào.

3.2. Củngcố, duy trì một cách đồng bộ hoạt động các chương trình dự án nông nghiệp đãhợp tác. Phía Việt Nam tiếp tục giúp Lào thiết bị bơm Hệ thống thủy lợiThà-phạ-nọng-phông nhằm phục vụ phát triển nông nghiệp sản xuất lúa hàng hóahuyện Hạt-xài-phong thành phố Viêng chăn; Tiếp tục hỗ trợ kỹ thuật, chuyên giaduy trì chương trình nông nghiệp Chăm-pa-sắc và dự án khí tượng thủy văn phụcvụ cho dự đoán khí tượng thủy văn phục vụ nông nghiệp và các lĩnh vực khác giữahai nước…

- Khuyếnkhích các doanh nghiệp Việt Nam tham gia phát triển nuôi ong trong nhân dânvùng huyện Viêng Xay tỉnh Hủa Phăn vào mục tiêu xóa đói giảm nghèo dân tộc vùngbiên giới.

- Khuyếnkhích việc hợp tác giữa Bộ Thủy sản Việt Nam và Bộ Nông nghiệp Lào trong việcnghiên cứu Quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản và nâng cấp cơ sở nuôitrồng giống cá tại Lào.

3.3. Tiếptục thực hiện cơ chế giảm thuế đối với hàng hóa có xuất xứ từ mỗi nước trên cơsở các văn bản đã ban hành giữa hai Bên. Giao Bộ Thương mại hai nước trao đổivà thống nhất trong quý I năm 2005 danh mục hàng hóa có xuất xứ từ mỗi nước đưavào diện hưởng thuế suất thuế nhập khẩu 0% để có thể áp dụng ngay trong năm2005.

Tiếp tục tạođiều kiện thuận lợi về cơ chế và các chính sách ưu đãi khuyến khích đầu tư, thươngmại khu vực Th­ương mại Lao Bảo (Quảng - Trị) và Đen-xa-vẳn (Sa-va-na-khét),làm cơ sở để nghiên cứu áp dụng mở rộng cho các khu Th­ương mại cửa khẩu Bờ Y(Kom Tum) - Phu cưa (Attôpư), cửa khẩu Na Mèo (Thanh Hóa - Hủa Phăn), Năm Cắn -Huội Din Đăm (Nghệ An - Xiêng Khoảng) và Na pê (Bolykhămxay) - Cầu Treo (HàTĩnh).

3.4. Hai BộTài chính hai nước phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương liên quan hai Bênnghiên cứu xây dựng cơ chế "kiểm tra một lần" tại cửa khẩu quốc tếgiữa biên giới hai nước trình Chính phủ hai Bên xem xét quyết định. Trước mắtthực hiện thí điểm tại cửa khẩu Đen xa vẳn (phía Lào) và Lao Bảo (phía Việt Nam). Đồng thời, thúc đẩy ngành hải quan hai nước sớm ký kết Bản ghi nhớ cụ thể hóa việc tổchức thực hiện cơ chế "kiểm tra một lần" tại cửa khẩu quốc tế giữabiên giới hai nước để tạo điều kiện cho việc quản lý xuất nhập khẩu hàng hóacủa mỗi Bên phù hợp với thông lệ quốc tế.

3.5. Tiếptục hợp tác trong lĩnh vực thông tin văn hóa, theo thỏa thuận phía Việt Namgiúp xây dựng Đài phát sóng chuyển tiếp của Lào tại Chăm-pa-sắc bằng vốn việntrợ của Việt Nam dành cho Lào. Phía Việt Nam hỗ trợ kỹ thuật, cùng phối hợp vớiphía Lào triển khai chương trình phụ đề tiếng Lào trên các kênh truyền hìnhchuyển tiếp của Việt Nam. Tiếp tục hỗ trợ củng cố, nâng cao năng lực và chuyênmôn cho các cán bộ thuộc lĩnh vực thông tin đại chúng. Chia sẻ kinh nghiệm vềhoạt động của Bảo tàng Cay-sỏn Phôm-vi-hản.

3.6. Tiếptục thực hiện thỏa thuận về việc tạo điều kiện thuận lợi cho người, hàng hóa,ph­ương tiện qua lại giữa hai nước tại "Thỏa thuận Viêng chăn 2002".

Phía Việt Nam bầy tỏ cảm ơn phía Lào đã có chủ trương điều chỉnh giá dịch vụ lao động phù hợp cho người laođộng Việt Nam làm việc tại Lào. Giao hai Bộ Lao động hai Bên sớm tiếp tục traođổi triển khai cụ thể nội dung trên.

3.7. Tăngcường hợp tác đầu tư giữa hai nước. Phía Lào tiếp tục ưu tiên cho Tổng Công tyCao su Việt Nam và Công ty Cao su Đăk Lăk trồng và chế biến các sản phẩm cao sukhu vực Nam Lào; tạo điều kiện cho Tổng Công ty Hóa Chất Việt Nam thăm dò chitiết khai thác muối mỏ Kali Trung Lào, Công ty Trường Thành tỉnh Đăk Lăk chếbiến gỗ xuất khẩu; tạo điều kiện cho Tổng Công ty Than đầu tư khai thác sử dụngnguồn than tại Nâm Ngân để xây dựng nhà máy nhiệt điện; tiếp tục sử dụng vốnviện trợ để điều tra thăm do khoáng sản Kali khu vực Trung Lào và Bô xit khuvực Nam Lào.

Coi trọnghợp tác đầu tư, thương mại giữa các địa phương. Khuyến khích hợp tác chăn nuôivà trồng cây công nghiệp, nông nghiệp giữa các địa phương giáp biên giới hainước bằng nhiều hình thức, trước mắt theo phương thức cung cấp giống, kỹ thuậtvà bao tiêu sản phẩm phía Việt Nam, đất đai và lao động của phía Lào.

Thúc đẩy cáccơ quan liên quan hai Bên sớm ký hợp đồng mua bán điện Nhà máy thủy điện Nậm Môvà dự án nhà máy thủy điện Sê ka mản 3.

3.8. Tậptrung hoàn thành các tuyến đường qua biên giới để tạo điều kiện thuận lợi choLào quá cảnh hàng hóa qua lãnh thổ và cảng biển hiện có của Việt Nam. Phía Việt Nam tiếp tục cung cấp tín dụng xây dựng đường 18B để hoàn thành vào năm2005. Giúp Lào xây dựng đoạn đường 6 km nối Đư­ờng 6 của Lào với Tén Tần (HủaPhăn) biên giới giữa hai nước

Theo đề nghịcủa phía Lào, Việt Nam giúp nghiên cứu tiền khả thi đoạn đường Huội Mạ- Phả Thỉdài 14 km tỉnh Hủa Phăn của Lào.

Hai Bên phốihợp hoàn thành tuyến đường 12 ở mỗi Bên để đưa vào sử dụng trong năm 2006. Việt Nam sẵn sàng đáp ứng yêu cầu vận tải hàng hóa của Lào qua cảng Vũng áng khiphía Lào có nhu cầu.

Khuyến khíchhợp tác trao đổi kinh nghiệm và đầu tư thương mại giữa hai ngành bưu chính viễnthông hai nước,

3.9. Phốihợp nghiên cứu cơ chế chính sách phù hợp với các quy định hiện hành giữa hainước nhằm quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn viện trợ hàng năm dànhcho Lào, cũng như các cơ chế chính sách khác để thúc đẩy hơn nữa hợp tác kinhtế, đầu tư thương mại giữa hai nước.

3.10. HaiBên cam kết cùng nhau phối hợp thực hiện tốt Thông báo chung về phát triển kinhtế xã hội khu vực Tam giác phát triển Campuchia - Lào – Việt Nam ký ngày 27tháng 11 năm 2004 tại Viêng chăn.

3.11. Giaocho hai Phân ban hợp tác hai nước phối hợp đánh giá tình hình thực hiện Hiệpđịnh hợp tác về kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật giữa hai nước giai đoạn2001 - 2005, chuẩn bị Hiệp định và kế hoạch hợp tác giai đoạn 2006 - 2010 trìnhlên hai Chính phủ xem xét, làm cơ sở để ký kết vào

Kỳ họp ủyban liên Chính phủ lần thứ 28 tổ chức đầu năm 2006 tại Viêng Chăn.

4. Phía Việt Nam mời các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Nhà nước Lào cùng gia đình sang Việt Nam kiểm tra sức khỏe, điều trị và nghỉ ngơi.

Phía Lào mờicác đồng chí lãnh đạo cao cấp của Nhà nước Việt Nam cùng gia đình sang nghỉngơi tại Lào.

Hai Bên quantâm tạo điều kiện thăm, nghỉ ngơi cho các cán bộ lão thành cách mạng và quântình nguyện của Việt Nam tại Lào.

5. Hai Bên thỏa thuận sẽtiến hành kỳ họp lần thử 28 ủy ban liên Chính phủ về hợp tác kinh tế, văn hóa,khoa học kỹ thuật vào đầu năm 2006 tại Viêng Chăn, Thủ đô nước Cộng hòa dân chủnhân dân Lào, thời gian cụ thể sẽ thông báo qua đường ngoại giao.

Biên bản nàyđược ký tại Hà Nội, Thủ đô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 07tháng 01 năm 2005 thành hai bản, mỗi bản bằng hai thứ tiếng Việt và tiếng Lào.Cả hai văn bản đều có giá trị như nhau./.

TM. CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
PHÓ THỦ TƯỚNG




Thoong-lun Xi-xu-lít

TM. CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
PHÓ THỦ TƯỚNG




Nguyễn Tấn Dũng