1. Mẫu giấy ủy quyền trong tham gia tố tụng dân sự

Công ty Luật Minh Khuê cung cấp văn bản Ủy quyền tham gia tố tụng dân sự mới nhất theo quy định của pháp luật hiện nay để quý khách hàng tham khảo và áp dụng trong từng trường hợp cụ thể:

>> Tải ngay: Mẫu giấy ủy quyền dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
----------------- o0o -----------------

GIẤY ỦY QUYỀN

(Dành cho cá nhân)

- Căn cứ Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các văn bản hiến pháp hiện hành.

- Căn cứ vào sự thỏa thuận của các bên;

......., ngày...... tháng...... năm 20...... ; chúng tôi gồm có:

I. BÊN ỦY QUYỀN (Bên A) :

Họ tên:.....................................................................................................................

Địa chỉ:.....................................................................................................................

Số CMND: .........................Cấp ngày: .........................Nơi cấp:..............................

Quốc tịch:.................................................................................................................

II. BÊN ĐƯỢC ỦY QUYỀN (Bên B):

Họ tên:......................................................................................................................

Địa chỉ:......................................................................................................................

Số CMND: .................................Cấp ngày: ............................Nơi cấp:...................

Quốc tịch:.................................................................................................................

III. NỘI DUNG ỦY QUYỀN:

Bằng giấy ủy quyền này Bên A ủy quyền cho bên B được thực hiện các công việc sau đây:

Được đại diện cho bên A tham gia tố tụng và thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về tố tụng và các văn bản pháp luật có liên quan tới tố tụng đối với các vụ việc dân sự tranh chấp mà bên A là đương sự; ký vào các văn bản, giấy tờ nộp tiền án phí, tạm ứng án phí hoặc nhận lại hoàn toàn tạm ứng phí dân sự.

Đại diện cho bên A thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong thi hành án dân sự: Ký Đơn yêu cầu thi hành án, khiếu nại về việc thi hành án dân sự; nộp tiền tạm ứng hoặc nhận lại hoàn toàn tạm ứng phí thi hành án dân sự.

IV. THỜI HẠN ỦY QUYỀN

Văn bản ủy quyền này có hiệu lực từ ngày ký cho đến khi được thay thế văn bản ủy quyền khác.

V. CAM KẾT

Hai bên cam kết sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Pháp luật về mọi thông tin ủy quyền ở trên.

Mọi tranh chấp phát sinh giữa bên ủy quyền và bên được ủy quyền sẽ do hai bên tự giải quyết.

Giấy ủy quyền trên được lập thành .......... bản, mỗi bên giữ ......... bản.

BÊN ỦY QUYỀN
(Ký, họ tên)

BÊN ĐƯỢC ỦY QUYỀN
(Ký, họ tên)

2. Đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự

Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 15/6/2004 đã bổ sung và hoàn thiện thêm về chế định người đại diện của đương sự, đặc biệt liên quan đến các quy định về người đại diện theo ủy quyền. Trong phạm vi bài viết dưới đây, tác giả trao đổi một số vấn đề xung quanh quy định về ủy quyền và việc chấm dứt đại diện theo ủy quyền, những vướng mắc nảy sinh từ việc hiểu và áp dụng các quy định của BLTTDS về vấn đề này trong thực tiễn thụ lý và giải quyết các tranh chấp dân sự.

Từ đó, tác giả đưa ra kiến nghị góp phần hoàn thiện về ủy quyền và việc chấm dứt đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự.

Việc tham gia của người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự

Tương tự như trong pháp luật nội dung (Xem hộp 1), pháp luật tố tụng dân sự (từ Điều 73 đến Điều 78 Bộ luật tố tụng dân sự) phân chia người đại diện ra làm 2 loại là người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền. Việc tham gia tố tụng của người đại diện của đương sự nói chung và người đại diện theo ủy quyền nói riêng trong tố tụng dân sự có ý nghĩa rất lớn đối với việc giải quyết các vụ án dân sự, đặc biệt trong trường hợp đương sự không tự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến (24/7) gọi số: 1900.6162

Hộp 1: Theo Bộ luật Dân sự (BLDS) “Đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản” (Điều 151). Người đại diện theo ủy quyền là:

Cá nhân, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác có thể ủy quyền cho người khác phù hợp với quy định của Bộ luật này nhân danh mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự” (Điều 152). Điều 150 khoản 2 làm rõ hơn khái niệm hạn chế đối với người đại diện theo ủy quyền “Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không được làm người đại diện theo ủy quyền”.

Như vậy, khi hai bên (bên ủy quyền và bên được ủy quyền) thiết lập một quan hệ ủy quyền đồng thời thiết lập một quan hệ hợp đồng với tính chất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó, bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền. Bên ủy quyền phải trả thù lao nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Trong quan hệ ủy quyền, người được ủy quyền thay mặt người ủy quyền thực hiện một số hành vi nhất định làm phát sinh hậu quả pháp lý liên quan đến quyền lợi của các bên trong quan hệ hợp đồng hoặc lợi ích của người đã ủy quyền trong phạm vi ủy quyền. Vì vậy, xét về mặt bản chất pháp lý, quan hệ ủy quyền luôn tồn tại 2 quan hệ:

1) Quan hệ giữa người ủy quyền và người được ủy quyền. Trong quan hệ này người được uỷ quyền có nghĩa vụ phải thực hiện các hành vi pháp lý trong phạm vi ủy quyền. Người được ủy quyền phải trực tiếp thực hiện nghĩa vụ của mình mà không được ủy quyền lại cho người khác trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

2) Quan hệ giữa người được ủy quyền với bên thứ ba của giao dịch. Người được ủy quyền với tư cách của người đã ủy quyền giao kết hoặc thực hiện các giao dịch dân sự với bên thứ ba. Người được ủy quyền có những quyền và nghĩa vụ nhất định với bên thứ ba của giao dịch.

Người đại diện theo ủy quyền được hiểu là người thay mặt đương sự tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự theo sự ủy quyền của đương sự. Trong thực tiễn, rất nhiều trường hợp đương sự thường không có kinh nghiệm tham gia tố tụng và thiếu sự hiểu biết pháp luật đầy đủ, vì vậy, để bảo vệ quyền lợi cho đương sự BLTTDS quy định đương sự có thể ủy quyền cho Luật sư hoặc người khác (trừ những trường hợp không được làm người đại diện theo quy định tại Điều 75 BLTTDS) đại diện tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong mọi việc, ngoại trừ đối với việc ly hôn vì liên quan đến quan hệ tình cảm giữa các đương sự (Điều 73 BLTTDS).

Khi các chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự, các chủ thể hoàn toàn bình đẳng về địa vị pháp lý, có quyền tự định đoạt. Khi xảy ra tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa họ thì họ có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu giải quyết các tranh chấp dân sự. Quyền hợp pháp này được ghi nhận tại Điều 161 BLTTDS: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”. Như vậy, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị các chủ thể khác xâm phạm hoặc có thể ủy quyền cho người đại diện khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình. Quy định này cũng phù hợp với quy định của BLDS về hợp đồng ủy quyền. Về nguyên tắc, việc ủy quyền của đương sự cho người đại diện phải được lập thành văn bản (Điều 586 BLDS), trong đó phải nêu rõ phạm vi ủy quyền. Hình thức ủy quyền là căn cứ pháp lý để xác định phạm vi ủy quyền, nghĩa vụ của người được ủy quyền, đồng thời xác định trách nhiệm dân sự của người ủy quyền hoặc người được ủy quyền khi tham gia vào quan hệ tố tụng dân sự. Đương sự có thể ủy quyền cho người đại diện một phần hoặc toàn bộ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Người đại diện theo ủy quyền được thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự trong phạm vi ủy quyền (Điều 74 BLTTDS).

Thực trạng áp dụng

Thực tiễn xét xử hiện nay đang gặp nhiều lúng túng trong việc hiểu và vận dụng quy định của BLTTDS hướng dẫn về vấn đề này.

1. Xác định tính hợp pháp về hình thức của đơn khởi kiện do người đại diện theo ủy quyền đứng đơn khởi kiện

Về hình thức, nội dung đơn khởi kiện, tại điểm 1 khoản 2 Điều 164 BLTTDS quy định: “Người khởi kiện là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; nếu cơ quan, tổ chức khởi kiện thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu ở phần cuối đơn”.

Tuy nhiên, trong trường hợp nguyên đơn do ở xa và vì nhiều lý do khác nhau không thể trực tiếp tham gia vụ kiện, do đó, nguyên đơn lập hợp đồng uỷ quyền cho người được uỷ quyền thay mặt mình giải quyết tranh chấp cả trong giai đoạn tiền tố tụng (chẳng hạn như thay mặt người ủy quyền hoà giải tại cấp cơ sở đối với những vụ kiện tranh chấp quyền sử dụng đất…) và trong quá trình tố tụng tại Tòa án. Nhiều trường hợp nguyên đơn lập hợp đồng uỷ quyền cho người đại diện hợp pháp với phạm vi ủy quyền được xác định cụ thể là “Bên được ủy quyền được quyền nhân danh và thay mặt Bên ủy quyền làm đơn khởi kiện và tham gia tố tụng từ khi Tòa sơ thẩm thụ lý giải quyết vụ án cho đến khi kết thúc quá trình tố tụng. Mọi ý kiến và quyết định của bên được ủy quyền là ý kiến, quyết định của bên ủy quyền”. Vì vậy, người đại diện theo uỷ quyền làm đơn khởi kiện và ký tên trong đơn khởi kiện. Việc này có 2 quan điểm:

1. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện phải trực tiếp ký đơn mà không được thông qua người đại diện theo ủy quyền mặc dù có hợp đồng ủy quyền hợp pháp với phạm vi ủy quyền bao gồm cả ủy quyền khởi kiện. Đơn khởi kiện phải thể hiện rõ nội dung vụ việc và những yêu cầu của người khởi kiện đối với Tòa án, do đó, người khởi kiện là cá nhân phải trực tiếp ký tên vào đơn khởi kiện, nếu là người đại diện của cơ quan, tổ chức thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu ở phần cuối đơn. Đây là điều kiện bắt buộc về mặt hình thức của đơn khởi kiện mà điểm 1 khoản 2 Điều 164 quy định.

2. Khi tồn tại hợp đồng ủy quyền hợp pháp, ý chí của người ủy quyền đã thể hiện rõ trong nội dung và phạm vi ủy quyền. Vì vậy, không nhất thiết buộc người khởi kiện phải trực tiếp viết và ký vào đơn mà căn cứ theo hợp đồng ủy quyền được xác lập giữa người ủy quyền và người đại diện theo ủy quyền, người đại diện theo ủy quyền hoàn toàn có quyền viết và ký đơn.

Về lý luận, đơn khởi kiện là cơ sở pháp lý để Tòa án xem xét thụ lý vụ án dân sự; cá nhân, cơ quan tổ chức có thể ủy quyền cho người đại diện khởi kiện để bảo vệ lợi ích của mình (Điều 161 BLTTDS).

Khi xác lập quan hệ ủy quyền, người được ủy quyền sẽ thay mặt và đại diện cho người ủy quyền thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng trong phạm vi và nội dung ủy quyền, đồng thời chịu trách nhiệm về công việc ủy quyền. Vì vậy, không thể nói rằng nếu người đại diện ủy quyền ký vào đơn khởi kiện là không thể hiện ý chí và nguyện vọng của người khởi kiện. Mặt khác, nhiều trường hợp cơ quan, tổ chức làm hợp đồng ủy quyền cho Luật sư thay mặt cơ quan, tổ chức khởi kiện và tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Nếu bắt buộc “đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu ở phần cuối đơn” thì không thể thực hiện được (Luật sư không phải là chủ thể có đủ thẩm quyền để đóng con dấu của Bên ủy quyền – cơ quan, tổ chức đó). Mặt khác, Điều 161 quy định: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện)..”. Bản thân quy định chung này đã trao quyền cho người đại diện hợp pháp khởi kiện và người đại diện hợp pháp được đặt trong thuật ngữ chung gọi là “người khởi kiện”. Bên cạnh đó, về nội dung, điểm 1 khoản 2 Điều 164 không cấm người đại diện ủy quyền đứng tên trong đơn khởi kiện.

Vì vậy, để thống nhất trong việc áp dụng luật, Tòa án nhân dân tối cao cần sớm có hướng dẫn cụ thể về Điều 164 BLTTDS, trong đó, có việc xác định tính hợp pháp về hình thức của đơn kiện trong 2 trường hợp:

Một là: Người khởi kiện là cá nhân phải điểm chỉ vào đơn; nếu cơ quan, tổ chức khởi kiện thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn (theo điểm 1 khoản 2 Điều 164 BLTTDS).

Hai là: Người đại diện ủy quyền của cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện phải ký tên vào phần cuối đơn. Kèm theo đơn khởi kiện, người đại diện ủy quyền phải xuất trình được hợp đồng ủy quyền hợp pháp với phạm vi ủy quyền được xác định rõ bao gồm cả ủy quyền đứng đơn khởi kiện.

2. Về hình thức văn bản ủy quyền và việc xác định loại ủy quyền

Điều 586 BLDS có quy định: “Hợp đồng ủy quyền phải lập thành văn bản; nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định, thì hợp đồng ủy quyền phải có chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền”. Quy định này chưa rõ ủy quyền phải qua công chứng, chứng thực trong những trường hợp nào. Điều này liên quan đến việc chấp nhận hay không chấp nhận văn bản ủy quyền do các bên xuất trình tại Tòa.

Thẩm quyền đại diện theo ủy quyền phụ thuộc vào loại ủy quyền:

- ủy quyền một lần cho phép thực hiện đại diện để thực hiện một hành vi nhất định;

- ủy quyền riêng biệt quy định thẩm quyền đại diện trong một thời gian nhất định, đối với một loại hành vi nhất định;

- Thẩm quyền đại diện chung, đó là người đại diện theo ủy quyền được người ủy quyền trao cho thẩm quyền đại diện chung. Thẩm quyền đại diện trong trường hợp này có hiệu lực đối với nhiều loại hành vi trong một khoảng thời gian nhất định. Người được ủy quyền chung có thể thực hiện mọi công việc thay mặt người ủy quyền trong thời hạn đó.

Xác định loại ủy quyền liên quan đến việc xác định các hình thức ủy quyền. Có nhiều hình thức ủy quyền vẫn tồn tại:

- Hình thức ủy quyền giữa cá nhân với cá nhân: Bằng việc lập một hợp đồng ủy quyền có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

- Trong các cơ quan nhà nước, người đứng đầu cơ quan nhà nước ra quyết định phân công nhiệm vụ cho cấp phó hoặc công chức trong cơ quan khi tham gia quan hệ giao dịch với chủ thể khác thông qua giấy giới thiệu của cơ quan.

- Hình thức ủy quyền chuyên biệt mang tính thường xuyên trong nội bộ pháp nhân. Trong hoạt động pháp nhân hiện nay tồn tại phổ biến hình thức ủy quyền này. Theo quy định tại Điều 102 BLDS đại diện theo pháp nhân có thể đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền. Đại diện theo pháp luật của pháp nhân là người đứng đầu pháp nhân được quy định trong quyết định thành lập pháp nhân hoặc trong điều lệ của pháp nhân. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể ủy quyền cho người khác thay mình thực hiện nhiệm vụ đại diện. Pháp nhân phải chịu trách nhiệm về hành vi của người đại diện theo ủy quyền. Để xác định rõ trách nhiệm của pháp nhân hay trách nhiệm của cá nhân cần phải quy định cụ thể về hình thức ủy quyền. Thông thường người đứng đầu pháp nhân chỉ phụ trách việc điều hành tổng thể, còn các cấp phó mỗi người phụ trách một công việc nhất định. Đây là loại hình thức ủy quyền chuyên biệt, thường xuyên và người được ủy quyền phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước người ủy quyền về mảng công việc của mình.

Trong quá trình thụ lý giải quyết tranh chấp dân sự, nhiều vụ kiện giữa pháp nhân với cá nhân không có đăng ký kinh doanh nảy sinh các tranh chấp trong các quan hệ hợp đồng hoặc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Thông thường, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân là giám đốc, hoặc tổng giám đốc. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân đó đứng ra khởi kiện, ký tên, đóng dấu vào đơn khởi kiện hoặc ủy quyền cho người khác khởi kiện. Thực tiễn tại các Tòa án đã có nhiều trường hợp, phó giám đốc (hoặc phó tổng giám đốc) đứng đơn khởi kiện hoặc ủy quyền cho Luật sư hoặc người khác đại diện tham gia tố tụng, trong nhiều vụ kiện người đứng đầu pháp nhân không lập hợp đồng ủy quyền mà thông qua giấy giới thiệu của cơ quan với nội dung ủy quyền cho công chức hoặc nhân viên của mình thay mặt pháp nhân tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện theo ủy quyền. Việc có chấp nhận hay không chấp nhận các văn bản ủy quyền này đặt ra nhiều vấn đề.

Theo pháp luật tố tụng dân sự thì đương sự là pháp nhân tham gia tố tụng thông qua người lãnh đạo của mình hoặc người đại diện được pháp nhân ủy quyền bằng văn bản. Đối với trường hợp pháp nhân tham gia tố tụng tại Tòa án liên quan đến lĩnh vực phó giám đốc (hoặc phó tổng giám đốc) được phân công phụ trách ghi trong điều lệ pháp nhân thì việc xác định giá trị pháp lý của văn bản ủy quyền do phó giám đốc (hoặc phó tổng giám đốc) ký là vấn đề còn nhiều vướng mắc. Điều này liên quan đến quy định về loại ủy quyền và hình thức ủy quyền đang bỏ trống trong BLDS.

Có ý kiến cho rằng việc kiểm tra tính hợp pháp của các văn bản ủy quyền còn liên quan đến việc xác định tính chất của loại hình ủy quyền chuyên biệt. Tòa án cần xem xét các văn bản do pháp nhân cung cấp có thuộc loại hình ủy quyền chuyên biệt này hay không. Nếu xác định là có việc ủy quyền chuyên biệt thì văn bản ủy quyền này được chấp nhận. (Xem hộp 2).

Hộp 2: Về vấn đề này Tòa án nhân dân tối cao đã có hướng dẫn tại công văn số 227/2004 ngày 30/12/2004, tuy nhiên, chỉ đề cập đến văn bản của UBND do Phó Chủ tịch UBND ký ủy quyền cho cán bộ đại diện tham gia tố tụng dân sự, hành chính. Trong công văn này có hướng dẫn cụ thể: “Đối với trường hợp Uỷ ban nhân dân tham gia tố tụng tại TAND giải quyết các vụ án dân sự, hành chính liên quan đến lĩnh vực Phó Chủ tịch UBND được Chủ tịch UBND phân công phụ trách thì Phó Chủ tịch UBND được quyền tự mình thay mặt Chủ tịch UBND tham gia tố tụng hoặc ủy quyền bằng văn bản cho người khác tham gia tố tụng. Tòa án chấp nhận ủy quyền này là hợp pháp ”.

Tuy nhiên, đó mới chỉ là hướng dẫn về một trường hợp cụ thể mà không phải cho mọi trường hợp liên quan đến việc xác định tính chất của loại ủy quyền.

Vì vậy, bên cạnh việc hoàn thiện các quy định của pháp luật nội dung trong việc bổ sung điều luật về hình thức ủy quyền, loại ủy quyền, Toà án nhân dân tối cao nên sớm có văn bản hướng dẫn giải thích về hình thức ủy quyền tố tụng, cụ thể là đối với chủ thể ủy quyền của loại hình ủy quyền mang tính chuyên biệt (không riêng đối với ủy quyền của Chủ tịch UBND); hình thức văn bản ủy quyền tham gia tố tụng có phải qua công chứng, chứng thực hay không? Có phải lập hợp đồng ủy quyền hay chỉ là giấy ủy quyền, hoặc giấy giới thiệu – đối với cơ quan, tổ chức?

3. Việc chấm dứt đại diện ủy quyền trong tố tụng dân sự

Ngoài việc quy định các loại đại diện, phạm vi đại diện, quyền và nghĩa vụ của người đại diện. BLTTDS quy định những căn cứ chấm dứt đại diện làm cơ sở cho việc xác định các hoạt động tố tụng hợp pháp của người đại diện theo ủy quyền (Điều 77 BLTTDS).

Quy định chấm dứt tư cách của người đại diện theo ủy quyền có thể xảy ra trong nhiều trường hợp. Tòa án áp dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 156 BLTTDS “Chấm dứt đại diện của cá nhân”, Điều 157 “Chấm dứt đại diện của pháp nhân”, Điều 594 “Chấm dứt hợp đồng ủy quyền” để xác định việc đại diện theo ủy quyền chấm dứt trong các trường hợp:

Thời hạn ủy quyền theo hợp đồng ủy quyền đã hết. Về nguyên tắc trong thời hạn ủy quyền, bên được ủy quyền phải thực hiện xong công việc đã được ủy quyền. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp vì những lý do khách quan hoặc chủ quan, bên được ủy quyền chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa xong nghĩa vụ theo thỏa thuận trong hợp đồng mà việc ủy quyền đã hết thời hạn thì hợp đồng ủy quyền vẫn chấm dứt về mặt pháp lý trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

Công việc ủy quyền đã hoàn thành;

Người ủy quyền hủy bỏ việc ủy quyền hoặc người được ủy quyền từ chối việc ủy quyền;

Người ủy quyền hoặc người được ủy quyền chết, mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Tòa án tuyên bố mất tích hoặc tuyên bố chết.

Tương tự như vậy, đối với đại diện theo ủy quyền của đương sự là pháp nhân đại diện ủy quyền chấm dứt khi thời hạn ủy quyền đã hết hoặc công việc ủy quyền đã hoàn thành; người đại diện theo pháp luật của pháp nhân hủy bỏ việc ủy quyền hoặc pháp nhân chấm dứt.

Như vậy, pháp luật cho phép chấm dứt tư cách của người đại diện theo ủy quyền căn cứ theo ý chí của một bên trong quan hệ ủy quyền.

Việc đơn phương đình chỉ hợp đồng ủy quyền có thể đặt ra với cả 2 bên đại diện uỷ quyền và bên ủy quyền. Rất tiếc, trong pháp luật nội dung và tố tụng đều chưa đề cập đến quy định này.

Tại Điều 593 “đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng uỷ quyền” có đề cập đến thủ tục chấm dứt ủy quyền trong trường hợp uỷ quyền có thù lao và uỷ quyền không có thù lao. Khoản 1 Điều 593 quy định: “Nếu uỷ quyền không có thù lao, thì bên uỷ quyền có thể đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước cho bên kia một thời hạn hợp lý”. Quy định này chưa rõ thế nào là thời hạn hợp lý? việc đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng ủy quyền thể hiện dưới hình thức nào?

Chính nội dung đó đã dẫn đến các yêu cầu xử lý về văn bản tố tụng khác nhau ở các Tòa án. Có Toà cho rằng khi các bên lập hợp đồng ủy quyền qua công chứng, chứng thực thì khi đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng ủy quyền đó cũng phải qua công chứng, chứng thực. Nhưng, ở Tòa án khác lại cho rằng chỉ cần có văn bản của một bên xác định việc đơn phương đình chỉ hợp đồng ủy quyền là có thể chấp nhận.

Chúng tôi cho rằng đã nói đơn phương đình chỉ hợp đồng là thể hiện ý chí của một bên trong việc chấm dứt hợp đồng. Vì vậy, chỉ cần sự thể hiện bằng văn bản về việc chấm dứt hợp đồng uỷ quyền là được Toà án chấp nhận. Trong nhiều trường hợp, việc thể hiện ý chí này cũng không nhất thiết phải lập thành văn bản. Chẳng hạn việc chấm dứt ủy quyền ngay tại phần thủ tục bắt đầu phiên toà khi kiểm tra các căn cước của các đương sự, nếu vụ án có người đại diện ủy quyền. Nếu đương sự hoặc người đại diện theo ủy quyền khẳng định trước Hội đồng xét xử về việc rút ủy quyền ngay tại phiên toà thì không nhất thiết phải lập thành biên bản. ý chí chấm dứt ủy quyền của một bên trong quan hệ ủy quyền được thể hiện trong biên bản phiên tòa.

Ngoài ra, có quan điểm đề xuất cần quy định thống nhất về thời hạn ủy quyền. (Xem hộp 3)

Hộp 3: Trong bài “ủy quyền và đại diện” đăng trên báo Pháp luật Việt Nam – số 94 (2564) thứ Tư, ra ngày 20/4/2005, tác giả Đào Xuân Tiến đề xuất: “… cần quy định ủy quyền trực tiếp và quy định thời hạn cụ thể cho việc ủy quyền. Thực tế, có những trường hợp không phải ủy quyền trực tiếp 1 lần mà là ủy quyền kế tiếp nhiều lần, ví dụ A ủy quyền cho B, sau đó B lại ủy quyền cho C…Thực ra A có thể ủy quyền cho C nhưng trước đó phải chấm dứt uỷ quyền với B. Việc quy định thời hạn chung cho việc ủy quyền nhằm thống nhất quyền và nghĩa vụ của các chủ thể dân sự. Nhiều trường hợp, yếu tố thời gian trong ủy quyền mang tính quyết định về quyền, nghĩa vụ của chủ thể. Ví dụ: Nếu A ủy quyền vô thời hạn cho B sử dụng căn nhà thì rõ ràng ủy quyền này đã biến dạng thành việc chuyển quyền sở hữu căn nhà từ A sang B, hoặc nói cách khác, ủy quyền như vậy không khác là một hợp đồng tặng cho bất động sản giữa A và B. Trong tiết a, khoản 2 điều 139 dự thảo BLDS đã quy định về việc chấm dứt đại diện theo ủy quyền trong trường hợp “hết thời hạn uỷ quyền”. Quy định như vậy là chưa cụ thể mà cần bổ sung thêm quy định về thời hạn chung cho việc ủy quyền nhiều nhất là 3 năm, nếu trong giấy ủy quyền không ghi uỷ quyền thì chỉ được coi việc ủy quyền này có thời hạn 1 năm.

MKLAW FIRM (biên tập)

3. Thực tiễn thi hành pháp luật về đại diện ủy quyền trong án dân sự

Thực tiễn xét xử án dân sự, không ít lần giữa VKS và tòa, giữa tòa cấp dưới với tòa cấp trên đã tranh cãi về chuyện ủy quyền của các đương sự.Nguyên nhân là quy định chưa cụ thể, chưa điều chỉnh được một số tình huống mới phát sinh trong đời sống…

Năm 2007, ba nhân viên của một công ty bị bắt, bị khởi tố vì trộm giấy ủy nhiệm chi mà giám đốc công ty ký sẵn (trị giá hơn 3,6 tỉ đồng) rồi mang đến một chi nhánh của Ngân hàng B yêu cầu chuyển tiền vào tài khoản cá nhân.

Có cần ghi rõ phạm vi ủy quyền?

Sau đó, Ngân hàng B ủy quyền cho chi nhánh nơi các bị can đến chuyển tiền tham gia phiên tòa sơ thẩm với tư cách là bên có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Sau phiên sơ thẩm cuối năm 2010 của TAND TP.HCM, chi nhánh ngân hàng kháng cáo về phần bồi thường dân sự.

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến (24/7) gọi số: 1900.6162

Trong phiên phúc thẩm gần đây, đại diện VKSND Tối cao đã đề nghị tòa bác kháng cáo vì theo nội dung giấy ủy quyền thì Ngân hàng B chỉ ủy quyền cho chi nhánh tham gia phiên sơ thẩm chứ không ủy quyền cả việc kháng cáo. Việc kháng cáo của chi nhánh ngân hàng là vượt quá phạm vi ủy quyền.

Tuy nhiên, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM lại cho rằng chi nhánh ngân hàng đã được Ngân hàng B ủy quyền thường xuyên để giải quyết công việc hằng ngày. Vì thế, đại diện chi nhánh ngân hàng có thể tham gia ở bất kỳ giai đoạn tố tụng nào trong một vụ án có liên quan tới mình. Từ đó, tòa tiếp tục xử chứ không bác kháng cáo như đề nghị của đại diện VKS.

Nhận định của tòa phúc thẩm đã gây tranh cãi về mặt pháp lý. Theo Thẩm phán Nguyễn Huy Hoàng (TAND quận Gò Vấp, TP.HCM), quan điểm của đại diện VKSND Tối cao là hợp lý. Thẩm phán Hoàng lý giải: Đương sự phải ghi rõ nội dung ủy quyền vì sơ, phúc thẩm là hai giai đoạn tố tụng độc lập, khác nhau.

Đồng tình, TS Nguyễn Văn Tiến (giảng viên Trường ĐH Luật TP.HCM) cũng nhận xét: Mỗi giai đoạn tố tụng bao hàm những thủ tục khác nhau nên cần những yêu cầu khác nhau. Vì lẽ đó, việc đòi hỏi giấy ủy quyền phải ghi rõ từng nội dung ủy quyền không hẳn là vô cớ.

Khi nào phải làm lại giấy ủy quyền?

Tháng 3-2006, bà PTNN khởi kiện yêu cầu người con trai trả lại một phần đất tại huyện Dầu Tiếng (Bình Dương). Tháng 7-2006, TAND huyện Dầu Tiếng xử sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu của bà N. Đầu năm 2007, TAND tỉnh Bình Dương xử phúc thẩm cũng tuyên bà N. thắng kiện…

Sau khi chánh án TAND Tối cao kháng nghị giám đốc thẩm, tháng 6-2010, Tòa Dân sự TAND Tối cao đã hủy cả hai bản án sơ, phúc thẩm, giao hồ sơ cho TAND huyện Dầu Tiếng xử sơ thẩm lại. Tháng 8-2011, TAND huyện Dầu Tiếng xử sơ thẩm lần hai với kết quả như lần xử sơ thẩm đầu tiên. Sau đó, người con kháng cáo…

Trong vụ này, điều đáng nói là sau khi thụ lý lại, TAND huyện Dầu Tiếng đã không yêu cầu một người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan làm lại giấy ủy quyền mới mà vẫn giữ nguyên giấy ủy quyền của lần xử sơ thẩm thứ nhất. Ngoài ra, tòa còn chấp nhận một giấy ủy quyền không hợp lệ về hình thức: Ban đầu, do thiếu hiểu biết nên bà N. cùng bốn người khác đồng đứng đơn kiện rồi ủy quyền cho một người tham gia tố tụng. Sau đó, tòa xác định chỉ có bà N. là nguyên đơn, bốn người kia có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Lẽ ra phải yêu cầu bà N. làm giấy ủy quyền mới thì tòa lại chấp nhận luôn giấy ủy quyền cũ.

Theo Thẩm phán Nguyễn Huy Hoàng, tòa không yêu cầu các đương sự làm ủy quyền mới là vi phạm tố tụng nghiêm trọng, có thể bị hủy án. Bởi lẽ khi một bản án bị hủy để xử lại thì quá trình tố tụng đương nhiên được quay lại từ đầu nên tòa bắt buộc phải yêu cầu đương sự làm giấy ủy quyền mới. Chưa kể, ý chí của các đương sự lúc đó có thể khác với trước. Tuy nhiên, để tạo thuận lợi cho đương sự, tòa có thể linh động mời các bên đến hỏi xem họ có đồng ý giữ nguyên nội dung ủy quyền cũ hay không. Thậm chí ngay tại lúc mở đầu phiên xử, tòa cũng có thể hỏi như trên rồi lập biên bản ghi nhận.

Thẩm phán Phạm Công Hùng (Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM) lại cho rằng nên chia thành hai dạng cụ thể: Nếu giấy ủy quyền cũ chỉ ghi chung chung thì khi thụ lý lại vụ án, tòa phải yêu cầu đương sự làm ủy quyền mới để tránh vi phạm tố tụng. Nếu giấy ủy quyền cũ có ghi đầy đủ nội dung, thời gian, phạm vi, thời hạn ủy quyền, mặt khác bên ủy quyền và bên nhận ủy quyền không có gì thay đổi thì nó vẫn có nguyên giá trị. Bởi lẽ việc hủy án xử lại chỉ là trình tự tố tụng, còn việc ủy quyền liên quan đến quyền và nghĩa vụ của đương sự. Hai việc này hoàn toàn khác nhau…

Ủy quyền “chi ly” hay “bao quát”?

Xung quanh chuyện phạm vi ủy quyền của đương sự, hiện đang có hai luồng ý kiến khác nhau.

Luồng ý kiến thứ nhất dựa vào hướng dẫn tại Nghị quyết 05 năm 2006 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao cho rằng người ủy quyền phải liệt kê rõ ràng từng nội dung ủy quyền trong văn bản. Chẳng hạn, giấy ủy quyền phải ghi “ông A. được thay mặt tôi kháng cáo bản án” thì người đại diện mới có quyền kháng cáo.

Luồng ý kiến thứ hai thoáng hơn, lập luận Điều 73 BLTTDS (về người đại diện) không bắt buộc giấy ủy quyền phải ghi chi ly từng công việc của người đại diện nên chỉ cần ghi có tính bao quát là đủ. Chẳng hạn ghi “ông A. được thay mặt tôi tham gia tố tụng” thì người đại diện đương nhiên có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ xuyên suốt trong mọi giai đoạn tố tụng.

Không cần liệt kê cụ thể

Trong vụ việc của ngân hàng, theo tôi không cần liệt kê rõ từng nội dung và yêu cầu mỗi giai đoạn tố tụng phải có một ủy quyền mới. Về nguyên tắc, khi hợp đồng ủy quyền được xác lập, có công chứng thì người đại diện được làm tất cả những gì đã nhận ủy quyền. Không phải máy móc hiểu là trong giấy ủy quyền ghi hai chữ kháng cáo thì người nhận ủy quyền mới được kháng cáo. Trừ khi ủy quyền có ghi thời gian thì hết thời hạn đó phải làm ủy quyền mới. Nhưng riêng trong giai đoạn thi hành án thì chuyện ủy quyền phải cụ thể, chi tiết và thường phải làm ủy quyền mới.

Luật sư TRẦN HẢI ĐỨC, Đoàn Luật sư TP.HCM

Tùy nội dung ủy quyền

Ở vụ của bà N., tôi cho rằng phải tùy vào nội dung ủy quyền mới xác định được là cần giấy ủy quyền khác hay không. Nếu giấy ủy quyền ghi rõ người đại diện chỉ được thay mặt đương sự tham gia giai đoạn sơ thẩm hoặc phúc thẩm (giới hạn phạm vi ủy quyền) thì khi án bị hủy, họ phải làm lại ủy quyền mới. Nếu giấy ủy quyền có ghi thời gian được ủy quyền thì hết thời gian đó đương nhiên nó hết hiệu lực, phải làm ủy quyền lại. Còn nếu giấy ủy quyền chỉ ghi chung chung là “được quyền thay mặt giải quyết mọi vấn đề liên quan đến khi vụ án kết thúc” thì tòa vẫn có thể chấp nhận giấy cũ.

Luật sư TRẦN NGỌC QUÝ, Đoàn Luật sư TP.HCM

Cần hướng dẫn

Đã đến lúc TAND Tối cao có văn bản hướng dẫn đầy đủ quy định từ hình thức, nội dung cho đến việc thế nào là một giấy ủy quyền hợp lệ. Có hướng dẫn để áp dụng thống nhất sẽ tránh được những sai sót và tranh cãi như hiện nay.

TS NGUYỄN VĂN TIẾN, Trường ĐH Luật TP.HCM

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

4. Tranh chấp hợp đồng dân sự về hủy bỏ hợp đồng ủy quyền

Bà L. (ngụ Q.11, TP.HCM) đến phòng công chứng để công chứng hợp đồng ủy quyền, nội dung là ủy quyền cho em của bà (ông V.L.), thay mặt bà xin cấp đổi chủ quyền căn nhà thừa kế chung, ký hợp đồng bán nhà tại cơ quan có thẩm quyền. Đồng thời hai bên cũng thỏa thuận trong hợp đồng ủy quyền là ủy quyền không có thù lao.

Sau khi căn nhà được cấp sổ hồng thì ông V.L. đuổi bà L. ra khỏi nhà và thông báo rằng căn nhà hiện nay là của ông. Trên thực tế ông V.L. đã thỏa thuận xong việc bán nhà, tự quyết định giá cả, nhận tiền đặt cọc của bên mua mà bà L. không hề biết. Bà L. vội vàng đến phòng công chứng để xin hủy hợp đồng ủy quyền đã lập thì công chứng viên không chấp nhận.

Do luật chỏi nhau

Lý do theo công chứng viên, điều 44 Luật công chứng năm 2006 quy định “việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng chỉ được thực hiện khi có sự thỏa thuận, cam kết bằng văn bản của tất cả những người đã tham gia hợp đồng, giao dịch đó và phải được công chứng”. Do đó, nếu bà L. muốn hủy hợp đồng ủy quyền phải thỏa thuận được với ông V.L.. Hai người phải cùng đến phòng công chứng để hủy hợp đồng ủy quyền đã lập trước đây.

Rõ ràng yêu cầu này của công chứng viên sẽ không thể thực hiện được, bởi lẽ nếu ông V.L. đang có ý định chiếm nhà như nghi ngại của bà L. thì làm sao có chuyện ông V.L. thỏa thuận hủy hợp đồng ủy quyền?

Mặt khác, Bộ luật dân sự năm 2005 cho phép một số tình huống có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền. Điều 588 nêu “nếu ủy quyền không có thù lao thì bên ủy quyền có thể chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên được ủy quyền một thời gian hợp lý”.

Hợp đồng ủy quyền giữa bà L. và ông V.L. đã ký tại phòng công chứng nói riêng, hay tất cả các mẫu hợp đồng ủy quyền của các phòng công chứng nói chung quy định rằng thời hạn ủy quyền sẽ chấm dứt khi “hoàn tất công việc hoặc hết hiệu lực theo quy định của Bộ luật dân sự” (nếu không có thỏa thuận về thời hạn). Một trong những trường hợp chấm dứt hợp đồng ủy quyền là một bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng.

Như vậy, với quy định của Luật công chứng như trên vô tình làm hạn chế quyền đơn phương hủy bỏ hợp đồng ủy quyền của bên ủy quyền hoặc bên nhận ủy quyền. Trong khi đó đối với hợp đồng ủy quyền thì Bộ luật dân sự là luật nội dung, Luật công chứng chỉ là luật hình thức và về nguyên tắc luật hình thức sẽ không được trái với luật nội dung.

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến (24/7) gọi số: 1900.6162

Bên dễ bên khó

Việc ký hợp đồng ủy quyền hay giấy ủy quyền chỉ là hình thức ủy quyền, còn bản chất của việc ủy quyền vẫn là “việc một người (gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (gọi là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện” quy định tại điều 139 của Bộ luật dân sự.

Thế nhưng trong hợp đồng ủy quyền khó hủy như đã nói trên thì giấy ủy quyền lại rất dễ hủy, chỉ cần tuân thủ điều 588 của Bộ luật dân sự. Việc ký cũng thế, nếu là hợp đồng ủy quyền thì bên ủy quyền và bên được ủy quyền phải cùng nhau ký vào hợp đồng, còn đối với giấy ủy quyền thì chỉ cần bên ủy quyền ký tên, chứng thực chữ ký tại phòng tư pháp của ủy ban nhân dân theo quy định tại nghị định số 79/2007/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký. Trên thực tế, hiện nay phòng tư pháp quận (huyện) chứng thực chữ ký của bên ủy quyền (văn bản bằng tiếng Việt), nhưng theo NĐ 79/2007/NĐ-CP thì thẩm quyền chứng thực chữ ký trong văn bản tiếng Việt chỉ cần ở cấp phường xã.

Chọn hình thức ủy quyền nào là do các bên thỏa thuận (quy định tại khoản 2, điều 142 của Bộ luật dân sự năm 2005).

Trong câu chuyện nói trên, do bà L. đã chọn cách ký hợp đồng ủy quyền, nên nay nếu muốn đơn phương hủy hợp đồng bà phải khởi kiện ra tòa án.

Luật Minh Khuê (biên tập)