1. Mẫu đơn khiếu nại giải quyết tranh chấp đất với UBND xã

Công ty luật Minh Khuê cung cấp mẫu đơn khiếu nại của cá nhân về việc giải quyết tranh chấp đất đai với UBND xã để Quý khách hàng tham khảo và áp dụng vào thực tiễn, thông tin chi tiết vui lòng liên hệ trực tiếp để được tư vấn, hỗ trợ:

Tổng đài luật sư trực tuyến gọi: 1900.6162.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

-------------------------------------------------------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

ĐƠN KHIẾU NẠI

Kính gửi: Ủy Ban Nhân Dân Huyện …, Thành Phố Hà Nội.

Tên tôi là: Đỗ Văn M, đăng ký hộ khẩu thường trú tại đội …., thôn ……, xã …, huyện …, thành phố Hà Nội.

Tôi làm đơn này khiếu nại Kết luận số …./KL-UBND về việc trả lời đơn đề nghị của ông Đỗ Văn Mì, thôn ….. của UBND xã ….. lập ngày … tháng … năm 20...

Nội dung khiếu nại cụ thể như sau:

Thứ nhất: Gia đình tôi có mua một mảnh đất của Ông Đỗ Văn K (đã mất) và bà Nguyễn Thị X tại: Đội …, thôn …, xã …, huyện …, thành phố Hà Nội vào ngày … tháng … năm 19… (mảnh đất trên có nguồn gốc sử dụng ổn định từ năm 1981). Gia đình chúng tôi sử dụng ổn định, lâu dài không tranh chấp và đóng thuế đầy đủ cho nhà nước từ đó đến nay theo đúng hướng dẫn của UBND xã …. Do nhà cấp bốn xây dựng đã lâu năm nên thường xuyên dột, kết cấu nhà thiếu bền vững có thể bị độ sập bất kỳ khi nào gây nguy hiểm đối với con cháu trong gia đình nên ngày … tháng … năm 20… tôi có bàn bạc với các con để cải tạo lại phần nhà tránh tình trạng dột nát, nguy hiểm kể trên. Tuy nhiên, UBND xã … không cho phép gia đình chúng tôi cải tạo đồng thời yêu cầu gia đình phải ký lại bản hợp đồng thuê mảnh đất trên với UBND xã vào ngày … tháng …năm 20… và yêu cầu gia đình tôi phải nộp phí ...000.000 VNĐ/năm (bằng chữ: … triệu đồng). Tuy biết khoản thu này là trái nguyên tắc nhưng gia đình tôi vẫn chấp thuận và đã nộp đầy đủ theo yêu cầu của chính quyền địa phương.

Ngày … tháng … năm 20…, Tôi đã làm đơn đề nghị UBND xã … xác minh nguồn gốc sử dụng đất của gia đình và yêu cầu giải trình sự việc cản trở gia đình xây dựng cũng như việc buộc gia đình phải ký lại bản hợp đồng với mảnh đất mà gia đình đã sử dụng ổn định, lâu dài, không tranh chấp từ năm 1997 đến nay.

Ngày … tháng … năm 20…, Gia đình chúng tôi đã nhận được bản kết luận số …/KL/UBND của UBND xã … với nội dung:

Kết luận thứ nhất: Hợp đồng số …/HĐ-UB ngày …/…/20… của UBND xã với ông Đỗ Văn M thuê mặt bằng để kinh doanh dịch vụ là hợp đồng chưa đúng quyền hạn của UBND xã.

Như vậy, UBND xã … đã thừa nhận việc yêu cầu gia đình tôi ký lại hợp đồng với UBND xã là không có căn cứ pháp luật, hợp đồng trên vô hiệu về mặt chủ thể (“UBND xã ký hợp đồng thuê mặt bằng để kinh doanh là chưa đúng quyền hạn”).

Với kết luận này tôi đề nghị UBND huyện ….:

  • Yêu cầu UBND xã Hủy bỏ hợp đồng số …/HĐ-UB lập ngày …/…/20… ký giữa UBND xã … với Ông Đỗ Văn M;
  • Yêu cầu UBND xã … hoàn trả số tiền đã thu trái phép của gia đình ông Đỗ Văn M (số tiền : ...000.000 VNĐ/năm);
  • Vì hợp đồng trên là không có hiệu lực nên việc thỏa thuận về các nội dung trong hợp đồng cũng không có giá trị áp dụng cụ thể “Bên thuê mặt bằng chỉ được xây dựng công trình nhà cấp 4, tường gạch chỉ 110mm bỏ trụ, cao không quá 4 m, mái lợp bằng ngói hoặc tấm lợp, không được xây dựng công trình kiên cố và quá diện tích được thuê…”;
  • Yêu cầu UBND xã không tiến hành việc cản trở hoạt động xây dựng hợp pháp của người dân. Nếu tiến hành việc ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xây dựng liên quan đến hoạt động bảo vệ hành lang đê điều phải có quyết định rõ ràng ? trong quyết định phải chỉ rõ gia đình tôi vi phạm quy định định nào? trong văn bản quy phạm pháp luật nào của nhà nước ? Chúng tôi sẵn sàng chấp thuận mọi chủ trương của Đảng và quy định của nhà nước trong lĩnh vực kể trên.

Kết luận thứ hai: Nguồn gốc thửa đất ông Đỗ Văn M đề nghị xác minh tại vị trí bờ hữu kênh … gần đầu Cầu …, thuộc …. thôn …. là đất công nằm trong hành lang bảo vệ đê điều và không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài.

Tôi cho rằng kết luận của UBND xã … là hoàn toàn chủ quan, thiếu căn cứ và không dựa trên cơ sở pháp luật. Cụ thể:

Vấn đề thứ nhất: UBND xã … cho rằng đất đã thuê của Ông … là đất công nằm trong hành lang bảo vệ đê điều. Tôi nhận thấy rằng, Theo quy định của Điều 13 Luật Đất đai năm 2003, thì đất đai được phân loại cụ thể thành 03 nhóm đất như sau:
- Đất nông nghiệp;

- Đất phi nông nghiệp;

- Đất chưa sử dụng (bao gồm các loại đất chưa xác định mục đích sử dụng).

Trong Luật Đất đai năm 2003 không có khái niệm pháp lý nào là “đất công”, mà chỉ có đất sử dụng vào mục đích công cộng, gồm đất giao thông, thủy lợi; đất xây dựng các công trình văn hóa...; đất xây dựng các công trình công cộng khác theo quy định của Chính phủ. Các văn bản của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Đất đai cũng không có quy định về “đất công”. Như vậy là ngoài các nhóm đất, loại đất đã được phân loại theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, Uỷ ban nhân dân xã … đã tự quy định thêm loại đất mới (đất công) trái với quy định của các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước cấp trên ban hành và có hiệu lực pháp lý thống nhất trên toàn quốc.

Đồng thời, UBND xã cũng cho rằng mảnh đất của Ông Đỗ Văn Mìn là đất “nằm trong hành lang bảo vệ đê điều”. Tôi cho rằng điều này là hoàn toàn vô căn cứ, bởi lẽ:

- Thứ nhất, căn cứ theo quy định tại khoản 2, điều 23, Luật đê điều số 79/2006/QH11 về hành lang bảo vệ đê được quy định như sau:

“a) Hành lang bảo vệ đê đối với đê cấp đặc biệt, cấp I, cấp II và cấp III ở những vị trí đê đi qua khu dân cư, khu đô thị và khu du lịch được tính từ chân đê trở ra 5 mét về phía sông và phía đồng; hành lang bảo vệ đê đối với các vị trí khác được tính từ chân đê trở ra 25 mét về phía đồng, 20 mét về phía sông đối với đê sông, đê cửa sông và 200 mét về phía biển đối với đê biển;

b) Hành lang bảo vệ đê đối với đê cấp IV, cấp V do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định nhưng không được nhỏ hơn 5 mét tính từ chân đê trở ra về phía sông và phía đồng”.

- Thứ hai, Căn cứ theo Quyết định số : 2207/QĐ-BNN-TCTL của Bộ Trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về việc phân loại, phân cấp đê trên địa bàn thành phố Hà Nội ban hành ngày 13 tháng 09 năm 2012. Tôi nhận thấy rằng bờ hữu kênh Vân Đình không thuộc hành lang bảo vệ đê điều nên không thể xác định theo cách tính hành lang bảo vệ đê cấp đặc biệt, cấp I, Cấp II, Cấp III, Cấp IV; Cấp V và đê chuyên dùng.

Như vậy, UBND xã … đã đưa ra kết luận hoàn toàn trái với quy định của pháp luật về đất đai cũng như quy định của luật đê điều. Họ đã hiểu nhầm rằng đất của ông M là “đất công” và đã là “đất công” thì phải do nhà nước quản lý. Đồng thời, họ đưa ra nhận định chủ quan, sai luật rằng đất của Ông M thuộc hành lang bảo vệ đê điều và đương nhiên UBND xã … đã xác định hành lang bảo vệ đê điều hoàn toàn sai vì họ tính từ mép bờ hữu kênh Vân Đình kéo vào 5 m để xác định hành lang bảo vệ đê điều mà quên mất rằng bờ hữu kênh Vân đình không nằm trong hành lang bảo vệ đê theo quy định của luật hiện hành.

- Kết luận thứ ba: Không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài.

Về kết luận này gia đình chúng tôi xin có ý kiến như sau:

Theo kết quả xác minh của UBND xã … và dựa trên những tài liệu, chứng cứ cụ thể do gia đình cung cấp, nguồn gốc sử dụng đất của gia đình Ông M đã được xác định cụ thể như sau.

- Năm 1981: Gia đình bà Nguyễn Thị X và Ông Đỗ Văn K (đã mất) cư trú tại Đội …, thôn …, xã …, huyện …, thành phố Hà Nội là gia đình có công với cách mạng (có 01 con là liệt sỹ) nên được UBND xã … tạo điều kiện cho mở quán nước và sinh sống ổn định tại địa chỉ trên. (Căn cứ vào đơn xin mở quán nước của giá đình bà S, có xác nhận đồng ý cho mở quán nước của UBND xã …). Như vậy, nguồn gốc của mảnh đất trên là do UBND xã cho người dân thuê lại để kinh doanh và ở được xác định từ năm 1981. Gia đình chúng tôi có đầy đủ bản gốc để đối chứng với chính quyền địa phương về mục đích, nguồn gốc sử dụng đất tại thời điểm đó (Gửi kèm bản photo đơn xin mở quán nước có xác nhận của UBND xã của gia đình bà Suất).

- Năm 1997: Ngày 20 tháng 04 năm 1997, do tuổi cao, sức yếu Bà Nguyễn Thị X cùng các con đã đồng thuận ký chuyển nhượng đất quán và tài sản trên đất cho Tôi với giá trị ...000.000 VNĐ (bằng chữ : …triệu đồng chẵn). (Gửi kèm đơn xin nhượng lại quán và hoa màu của gia đình bà X cho Tôi, có người làm chứng và Biên bản chuyển nhượng đất quán khu vực gần Cầu bầu sát đường 73 giữa bà Nguyễn Thị S và Tôi, có người làm chứng).

Tại thời điểm đó: Ngày … tháng … năm 19…theo yêu cầu của UBND xã Tôi buộc phải ký hợp đồng thuê đất mở dịch vụ sản xuất kinh doanh theo hợp đồng số …HĐ/KT trong thời hạn 05 năm từ ngày 11 tháng 08 năm 1997 đến ngày 10 tháng 08 năm 2002. (Gửi kèm bản hợp đồng số …HĐ/KT được ký UBND xã và Ông M).

Về chuyển nhượng quyền sử dụng đất : Theo quy định tại khoản 2 điều 75 luật đất đai năm 1993 thì: “Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở, do chuyển đi nơi khác hoặc không còn nhu cầu ở được chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Như vậy, người dân có quyền tự do mu bán, chuyển đổi quyền sử dụng đất và hình thức hợp đồng mua bán, chuyển nhượng có thể xác lập bằng giấy tờ viết tay (Theo thông lệ của thời điểm đó, chưa có văn phòng công chứng).

Như vậy, từ năm 1997 đến năm 2002 gia đình tôi đã tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật và đóng thuế sử dụng đất đầy đủ đối với mảnh đất kể trên.

- Năm 2002 đến năm 2012: UBND xã không tiến hành ký hợp đồng và cũng không thu tiền sử dụng đất; Gia đình có nhiều lần làm việc với UBND xã nhưng đều được trả lời là hiện tại không thu tiền đất nữa, gia đình ông cứ sử dụng đến khi nào có chính sách mới của Đảng và nhà nước.

- Năm 2012: Tháng 06 năm 2012 UBND xã … thông báo cho gia đình nộp thuế theo biên lai thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Loại thuế đất phải nộp là thuế đất ở tại nông thôn. (Gửi kèm theo biên lai thu phí số 007123; ký hiệu HX/2012; mẫu CTT 09B nộp ngày 18 tháng 11 năm 2012)

- Năm 2013: Tháng 06 năm 2012 UBND xã … thông báo cho gia đình nộp thuế theo biên lai thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Loại thuế đất phải nộp là thuế đất ở tại nông thôn. (Gửi kèm theo biên lai thu phí số 002664; ký hiệu HX/2012; mẫu CTT 09B nộp ngày 14 tháng 06 năm 2013)

Quan điểm của Gia đình chúng tôi về nguồn gốc sử dụng đất của chúng tôi như sau:

- Theo quy định luật đất đai năm 1993 do Quốc Hội ban hành ngày 14 tháng 07 năm 1993 (Văn bản này đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại nhưng vẫn có giá trị áp dụng điều chỉnh các quan hệ pháp lý phát sinh tại thời điểm từ ngày văn bản này có hiệu lực đến hết ngày văn bản này hết hiệu lực). Theo quy định tại khoản 2, điều 3, luật đất đai năm 1993 thì “Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất”. Đồng thời tại điều 11, luật đất đai 1993 quy định phân đất đai thành 06 loại căn cứ vào mục đích sử dụng đất : 1. Đất nông nghiệp; 2. Đất lâm nghiệp; 3. Đất khu dân cư nông thôn; 4. Đất đô thị; 5.Đất chuyên dùng; 6. Đất chưa sử dụng”. Và theo đó nếu đất do nhà nước giao theo điều 22 sử dụng vào mục đích khác thì phải trả tiền sử dụng đất cụ thể “Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và làm muối không phải trả tiền sử dụng đất; nếu được Nhà nước giao đất để sử dụng vào mục đích khác thì phải trả tiền sử dụng đất, trừ các trường hợp được miễn, giảm theo quy định của Chính phủ”.

- Theo quy định của luật đất đai năm 2003 thì theo quy định tại khoản 1, khoản 2 điều 49 quy định về những trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

“Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho những trường hợp sau đây:

1. Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, trừ trường hợp thuê đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn;

2. Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;”

Như vậy, căn cứ theo luật đất đai về xác định nguồn gốc sử dụng đất thì nguồn gốc sử dụng đất của chúng tôi là hoàn toàn rõ ràng (Sử dụng ổn định, lâu dài từ năm 1981, không tranh chấp) không nằm trong phạm vi quy hoạch (hành lang bảo về đê điều) thì tại sao chính quyền UBND xã … có thể khẳng định là đất của Gia đình tôi không đủ điều kiện cấp sổ đỏ.

Cùng với hành vi ngăn cấm, đe dọa xử phạt hành chính đối với hoạt động cải tạo và xây dựng nhà của gia đình chúng tôi, UBND xã … căn cứ vào hợp đồng đã ký kết cho rằng gia đình tôi vi phạm thỏa thuận đã ký với xác nhưng sau khi xem xét lại đơn kiến nghị của gia đình chúng tôi UBND xã thừa nhận việc ký hợp đồng cho thuê mặt bằng mới là không đúng chức năng của UBNX xã. Đồng thời, UBNX xã … đã có hàng loạt các quyết định hành chính, hành vi hành chính trái luật, cụ thể: Ngày 24 tháng 04 năm 2014 UBND xã … ra công văn số 23/UBND về việc ngừng cấp điện, nước, cấm phương tiện vận chuyển vật liệu và người lao động cho công trình xây dựng vi phạm (Gửi kèm theo đơn công văn số 23/UBND của UBND xã …). Việc cắt điện, nước của UBND xã … vi phạm nghiêm trọng quy chế dân chủ cấp cơ sở, cản trở hoạt động kinh doanh hợp pháp, gây ảnh hưởng đến cuộc sống của gia đình chúng tôi.

Với những nhận định, hành vi hành chính, quyết định hành chính trái pháp luật của cán bộ cấp UBND xã … Tôi đề nghị UBND huyện … thành phố Hà Nội xem xét lại toàn bộ nội dung vụ việc, trả lại sự công bằng và hợp pháp cho gia đình tôi. Chúng tôi cam kết tuân thủ mọi quy định của pháp luật của nhà nước, chính sách của Đảng. Tôi cam kết những điều kê khai trên là hoàn toàn đúng sự thực, nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.

- Gửi kèm toàn bộ tài liệu, chứng cứ đã trình bày trong đơn

Hà Nội, ngày.... . tháng..... .năm 20....

Người khiếu nại

(ký và ghi rõ họ tên)

-------------------------------------

>> THAM KHẢO DỊCH VỤ: Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án.

2. Tranh chấp đất sau thời gian ở lâu dài nhưng chưa có sổ đỏ ?

Xin chào Luật Minh Khuê, tôi có trường hợp sau cần được giải đáp: Cha tôi mất sớm, khi đó tôi 14 tuổi, mẹ và 4 chị em tôi ở trên phần đất của ông cố tôi; lúc đó có 4 cái nhà: nhà của dì Hai – con của ông Trịnh Văn Liên là người anh thứ Tư của ông Ngoại tôi, còn 3 cái nhà còn lại là của 3 chị em của mẹ tôi gồm nhà mẹ tôi, nhà dì năm em ruột mẹ tôi – Bà Trịnh Thị Chăm và nhà dì hai chị ruột mẹ tôi là bà Trịnh Thị Huê. Khi chiến tranh, dì Hai và dì năm đi tản cư chỉ còn 4 mẹ con tôi ở lại sinh sống.

Năm 1968, mẹ tôi mất, chị em tôi về sống với ông bà ngoại là ông Trịnh Văn Thiên, đến năm tôi 28 tôi ra ở trên phần đất của ông cố mà tôi đã ở trước đấy. Nguồn gốc đất tôi ở có anh Nguyễn Hữu Đáng sinh năm 1943 ngụ cùng xóm biết. Năm 1979 dọn ra ở trên phần đất mẹ tôi .Tôi ở liên tục trên phần đất này từ năm 1979 đến nay nhưng chưa có sổ đỏ. Nay bà Trịnh Thị Huê là dì Hai của tôi khởi kiện ra tòa để lấy lại phần đất này. Vậy tôi tòa có buộc tôi trả lại không ?

Người gửi: Huyền Hoàng

>> Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Theo như bạn trình bày thì bạn "ở liên tục trên phần đất này từ năm 1979 đến nay nhưng chưa có sổ đỏ" như vậy bạn đã sử dụng miếng đất này trên ba mươi năm. Điều 247 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định:

"Điều 247. Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu

1. Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Người chiếm hữu tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước không có căn cứ pháp luật thì dù ngay tình, liên tục, công khai, dù thời gian chiếm hữu là bao lâu cũng không thể trở thành chủ sở hữu tài sản đó."

Căn cứ vào các quy định pháp luật trên thì miếng đất này bạn vẫn tiếp tục được sử dụng mà không bị buộc phải trả lại.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

>> Tham khảo ngay: Tư vấn xử lý tranh chấp đất chưa có sổ đỏ và xây dựng trái phép trên đang đất tranh chấp ?

3. Tư vấn quyền sử dụng đất và giải quyết tranh chấp đất ?

Thưa luật sư, năm 1970 cha tôi cho bà B mượn 1 phần đất cất nhà ở (muợn không làm giấy tờ, quá trình kê khai đứng tên sổ bộ, đóng thuế, giấy chứng nhận đều mang tên cha tôi, đến năm 1995 con bà B dựng 01 quán nước nhỏ trên phần đất của cha tôi (sát nhà bà B),

cha tôi khởi kiện ra tòa, kết quả tòa xử buộc con bà B rỡ quán trả lại đất cho cha tôi, trong quyết định của Tòa cũng có nêu nguồn gốc phần đất bà B đang ở là mượn của cha tôi, tuy nhiên do nội dung đơn khởi kiện không yêu cầu đòi lại phần đất đã cho mượn nên tòa không đề cập đến, do đó gia đình bà B vẫn tiếp tục sinh sống trên phần đất mượn này. Năm 2010, cha tôi chết, tất cả phần đất của cha tôi được chuyển cho mẹ tôi đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (trong đó có cả phần đất cho mượn, năm 2014 bà B chết, con gái bà B tiếp tục ở trên phần đất này (nhà trên đất là nhà lá, cột kê). Vậy luật sư cho tôi hỏi với trường hợp nêu trên, tôi có đòi lại được phần đất này không? Nếu được (hoặc không) thì căn cứ nào để xử lý? Trường hợp khởi kiện tại tòa thì mức án được tính như thế nào? (đất trên là đất cây lâu năm, diện tích 250m2). Trường hợp nếu thắng kiện thì tôi có phải trả chi phí di dời nhà cho con bà B không, nếu có thì chi phí này được tính như thế nào? Ngoài ra gia đình con bà B thuộc diện nghèo và không có đất khác để ở, nếu bị xử di dời nhà thì nhà nước có chánh sách nào hổ trợ nơi ở khác cho con bà B không? Mong luật sư giải đáp giúp tôi.

Xin cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Trong trường hợp mà bạn đưa ra, tôi sẽ tư vấn cho bạn như sau:

1/ Với trường hợp nêu trên, tôi có đòi lại được phần đất này không, nếu được (hoặc không) thì căn cứ nào để xử lý ?

Tính đến thời điểm hiện tại, mẹ bạn đứng đã đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (trong đó có cả phần đất cho mượn). Như vậy có thể thấy phần đất cho mượn này vẫn thuộc quyền sử dụng của gia đình bạn và bạn hoàn toàn có quyền kiện đòi lại mảnh đất cho mượn.

Tuy nhiên, Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở (Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp).

Nếu các bên không tự thỏa thuận được hoặc hòa giải tại cơ sở không thành thì có thể giải quyết như sau: Vì mảnh đất này đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên tranh chấp này sẽ do Tòa án nhân dân giải quyết theo quy định tại Khoản 1 Điều 203 Luật đất đai 2013.

2/ Trường hợp khởi kiện tại tòa thì mức án được tính như thế nào? (đất trên là đất cây lâu năm, diện tích 250m2)?

Theo quy định tại Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/UBTVQH12 – danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án thì mức án phí sơ thẩm đối với các vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch sẽ được tính như sau:

Giá trị tài sản có tranh chấp

Mức án phí

a) từ 4.000.000 đồng trở xuống

200.000 đồng

b) Từ trên 4.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng

5% giá trị tài sản có tranh chấp

c) Từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng

20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng

d) Từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng

36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng

đ) Từ trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng

72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng

e) Từ trên 4.000.000.000 đồng

112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 4.000.000.000 đồng.

Như vậy, mức án phí mà bạn phải đóng tại Tòa án phụ thuộc vào giá đất trồng cây lâu năm tại thời điểm định giá ở địa phương.

3/ Trường hợp nếu thắng kiện thì tôi có phải trả chi phí di dời nhà cho con bà B không, nếu có thì chi phí này được tính như thế nào?

Theo quy định của Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/UBTVQH12 của Ủy ban thường vụ quốc hội năm 2009 thì đương sự chỉ phải nộp các loại phí trong vụ án dân sự gồm: Án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án dân sự có giá ngạch; Án phí dân sự phúc thẩm (nếu có). Như vậy, anh (chị) sẽ không phải trả thêm khoản chi phí nào khác ngoài các loại phí mà pháp luật quy định.

4/ Gia đình con bà B thuộc diện nghèo và không có đất khác để ở, nếu bị xử di dời nhà thì nhà nước có chính sách nào hổ trợ nơi ở khác cho con bà B không?

Gia đình con bà B có thể được hưởng chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở nếu gia đình con bà B có đủ các điều kiện sau:

+ Là hộ nghèo (theo chuẩn nghèo quy định tại Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08 tháng 7 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 – 2010), đang cư trú tại địa phương, có trong danh sách hộ nghèo do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý tại thời điểm Quyết định này có hiệu lực thi hành;

+ Hộ chưa có nhà ở hoặc đã có nhà ở nhưng nhà ở quá tạm bợ, hư hỏng, dột nát, có nguy cơ sập đổ và không có khả năng tự cải thiện nhà ở;

+ Hộ không thuộc diện đối tượng được hỗ trợ nhà ở theo quy định tại Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày 20 tháng 7 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn và theo các chính sách hỗ trợ nhà ở khác.

(Quyết định về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở số 167/2008/QĐ-TTg)

>> Tham khảo ngay: Tranh chấp đất quốc phòng được giải quyết như thế nào theo luật đất đai ?

4. Tranh chấp đất ao và đo đạc sai của cán bộ xử lý như thế nào?

Thưa luật sư! Hiện nay gia đình tôi đang sử dụng 1 diện tích đất ở được ghi trên trích lục đất là 596 m2, trong đó gồm: 200m2 đất ở, 190m2 đất vườn , 206m2 đất dư thừa. Trích lục đất cấp từ ngày xưa nên chỉ ghi tổng số diện tích la 596m2, không có sơ đồ chi tiết. Bên cạnh miếng đất ở của tôi có 1 cái ao nhà hàng xóm, bị nhà đó đào rất sâu nên khiến đất gia đình tôi xạt lở rất nhiều,khiến hàng dừa cạnh bờ ao ngày xưa ông bà tôi trồng bị sạt lở trơ trọi gốc. Vừa rồi cán bộ xã xuống đo đạc lại đất nhưng lại đo phía bên trong hàng dừa bị sạt lở giống như xem nhà tôi không có hàng mốc dừa đó làm gốc danh giới vậy khiến diện tích đo được chỉ còn 486,5m2 và bảo gia đình tôi ký xác nhận diện tích đất trên.

Tôi không đồng ý ký và viết đơn yêu cầu đo lại diện tích và phân mốc rõ ràng so với bờ ao vì bờ ao đang bị sạt lở mỗi ngày, bên xã họ xuống đo đạc lại qua loa thì diện tích tăng thêm hơn 10m2 nữa và bảo tôi và gia đình có cái ao kia ký nhận. Tôi không thể ký nhận khi diện tích của tôi bị sạt lở và bị thiếu mất gần 100m2. Trong khi gia đình thầu cái ao kia có anh em làm cán bộ xã đang thậm thụt chuyển diện tích cái ao đo thành đất ở nhằm chiếm đoạt số diện tích đất bị sạt lở xuống ao của tôi.Nhiều lần sau tôi lên hỏi nhưng cán bộ xã cứ bảo chưa giải quyết được. Trong khi vẫn âm thầm chuyển đổi cái ao kia thành đất ở cho người khác. Giờ tôi phải làm sao? Tôi có lấy lại được đủ diện tích đất như trên trích lục không?

Chân thành cảm ơn luật sư!

Đất ao bị sạt lở có lấy lại được không?

Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

- Căn cứ vào Khoản 2, Khoản 3 Điều 70 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định về Trình tự, thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu và đăng ký bổ sung đối với tài sản gắn liền với đất:

"2. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam đề nghị đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ và thực hiện các công việc như sau:
...
b) Trường hợp chưa có bản đồ địa chính thì trước khi thực hiện các công việc tại Điểm a Khoản này, Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo cho Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện trích đo địa chính thửa đất hoặc kiểm tra bản trích đo địa chính thửa đất do người sử dụng đất nộp (nếu có);
...
3. Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện các công việc như sau:
...
b) Trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính thửa đất ở nơi chưa có bản đồ địa chính hoặc đã có bản đồ địa chính nhưng hiện trạng ranh giới sử dụng đất đã thay đổi hoặc kiểm tra bản trích đo địa chính thửa đất do người sử dụng đất nộp (nếu có);
c) Kiểm tra, xác nhận sơ đồ tài sản gắn liền với đất đối với tổ chức trong nước, cơ sở tôn giáo, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện dự án đầu tư mà sơ đồ đó chưa có xác nhận của tổ chức có tư cách pháp nhân về hoạt động xây dựng hoặc hoạt động đo đạc bản đồ;
d) Kiểm tra hồ sơ đăng ký; xác minh thực địa trong trường hợp cần thiết; xác nhận đủ điều kiện hay không đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào đơn đăng ký;
đ) Trường hợp chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không có giấy tờ hoặc hiện trạng tài sản có thay đổi so với giấy tờ quy định tại các Điều 31, 32, 33 và 34 của Nghị định này thì gửi phiếu lấy ý kiến cơ quan quản lý nhà nước đối với loại tài sản đó. Trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, cơ quan quản lý nhà nước đối với tài sản gắn liền với đất có trách nhiệm trả lời bằng văn bản cho Văn phòng đăng ký đất đai;
e) Cập nhật thông tin thửa đất, tài sản gắn liền với đất, đăng ký vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai (nếu có);
g) Trường hợp người sử dụng đất đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì gửi số liệu địa chính đến cơ quan thuế để xác định và thông báo thu nghĩa vụ tài chính, trừ trường hợp không thuộc đối tượng phải nộp nghĩa vụ tài chính hoặc được ghi nợ theo quy định của pháp luật; chuẩn bị hồ sơ để cơ quan tài nguyên và môi trường trình ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; cập nhật bổ sung việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai; trao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người được cấp, trường hợp hộ gia đình, cá nhân nộp hồ sơ tại cấp xã thì gửi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho Ủy ban nhân dân cấp xã để trao cho người được cấp."

- Vậy trong trường hợp này cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải kiểm tra, đo đạc, xác minh diện tích đất trên thực tế. Nhưng ở đây diện tích mà cơ quan nhà nước đo được do sạt lở ao lại kém đến gần 100m2 so với diện tích bạn được ghi trên trích lục. Trong trường hợp này bạn có thể gửi đơn khiếu nại Tòa án về quyết định này:

- Căn cứ Điều 7 - Luật khiếu nại năm 2011 quy định về Trình tự khiếu nại:

1. Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

2. Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây gọi chung là Bộ trưởng) thì người khiếu nại khiếu nại đến Bộ trưởng hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

3. Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Bộ trưởng quản lý ngành, lĩnh vực hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần hai của Bộ trưởng hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trong trường hợp đây là lần đầu tiên bạn khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thì bạn khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Tiếp theo, Căn cứ Điều 8 - Luật khiếu nại quy định về hình thức khiếu nại:

1. Việc khiếu nại được thực hiện bằng đơn khiếu nại hoặc khiếu nại trực tiếp.

2. Trường hợp khiếu nại được thực hiện bằng đơn thì trong đơn khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng, năm khiếu nại; tên, địa chỉ của người khiếu nại; tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại và yêu cầu giải quyết của người khiếu nại. Đơn khiếu nại phải do người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ.

3. Trường hợp người khiếu nại đến khiếu nại trực tiếp thì người tiếp nhận khiếu nại hướng dẫn người khiếu nại viết đơn khiếu nại hoặc người tiếp nhận ghi lại việc khiếu nại bằng văn bản và yêu cầu người khiếu nại ký hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản, trong đó ghi rõ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều này.

4. Trường hợp nhiều người cùng khiếu nại về một nội dung thì thực hiện như sau:

a) Trường hợp nhiều người đến khiếu nại trực tiếp thì cơ quan có thẩm quyền tổ chức tiếp và hướng dẫn người khiếu nại cử đại diện để trình bày nội dung khiếu nại; người tiếp nhận khiếu nại ghi lại việc khiếu nại bằng văn bản, trong đó ghi rõ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều này. Việc tiếp nhiều người cùng khiếu nại thực hiện theo quy định tại Chương V của Luật này;

b) Trường hợp nhiều người khiếu nại bằng đơn thì trong đơn phải ghi rõ nội dung quy định tại khoản 2 Điều này, có chữ ký của những người khiếu nại và phải cử người đại diện để trình bày khi có yêu cầu của người giải quyết khiếu nại;

c) Chính phủ quy định chi tiết khoản này.

5. Trường hợp khiếu nại được thực hiện thông qua người đại diện thì người đại diện phải là một trong những người khiếu nại, có giấy tờ chứng minh tính hợp pháp của việc đại diện và thực hiện khiếu nại theo quy định của Luật này.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật đất đai qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp. Trân trọng./.

>> Tham khảo ngay: Giải quyết tranh chấp đất liệu đã thỏa đáng?

5. Tranh chấp đất giáp ranh khi thỏa thuận bằng miệng?

Thưa Luật sư! Cho tôi hỏi trong trường sau thì pháp luật sẽ giải quyết xử lý vụ việc như thế nào? Cách đây vài năm khi xây tường hàng rào ngăn cách với phần đất của gia đình hàng xóm thì mẹ tôi người đứng tên sổ đỏ có thỏa thuận bằng miệng với gia đình hàng xóm cho phép họ xây hàng rào ngăn cách lấn vào phần đất gia đình tôi khoảng 1m .

Những thành viên trong gia đình không ai biết rõ vì không trực tiếp bảo quản giữ gìn sổ đỏ nên không nắm rõ số diện tích đất mà gia đình mình được quền sử dụng .bây giờ khi được chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì mới biết bị gia đình hàng xóm xây lấn xâu vào khoảng 1m dài 40 gia đình chúng tôi đề nghị phá bỏ bức tường và xây lại thì gia đình hàng xóm không đồng ý và nói tường đã xây lên từ rất lâu rồi mà ko có sự phản đối và khi xây đã được sự đồng ý của mẹ tôi người đứng tên sổ đỏ thì phần đất của gia đình họ và gia tôi được phân chia bằng bức tường đó. xin hỏi nếu vụ việc đưa ra pháp lý thì xẽ đc giải quyết ra sao?. Rất mong nhận được sự tư vấn từ Luật sư.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tranh chấp đất giáp ranh khi thỏa thuận bằng miệng?

Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật đất đai, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! cám ơn bạn đã gửi câu hỏi tới công ty luật Minh Khuê,với thông tin bạn cung cấp chúng tôi xin được tư vấn như sau:

- Theo quy định tại Điều 265 Bộ luật Dân sự năm 2005 (Luật đất đai năm 2013) như sau:

“Điều 265. Nghĩa vụ tôn trọng ranh giới giữa các bất động sản

1. Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thoả thuận của các chủ sở hữu hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ ba mươi năm trở lên mà không có tranh chấp.

2. Người có quyền sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới trong khuôn viên đất phù hợp với quy hoạch xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất liền kề của người khác.

Người sử dụng đất chỉ được trồng cây và làm các việc khác trong khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng của mình và theo ranh giới đã được xác định; nếu rễ cây, cành cây vượt quá ranh giới thì phải xén rễ, tỉa cành phần vượt quá, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

3. Trong trường hợp ranh giới là kênh, mương, hào, rãnh, bờ ruộng thì người sử dụng đất có nghĩa vụ tôn trọng, duy trì ranh giới chung; không được lấn, chiếm, thay đổi mốc giới ngăn cách”.

Như vậy, trong trường hợp bạn nêu thì mẹ bạn là người đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên hoàn toàn được quyền thỏa thuận cho gia đính hàng xóm xây hàng rào lấn vào đất nhà bạn, và theo đó, việc hàng xóm của gia đình bạn xây dựng hàng rào như vậy là hợp pháp. Tuy nhiên bạn có cung cấp thông tin rằng mẹ bạn và hàng xóm chỉ thực hiện việc thỏa thuận miệng về việc xây dựng hàng rào này. Trong trường hợp hàng xóm của bạn không có giấy tờ chứng minh về thỏa thuận này giữa mẹ bạn và họ, đồng thời vào thời điểm mẹ bạn thỏa thuận, hai bên không thực hiện việc đăng ký thay đổi đường ranh giới thửa đất theo quy định pháp luật, mặt khác trong giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình bạn vẫn ghi đúng với diện tích đất bao gồm cả diện tích đất bị lấn chiếm thì gia đình bạn hoàn toàn có cơ sở yêu cầu phá bỏ bức tường, và xây dựng lại theo đúng ranh giới đất ghi trong sổ địa chính, trừ trường hợp ranh giới này đã tồn tại từ ba mươi năm trở lên mà không có tranh chấp. Ngược lại, nếu vào thời mẹ bạn có thỏa thuận về việc thay đổi đường ranh giới thửa đất giữa hai hộ gia đình mà hai bên đã làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới sau khi đã điều chỉnh ranh giới thửa đất, thì gia đình bạn không có quyền yêu cầu gia đình hàng xóm phá bỏ bức tường cũng như xác định lại ranh giới đất.

Để giải quyết vấn đề này thì hai bên có thể thỏa thuận với nhau, trường hợp không thỏa thuận được thì được khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền hoặc khiếu nại lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Và hai bên sẽ phải bắt buộc thực hiện thủ tục hòa giải tại UBND xã, ngoài ra các bên tranh chấp còn được pháp luật khuyến khích tự hòa giải ở cơ sở, nếu không hòa giải được thì gửi đơn đến UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Tham khảo nội dung: Tranh chấp đất nhà thờ dòng họ nên xử lý thế nào ?

6. Tranh chấp đất hương hỏa theo luật ?

Thưa Luật sư! Nhà em có mua một lô đất của ông A- ông này là con út của gia đình ông B và ông/bà B đều đã qua đời. Mọi giấy tờ đã chuyển sang tên của gia đình em. Ông A hứa sẽ giao mặt bằng cho nhà em cuối tháng 1 âm lịch (2016) nhưng xảy ra mâu thuẫn. Anh em của ông A không cho ông A bán vì nói đó là đất thờ, tuy nhiên trong giấy tờ lô của ông A không có ghi đó là đất thờ.

Anh em ông A buộc ông A không giao mặt bằng đúng như đã nói do gia đình em còn 100triệu đồng chưa gửi cho ông A vì chờ hoàn tất mặt bằng xong. Và bây giờ nhà em có nhu cầu làm nhà, cần mặt bằng nhưng anh em của ông A không giao và nói sẽ đưa lại tiền. Vì nhà em có nhu cầu làm nhà trên lô đất đó và đã đặt mua vài nguyên liệu: như sắt, théo, cát, gạch,...Vậy giờ gia đình em phải làm sao? Nhà em có được gửi giấy để khiếu nại hay làm gì không ? Hay anh em của ông A được quyền đưa tiền lại cho nhà em rồi lấy lại đất?

Em xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn Luật đất đai trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, bạn phải xem xét lô đất bạn mua từ ông A. Hiện tại bạn đang mâu thuẫn với anh em nhà ông A do bên kia nói rằng mảnh đất này là đất thờ và trong pháp luật đất đai hiện nay không có điều lệ nào quy định về việc không được quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với đất thờ. Vì vậy, đất thờ vẫn được chuyển nhượng quyền sử dụng đất bình thường nếu tuân thủ đúng quy định của luật đất đai. Với trường hợp của bạn, bạn cần tìm hiểu lại lô đất đã được sang tên bạn, xem lô đất này ông bà B để lại thừa kế (theo di chúc hoặc theo pháp luật) cho riêng ông A hay cho cả anh em ông A. Nếu lô đất bạn mua có cả phần đất mà anh em ông A được thừa kế (ông A đã làm giấy tờ không đúng với sự thật để bán đất) thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bạn sẽ bị vô hiệu một phần và bạn chỉ có thể được chuyển lại quyền sử dụng đất đối với phần đất của ông A (trường hợp bạn vẫn muốn thực hiện hợp đồng này). Lúc này, anh em ông A có quyền đòi lại phần đất của họ, đồng thời bạn có quyền lấy lại tiền tương ứng với phần đất phải trả lại theo quy định tại Điều 137 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu như sau:

"1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường".

Thứ hai, nếu lô đất này thuộc toàn quyền chuyển nhượng của ông A thì việc chuyển nhượng của ông A và bạn là đúng; việc không cho giao phần mặt bằng còn lại của anh em ông A là không đúng quy định của pháp luật. Trong trường hợp này nếu anh em ông A vẫn tiếp tục gây mâu thuẫn không cho ông A giao đất thì bạn có quyền khởi kiện.

Chuẩn bị hồ sơ khởi kiện về đất đai, nhà ở (Luật đất đai số 45/2013/QH13 của Quốc hội):

Nội dung cụ thể của hồ sơ khởi kiện vụ án tranh chấp về đất đai, nhà ở bao gồm các loại giấy tờ sau:

+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà;

+ Các giấy tờ xác nhận quyền sử dụng đất, chủ quyền nhà ( trong trường hợp chưa có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất);

+ Các giấy tờ liên quan tới giao dịch đất đai, nhà ở có thanh chấp: Giấy tờ cho mượn, cho thuê, cho ở nhờ, mua bán… hoặc các giấy tờ tài liệu thể hiện có quan hệ này;

+ Các giấy tờ, tài liệu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc giải quyết đất đai, nhà ở đang có tranh chấp ( nếu có).

Nộp hồ sơ khởi kiện tại Tòa án.

Bạn có thể nộp đơn khởi kiện tại Tòa án hoặc nộp đơn khởi kiện tới Tòa án qua đường bưu điện.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến, gọi: 1900.6162. Chúng tôi sẳn sàng giải đáp.

Trân trọng./

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê