1. Quy định về biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự trước đây

Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự bảo đảm cho việc thi hành bản án, quyết định của toà án. Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự được quy định tại Chương IV Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004.

Theo Điều 37 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004, các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự gồm có: khấu trừ tài khoản, trừ vào tiền, thu hồi giấy tờ có giá của người phải thi hành án; trừ vào thu nhập của người phải thì hành án; phong toả tài khoản, tài sản của người phải thi hành án tại ngân hàng, tổ chức tín dụng, kho bạc nhà nước; kê biên, xử lí tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ; buộc giao nhà, chuyển quyền sử dụng đất hoặc giao vật, tài sản khác; cấm hoặc buộc người phải thi hành án không làm hoặc làm công việc nhất định.

Tùy từng trường hợp, để thi hành án, chấp hành viên quyết định áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự. Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự được thực hiện khi đã hết thời hạn tự nguyện thi hành án, trừ trường hợp cần áp dụng ngay theo quy định tại khoản 2 Điều 7 của Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004. Biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự được áp dụng phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án. Chấp hành viên ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự bằng văn bản.

2. Một số bện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự hiện nay

2.1 Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả vật

Biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả vật là biện pháp cưỡng chế thi hành án, do cơ quan thi hành án áp dụng khi người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ trả vật theo bản án, quyết định của toà án, được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành hoặc cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, huỷ hoại tài sản hoặc trốn tránh thi hành án.

Thông thường vật phải trả theo bản án, quyết định của toà án phải là vật đặc định và là động sản. Vật phải trả có thể là đồ dùng sinh hoạt trong gia đình như tivi, tù lạnh, quạt máy, tủ tường, giường, bàn ghế...; máy móc, công cụ lao động; phương tiện giao thông như ôtô, tàu, thuyền, xe máy; vật quý hiếm như vàng bạc, đá quý, đồ trang sức; các vật có giá trị văn hoá nghệ thuật như tranh ảnh, tác phẩm nghệ thuật ... Tuy nhiên, trong những trường hợp đặc biệt thì vật phải trả có thể là vật cùng loại.

Biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả vật được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau:

+ Sau khi đã hết thời hạn tự nguyện thi hành án nhưng người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án, trừ trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, huỷ hoại tài sản hoặc ừốn tránh việc thi hành án.

+ Vật phải giao hiện đang còn. cỏ nghĩa là vật đó phải đang tồn tại trên thực tế và do người phải thi hành án hoặc người thứ ba đang chiếm hữu, sử dụng.

việc thi hành án thì chấp hành viên cho thi hành theo thoả thuận. Trường hợp đương sự không thoả thuận được thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả đơn yêu cầu thi hành án. Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu toà án giải quyết về thiệt hại do vật phải trả không còn hoặc hư hỏng đến mức không sử dụng được. Trước đây, Điều 53 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 quy định trong trường hợp vật phải trả không còn thì chấp hành viên buộc người phài thi hành án trả cho người được thi hành án số tiền tương ứng với giá trị của vật tại thời điểm thi hành án.

Đối với vật phải trả là vật cùng loại thì chấp hành viên thực hiện việc cưỡng chế theo nội dung bản án, quyết định. Trường hợp vật phải trả không còn hoặc hư hỏng, giảm giá trị thì chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án trả vật cùng loại hoặc thanh toán giá trị của vật cùng loại, trừ trường hợp đương sự có thoả thuận khác.

2.2 Cưỡng chế Thi hành nghĩa vụ trả nhà, công trình xây dựng, vật kiến trúc khác

Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả nhà, công trình xây dựng, vật kiến trúc khác là biện pháp cưỡng chế thi hành án, do chấp hành viên áp dụng khi người phải thi hành án có nghĩa vụ trà nhà hoặc trả lại công trình xây dựng, vật kiến trúc khác theo bản án, quyết định hoặc theo quy định của pháp luật. Tuy cũng là biện pháp cưỡng chế thực hiện nghĩa vụ trả tài sản nhưng khác với cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả vật là động sản, đối tượng phải chuyển giao trong trường hợp này là những bất động sản có giá trị lớn và có ý nghĩa rất đặc biệt trong đời sống của con người. Mặc dù pháp luật không quy định cụ thể quan khác tham gia việc chuẩn bị cưỡng chế biết nội dung cưỡng chế. Thông bảo cưỡng chế cần nêu rõ ngày, giờ tổ chức cưỡng chế, yêu cầu người phải thi hành án và gia đình có mặt tại nơi phải thi hành án từ lúc tiến hành cưỡng chế cho đến khi chuyển xong tài sản của người phải thi hành án và gia đình ra khỏi diện tích họ phải thi hành án và phải chịu mọi chi phí cưỡng chế.

Theo quy định tại Điều 115 Luật thi hành án dân sự thì khi cưỡng chế trả nhà, chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án và những người khác có mặt trong nhà ra khỏi nhà, đồng thời yêu cầu họ tự chuyển tài sản ra khỏi nhà. Nếu họ không tự nguyện thực hiện quyết định thì chấp hành viên yêu cầu lực lượng cưỡng chế kiểm kê tài sản và đưa họ cùng tài sản ra khỏi nhà hoặc đến địa điểm mới (nếu có). Tại địa điểm mới, cơ quan thi hành án phân công lực lượng tiếp nhận và bàn giao tài sản cho người phải thi hành án. Nếu người phải thi hành án cố tình vắng mặt hoặc từ chối nhận tài sản thì chấp hành viên phải lập biên bản ghi rõ số lượng, chủng loại, tình trạng từng loại tài sản và giao tài sản cho tổ chức, cá nhân có điều kiện bảo quản hoặc bảo quản tại kho của cơ quan thi hành án và thông báo địa điểm, thời gian để người có tài sản nhận lại tài sản. Hết thời hạn 03 tháng, kể từ ngày được thông báo nhưng họ không đến nhận tài sản mà không có lí do chính đáng thì chấp hành viên cho định giá, bán tài sản theo quy định tại các điều 98, 99 và 101 của Luật thi hành án dân sự và gửi số tiền thu được theo hình thức tiết kiệm không kì hạn, đồng thời thông báo cho đương sự. Hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nếu đương sự vẫn không đến nhận số tiền đã được gửi tiết kiệm chữa được thực hiện sau khi có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án tháo dỡ để khôi phục nguyên ttạng nhà, công trình xây dựng, vật kiến trúc phải trả, nếu đương sự không tự nguyện tháo dỡ thì cơ quan thi hành án tổ chức cưỡng chế tháo dỡ để giao nhà, công trình xây dựng, vật kiến trúc theo bản án, quyết định, trừ trường hợp bên phải thi hành án thoả thuận được với người được thi hành án về việc đền bù phần xây dựng, sửa chữa. Hiện nay, Luật thi hành án dân sự không quy định phương thức xử lí trong trường hợp nhà, công trình xây dựng, vật kiến trúc không thể khôi phục nguyên hạng và các bên không thoả thuận được về tiền đền bù phần đã cải tạo, sửa chữa. Tuy vậy, trong những trường hợp này chấp hành viên vẫn có thể cưỡng chế trả nhà, công trình xây dựng, vật kiến trúc đồng thời hướng dẫn cho đương sự khởi kiện yêu cầu toà án giải quyết tranh chấp về phần đã cải tạo, sửa chữa.

2.3 Cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất

Cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định tại Điều 117 Luật thi hành án dân sự. Theo đó, cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất được áp dụng trong trường hợp sau:

+ Bản án, quyết định của toà án buộc người phải thi hành án phải chuyển giao quyền sử dụng đất cho người được thi hành án.

+ Người phải thi hành án phải chuyển quyền sử dụng đất cho người trúng đấu giá, người nhận quyền sử dụng đất để thi hành án.

Theo quy định tại Điều 117 Luật thi hành án dân sự thì khi cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất, chấp hành viên tổ chức giao.

2.4 Cưỡng chế giao, trả giấy tờ

Biện pháp cưỡng chế giao, trả giấy cho người được thi hành án có thể áp dụng với tư cách là biện pháp cưỡng chế độc lập hoặc áp dụng đồng thời với các biện pháp cưỡng chế khác như cưỡng chế trả vật, trả nhà, chuyển giao quyền sử dụng đất; kê biên, xử lí đối với những tài sàn phải đăng kí quyền sờ hữu hoặc đăng kí giao dịch bảo đảm; kê biên quyền sở hữu trí tuệ nếu trước đó chấp hành viên chưa tiến hành tạm giữ, thu giữ các giấy tờ liên quan đến tài sản đã kê biên. Giấy tờ phải trả có thể là chứng minh thư, hộ khẩu, hộ chiếu, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, giấy chứng nhận quyền sừ dụng đất, giấy tờ có giá, giấy đăng kí phương tiện giao thông, giấy phép lái xe ...

Theo quy định tại Điều 116 Luật thi hành án dân sự thì biện pháp cưỡng chế trả giấy tờ được áp dụng khi có các điều kiện sau:

+ Sau khi đã hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án, trừ trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, huỷ hoại giấy tờ hoặc trốn tránh việc thi hành ận.

+ Có căn cứ để xác định người phải thi hành án hoặc người thứ ba đang giữ giấy tờ thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người được thi hành án.

Khi có căn cứ để xác định giấy tờ của người được thi hành án đang do người phải thi hành án hay do người thứ ba giữ chấp hành viên ra quyết định cưỡng chế buộc họ chuyển giao giấy tờ đang giữ, nếu họ không tự nguyện chuyển giao giấy tờ thì chấp hành viên cưỡng chế buộc họ phải chuyển giao giấy tờ để thi hành án.

công khai xin lỗi người bị xúc phạm danh dự nhân phẩm, nhận người lao động bị buộc thôi việc trái phép trở lại làm việc, giao con cho người được nuôi dưỡng... Ngoài ra, công việc phải làm có thể là các công việc mà người phải thi hành án có thể chuyển giao cho người khác thực hiện thay như dỡ nhà xây dựng trái phép, ngăn chia ranh giới nhà đất, mở lối đi, chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất hợp pháp.

Khi cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc người phải thi hành án phải làm công việc nhất định, chấp hành viên công bố quyết định cưỡng chế và yêu cầu người phải thi hành án thực hiện công việc. Theo quy định tại Điều 118 Luật thi hành án dân sự thì trường hợp thi hành nghĩa vụ phải thực hiện công việc nhất định theo bản án, quyết định mà người phải thi hành án không thực hiện thì chấp hành viên quyết định phạt tiền và ấn định thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người đó thực hiện. Hết thời hạn đã ấn định mà người phải thi hành án không thực hiện, nếu công việc đó có thể giao cho người khác thực hiện thay thì chấp hành viên giao cho người có điều kiện thực hiện và buộc người phải thi hành án chịu các chi phí để thực hiện công việc. Đối với các công việc người phải thi hành án phải tự thực hiện thì chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.

Khi cưỡng chế thi hành nghĩa vụ không được làm công việc nhất định, chấp hành viên cũng phải công bố quyết định cưỡng chế và yêu cầu người phải thi hành án ngừng ngay công việc họ đang thực hiện. Theo quy định tại Điều 119 Luật thi hành án dân sự, nếu việc. Het thời hạn đã ấn định mà người sử dụng lao động không thực hiện thì chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lí kỉ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.

Nếu không thể bố trí người lao động trở lại làm công việc theo nội dung bản án, quyết định thì người sử dụng lao động phải bố trí công việc khác vói mức tiền lương tương đương theo quy định của pháp luật lao động. Trường hợp người lao động không chấp nhận công việc được bố trí và yêu cầu người sử dụng lao động thanh toán các chế độ theo quy định của pháp luật lao động thì người sử dụng lao động phải thực hiện việc thanh toán để chấm dứt nghĩa vụ thi hành án. Người sử dụng lao động phải thanh toán cho người lao động khoản tiền lương trong thời gian chưa bố trí được công việc theo bản án, quyết định, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi người lao động được nhận trở lại làm việc.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến luật dân sự, luật thi hành án dân sự về cưỡng chế thi hành án dân sự. Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến. Đội ngũ luật sư luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc của Bạn.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê