1. Mẫu đơn xin ly hôn đơn phương do tòa án phát hành ?

Luật Minh Khuê tư vấn và hướng dẫn cách viết mẫu đơn ly hôn đơn phương (một trong hai bên không đồng ý với việc ly hôn).

Luật sư: Lê Minh Trường - Tư vấn ly hôn và quyền nuôi con sau ly hôn trên CafeSang với VTV3

--------------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

, ngày … tháng … năm 20...

ĐƠN LY HÔN ĐƠN PHƯƠNG

Kính gửi: Tòa án nhân dân huyện/quận...............................Tỉnh/TP...............
(VD: Tòa án nhân dân Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội)

Tôi tên là: …………………… Sinh năm: ……………………………
CMND số: …………… cấp ngày ……………………. tại ………………………………
Hộ khẩu thường trú : ……………………………………………………………………….

Số điện thoại : ………………………………………………………………………....……

Nay tôi làm đơn này xin được Tòa giải quyết ly hôn với:

Ông: ………….. sinh năm: ……………… ; Số điện thoại : ………………..……

CMND số …………. cấp ngày ………………………. tại ………………………………

Hộ khẩu thường trú : …………………………………………….…………………………

Nội dung xin ly hôn:...................................................................................................

(Ví dụ: Xin chào luật sư, tôi vừa kết hôn vào tháng 1 vừa qua. Sau 1 tháng chung sống êm đẹp thì chồng tôi bắt đầu bỏ bê vợ đi đêm hôm để chơi điện tử. Tôi đã để chồng lên nhà mẹ em để đi làm nhưng 2 lần cin việc cho, chồng em đều bỏ việc để chơi điện tử dẫn tới bị đuổi việc Gia đình tôi đã để cho về lại bên đó và tôi đã ly thân. Tuần vừa qua, chồng tôi có dùng nick ảo để bôi nhọ danh dự nhân phẩm của tôi lên 1 nhóm kín ảnh hưởng nghiêm trọng tới danh dự của tôi. Vì hai vợ chồng có nhiều mâu thuẫn nghiêm trọng, hạnh phúc gia đình không có, không thể tiếp tục chung sống.)........................................................................................................................

Nay tôi làm đơn này yêu cầu Tòa án nhân dân .......................giải quyết việc đơn phương ly hôn của tôi theo trình tự và quy định của pháp luật hiện hành.
Vì vậy, kính mong Quý tòa xem xét và giải quyết cho chúng tôi được ly hôn, chấm dứt tình trạng hôn nhân của chúng tôi.

Về con chung : (Ghi thông tin con chung và thỏa thuận quyền nuôi con và trợ cấp cho con nếu có):

…………………………………………………………………………………………………

(Ví dụ: có 1 con chung:
+ Cháu: Trần Ngọc A Sinh năm 2000
Hiện cháu đang học tại lớp 12A2, trường THPT Chuyên Nguyễn Huệ, Quận Hà Đông, Hà Nội
Chúng tôi thỏa thuận sau khi ly hôn Cháu Trần Ngọc A sẽ ở sinh sống cùng với bố, hàng tháng Tôi sẽ trợ cấp cho cháu một khoản tiền là:.....VNĐ (bằng chữ.............đồng) đến khi cháu tròn 18 tuổi.)

Về tài sản chung: (Các bên có quyền tự thỏa thuận phân chia tài sản hoặc yêu cầu tòa án phân chia theo quy định của pháp luật nếu như không thể đạt được thỏa thuận)..................................................................................................

(Ví dụ:Chúng tôi có những tài sản chung sau:
+ Chúng tôi có một ô tô 5 chỗ Kia Morning biển số xe:.....đăng ký xe số:........
Chúng tôi thỏa thuận tài sản này thuộc sở hữu riêng của Chồng tôi kể từ ngày tòa án cho phép ly hôn.

Lưu ý: Nếu không có tài sản chung chỉ cần ghi: Không có tài sản chung (Nếu không có tài sản chung thì ghi không có tài sản chung)

Kính mong Quý Tòa xem xét, giải quyết nguyện vọng của tôi, theo quy định của pháp luật.

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người làm đơn
(ký, ghi họ tên)

Đính kèm :
- Giấy Chứng nhận kết hôn (bản chính)
- Giấy khai sinh .....
- Hộ khẩu, CMND , Thực( bản sao).

Luật Minh Khuê ngoài việc tư vấn các quy định về vấn đề ly hôn, phân chia tài sản, quyền nuôi con còn tiến hành cung cấp dịch vụ luật sư tư vấn và đại diện tranh tụng tại tòa án đối với những vụ án/vụ việc dân sự trong đó có việc thực hiện thủ tục ly hôn thuận tình hoặc đơn phương theo quy định của pháp luật.

Mọi vướng mắc pháp lý hoặc yêu cầu dịch vụ vui lòng gọi về tổng đài tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua điện thoại:1900.6162 để nhận được sự tư vấn, giải đáp trực tiếp! Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

>> Tham khảo nội dung: Chồng có dấu hiệu bệnh tâm thần vợ có ly hôn đơn phương được không ?

2. Muốn ly hôn đơn phương khi đang mang thai thì có hợp pháp không ?

Thưa Luật sư! Em vừa đăng kí kết hôn với chồng có giấy đăng kí kết hôn ngày 25.5.2015 hiện tại em đang mang thai tháng cuối . Trong thời gian chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và bất động trong quan điểm sống cũng . Lúc em mang thai vợ chồng cũng hay động tay động chân, xúc phạm nhau . Chồng cũng thiếu trách nhiệm với vợ và con . Em và chồng đang ly thân khoản 2 tháng . Hiện tại em muốn ly hôn đơn phương . Nhưng có nhiều vấn đề còn không rõ em kính mong được luật sư giúp đỡ tư vấn .

Thứ nhất : bản chính đăng kí kết hôn chồng em đang giữ và theo em được biết thủ tục ly hôn cần giấy đăng ký kết hôn nếu không có có được không ạ ?

Thứ 2 : hộ khẩu 2 vợ chồng em không chung sổ . Em hộ khẩu thường trú tại huyện , chồng em hộ khẩu thuộc phường , Thành phố BH . 2 vợ chồng em cùng tỉnh . Vậy khi gửi đơn ly hôn em cần gửi lên đâu để được giải quyết ạ?

Thứ 3 : Về phần con chung , con em đang mang thai trong thời gian này có được tính là con chung không ? Và con em có được trợ cấp nuôi dưỡng từ bố không ? Vì em vẫn đang đi học nên vẫn chưa đủ kinh tế nuôi con?

Xin trân thành cảm ơn Luật sư!

Muốn ly hôn đơn phương khi đang mang thai .

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thưa quý khách hàng! Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

1. Thứ nhất : bản chính đăng kí kết hôn chồng em đang giữ và theo em được biết thủ tục ly hôn cần giấy đăng ký kết hôn nếu không có có được không ạ ?

Bản chính đăng ký kết hôn giữa bạn và chồng là sự công nhận của Nhà nước đối với quan hệ vợ chồng của hai bạn và quan hệ vợ chồng này được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, khi bạn muốn ly hôn với chồng thì khi gửi đơn xin ly hôn đến Tòa án bạn phải kèm theo chứng cứ chứng minh được yêu cầu của mình là hợp pháp và có căn cứ. Và một trong những chứng cứ bạn phải nộp cho Tòa án đó là giấy chứng nhận đăng ký kết hôn

Điều 2. Cung cấp chứng cứ

4. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, nếu thấy chứng cứ mà đương sự giao nộp chưa đủ cơ sở để giải quyết, thì Toà án yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 85 của Bộ luật tố tụng dân sự 2004 (Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011). Khi yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ, Toà án cần phải nêu cụ thể chứng cứ cần giao nộp bổ sung.

5. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, Toà án cần giải thích cho đương sự biết quy định tại Điều 7 của BLTTDS về trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Khi biết chứng cứ đang do cá nhân, cơ quan, tổ chức lưu giữ, quản lý, thì căn cứ vào quy định tại Điều này, đương sự có quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ. Nếu cá nhân, cơ quan, tổ chức không cung cấp được chứng cứ cho đương sự, thì phải thông báo bằng văn bản có ghi rõ lý do của việc không cung cấp được chứng cứ cho đương sự biết để họ chứng minh với Toà án là họ đã thu thập chứng cứ nhưng không có kết quả và yêu cầu Toà án thu thập chứng cứ.

Như vậy, khi bạn gửi đơn xin ly hôn tới Tòa án mà thiếu giấy chứng nhận đăng ký kết hôn thì vẫn có thể bổ sung chứng cứ này, bạn yêu cầu chồng bạn cung cấp chứng cứ, tức giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, nếu chồng bạn không cung cấp thì bạn yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ này. Vậy tại thời điểm bạn gửi đơn xin ly hôn đến Tòa án mà thiếu giấy chứng nhận đăng ký kết hôn thì Tòa án vẫn thụ lý và bạn sẽ phải bổ sung giấy chứng nhận đăng ký kết hôn trong quá trình giải quyết vụ án này.

2. Thứ hai : hộ khẩu 2 vợ chồng em không chung sổ . Em hộ khẩu thường trú tại huyện , chồng em hộ khẩu thuộc phường , Thành phố BH . 2 vợ chồng em cùng tỉnh . Vậy khi gửi đơn ly hôn em cần gửi lên đâu để được giải quyết ạ?

Tranh chấp về hôn nhân giữa bạn với chồng không có yếu tố nước ngoài nên bạn sẽ phải gửi đến toàn án nhân dân huyện , quận, thị xã, thành phố trực thuộc trung ương, theo quy định tại điểm a, khoản 1 và khoản 3 điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi, bổ sung 2011

Điều 33. Thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

1. Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Toà án nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 25 và Điều 27 của Bộ luật này;

3. Những tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện.

Do bạn và chồng có hộ khẩu thường trú khác nhau nên bạn sẽ gửi đơn xin ly hôn đến tòa án nhân dân cấp huyện nơi chồng bạn có hộ khẩu thường trú căn cứ theo quy định tại điểm a, khoản 1, điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2011.

Điều 35. Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;

Từ quy định này, thì Tòa án nhân dân mà bạn gửi đơn đến đó là Tòa án nhân dân thành phố BH.

3. Thứ ba : Về phần con chung , con em đang mang thai trong thời gian này có được tính là con chung không ? Và con em có được trợ cấp nuôi dưỡng từ bố không ? Vì em vẫn đang đi học nên vẫn chưa đủ kinh tế nuôi con?

Điều 88. Xác định cha, mẹ

1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Theo như bạn đã trình bày thì bạn đang mang thai tháng cuối nên chảng mấy chốc bạn sẽ sinh em bé, nếu tại thời điểm bạn sinh em bé mà bạn vẫn chưa gửi đơn đến Tòa án hoặc đến khi quyết định chấp nhận đơn xin ly hôn của Tòa án vẫn chưa có hiệu lực thì con mà bạn đang mang sẽ vẫn được xác định là con chung của vợ chồng.

Nếu Tòa án chấp nhận đơn xin ly hôn của bạn trong trường hợp hai bên không thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con mà bạn sinh ra thì về nguyên tắc sẽ do bạn nuôi dưỡng do bé dưới 36 tháng tuổi theo quy định tại khoản 3, điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Tuy nhiên, như bạn đã trình bày thì bạn " đang đi học nên vẫn chưa đủ kinh tế để nuôi con" nên nếu không thỏa thuận được với người chồng về người trực tiếp nuôi con và để Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi thì rất có thể bạn sẽ không được quyền nuôi con. Trong trường hợp, bạn được nuôi con thì chồng bạn phải có nghĩa vụ trợ cấp nuôi dưỡng con của hai vợ chồng theo quy định tại khoản 1, điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 và Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn một số quy định về " chứng minh và chứng cứ" của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

Vậy, con của bạn sẽ là con chung của bạn với người chồng của mình. Nếu cả hai ly hôn thì con bạn vẫn sẽ được nhận tiền trợ cấp nuôi dưỡng từ bố của bé.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email:Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp. Trân trọng!

3. Tư vấn ly hôn đơn phương nhưng chồng không đồng ý?

Em muốn nhờ luật sư tư vấn giúp em. Em kết hôn năm 2002 đến nay chúng em có hai con: 1 trai và 1 gái. Anh ấy không giữ được mình nên dùng hêroin và nghỉ việc từ năm 2013. Giờ em muốn ly hôn mà anh ấy không chịu, hiện nay anh ấy vẫn dùng. Em muốn nhờ luật sư tư vấn giúp xem em nên làm thế nào để ly hôn được anh ấy ?
Em xin cảm ơn.

Tư vấn ly hôn đơn phương nhưng chồng không đồng ý?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì bạn muốn ly hôn với chồng nhưng chồng bạn không đồng ý, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình mới năm 2014 số 52/2014/QH13 quy định:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được..."

Như vậy, theo quy định pháp luật trên thì bạn hoàn toàn có thể ly hôn với chồng nếu bạn có chứng cứ chứng minh chồng việc chồng bạn đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Về thủ tục ly hôn, bạn cần chuẩn bị một bộ hồ sơ bao gồm những giấy tờ sau:

- Đơn xin ly hôn.

- Bản chính Giấy chứng nhận kết hôn.

- Bản sao có chứng thực Giấy khai sinh của con chung (nếu có con chung).

- Bản sao có chứng thực CMND, sổ hộ khẩu của cả 2 vợ chồng.

-Giấy tờ chứng minh tài sản chung;

Hồ sơ này bạn nộp tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi chồng bạn đang cư trú, làm việc.

Thời gian giải quyết: Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011 quy định thời hạn chuẩn bị xét xử đối với vụ việc đơn phương ly hôn là không quá 04 tháng. Nếu vụ việc có tính chất phức tạp thì có thể gia hạn thêm, nhưng không quá 02 tháng.

Đối với trường hợp này chúng tôi có khá nhiều bài viết liên quan, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Mâu thuẫn mẹ chồng nàng dâu vợ ly hôn đơn phương được không ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

4. Tư vấn về vấn đề ly hôn đơn phương khi cả hai vợ chồng đều là công chức nhà nước ?

Xin chào Luật Minh Khuê! tôi có một vấn đề mong các Luật sư giải đáp: Tôi và chồng mới kết hôn được gần 1 năm trong quá trình chung sống chúng tôi chưa có con với nhau nhưng phát sinh nhiều điều không như mong muốn, mấy tháng nay chồng tôi thường xuyên về nhà rất muộn 11 – 12 giờ đêm với lý do bận công việc của cơ quan, phải tiếp khách để lo công việc của công ty gia đình, giao lưu vớii bạn bè…

Gần đây dù chúng tôi sống chung dưới một mái nhà mà gần như phần ai nấy biết ăn riêng, ngủ riêng, gần đây có nhiều tin đồn chồng tôi có người phụ nữ khác bên ngoài, tôi có hỏi thì trả lời không có, đó chỉ là tin đồn rồi liếp tuc bỏ đi thậm chí có lúc 3 – 4 ngày không về nhà Tôi vô cùng lo lắng, rất buồn nhưng chẳng biết phải làm gì, nhiều lần nhờ ba, mẹ chồng can thiệp thì thời gian đầu cũng nhận được sự khuyên can tích cực nhưng chồng tôi vẫn không thay đổi và câu nói gần nhât tôi nhận được từ Ba, mẹ chồng là ” Ba, mẹ hết cách ròi, việc hai đứa hai, hai đứa tự giải quyết”. Chồng tôi đã nhiều lần đã nói sẽ làm đơn đề nghị tôi chia tay với lý do chúng tôi không hợp nhau, không thể sống với nhau lâu dài được nhưng tôi không chấp nhận vì trươc khi kết hôn chúng tôi yêu nhau thật lòng, được cả hai bên gia đình thương yêu chấp thuận nên dã tổ chức một lễ cưới thật linh đình và từ khi kết hôn đến nay dù tuổi đời tôi còn rất trẻ (tôi mới 23 tuổit, chồng tôi 32 tuổi) nhưng ngoài việc đi làm ở cơ quan và phụ giúp chồng trong việc kinh doanh của gia đình tôi luôn cố găng làm tròn bổn phận người vợ đối với chồng, người con dâu đối với gia đình chồng, chưa làm điều gì sai trái. Gần đây chồng tôi nói, nếu làm đơn mà tôi không ký thì cũng gửi cơ quan pháp luật xin ly hôn đơn phương. Xin hỏi Luật sư:

1/ Tôi và chồng tôi cả hai đều là công chức, chồng tôi đơn phương ly hôn có được không. Tôi không chấp nhận có được không và tôi phải làm gì khi chồng tôi gửi đơn?

2/Tôi không có tài sản gì trước khi kết hôn; nhưng chồng tôi trước khi kết hôn có một số tài sản: - Một căn hộ (01): do cha mẹ anh ấy cho, chồng tôi đã ở một mình trước khi kết hôn 5 năm, giấy tờ nhà do chồng tôi đứng tên và từ khi kết hôn đến nay vợ chồng chúng tôi sống chung ở đây. - Một ô tô do chồng tôi đứng tên và cũng sử dụng từ trước khi kết hôn nhiều năm. - Hai cơ sở kinh doanh – dịch vụ (02): vốn hoàn toàn do cha mẹ chồng tôi cho ( trong đó: một (01) cơ sở do Mẹ chồng tôi đứng tên sổ đỏ, giấy phép kinh doanh do Cô anh ấy đứng tên và quản lý giúp chồng tôi; còn một cơ sỏ (01) là nhà thuê; giấy phép kinh doanh do một người khác đứng tên và điều hành thay chồng tôi). Hai cơ sở này cũng thành lập và hoạt động trước khi kết hôn, sau khi kết hôn tôi có biết như trên và thời gian mới cưới tôi có cùng chồng thỉnh thoảng đến kiểm tra việc hoạt động, nhưng thời gian gần đây chỉ chồng tôi quản lý. Toàn bộ tiền thu nhập từ hai cơ sở này và tiền lương của cá nhân chồng tôi do anh ấy quản lý để thanh toán việc bảo dưởng, sửa chửa, chi phí điện, nước, chi phí quản lý nhà ở gia đình và chi phí hoạt động cho 02 cơ sở kinh doanh dich vụ nêu trên; còn lại anh ấy giữ. - Chúng tôi có số tiền của hai bên gia đình cho, họ hàng hai bên, bạn bè mừng đám cưới, sau khi thanh toán các khoản chi phí cho đám cưới còn lại hơn 1 tỷ tiền Việt Nam. Số tiền này từ khi mới kết hôn tôi đứng tên gởi ngân hàng để nhận lãi hàng tháng cùng với tiền lương tháng của tôi chi phí cho việc ăn uống của gia đình; mua sắm ... (số tiền này trước đây chồng tôi nói cho tôi hết nhưng nay nói phải chia khi ly hôn) Vậy xin Luật sư giải đáp cho khi buộc phải ly hôn thì: Theo quy định của pháp luật trong khối tài sản của chồng tôi nêu trên thì tài sản nào là tài sản riêng không phải chia, tài sản nào là tài sản chung được chia; việc phân chia như thế nào?

3/ Thu nhập từ hoạt động của hai (02) cơ sở kinh doanh là thu nhập chung hay thu nhập riêng của chồng tôi (nếu thu nhập chung thì việc phân chia như thê nào) Để chứng minh là tài sản chung thì tôi cần phải làm gì?

4/ Về nhà ở của tôi sau khi ly hôn thì theo quy định sẽ được giải quyết như thế nào khi tôi không có chổ ở khác?

5/ Số tiền trong sổ tiết kiệm có phải là của riêng tôi không, nếu không phải thì sễ được giải quyết như thế nào?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi : P.T

- P.T

Tư vấn về vấn đề ly hôn đơn phương khi cả hai vợ chồng đều là công chức nhà nước ?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân về ly hôn : 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến Công ty Luật Minh Khuê. Với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Khoản 1 ​Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

"1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn"

Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình quy định :

"1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình quy định:

"1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luậtnày; tài sảnphục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này."

Điều 46 Luật hôn nhân và gia đình quy định:

"1. Việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng.

2. Tài sản được nhập vào tài sản chung mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì thỏa thuận phải bảo đảm hình thức đó.

3. Nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung được thực hiện bằng tài sản chung, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác."

Điều 47 Luật hôn nhân và gia đình quy định:

"Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn"

Căn cứ vào các điều luật trên chúng tôi xin trả lời các câu hỏi của bạn như sau:

1/ Theo quy định của pháp luật thì vợ hoặc chồng có quyền đơn phương ly hôn tức là làm đơn khởi kiện xin ly hôn mà không có sự đồng ý của người khác. Pháp luật chỉ quy định duy nhất một trường hợp bị hạn chế ly hôn theo khoản 2 điều 51 luật hôn nhân và gia đình đó là: Người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Do đó trong trường hợp của bạn, quyền yêu cầu xin ly hôn không bị hạn chế khi vợ, chồng bạn là công chức. Do đó chồng bạn có quyền khởi kiện yêu cầu tòa án ly hôn khi không có sự đồng ý của bạn.

2/Theo quy định của pháp luật thì những tài sản có trước thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng. Do đó những tài sản mà chồng bạn có trước khi kết hôn với bạn thì không phải chia vì đó là tài sản riêng của chồng bạn.

3/ Hai cơ sở kinh doanh là tài sản có trước thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng của chồng bạn, bạn không có quyền sở hữu đối với tài sản này. Tuy nhiên như chúng tôi đã trình bày thì những tài sản có trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng. Do đó tiền lương của chồng bạn cũng là tài sản chung. Do đó bạn có nói chồng bạn sử dụng tiền lương làm chi phí hoạt động cho hai cơ sở kinh doanh. Đây có thể coi là hoạt động đầu tư kinh doanh trong thời kỳ hôn nhân,và lợi tức phát sinh từ hoạt động đầu tư dùng tài sản chung của vợ chồng sẽ là tài sản chung nên nếu bạn chứng minh được chồng bạn đã sử dụng khoản tiền trên để duy trì hoạt động của hai cơ sở kinh doanh và hai cơ sở kinh doanh thu được lãi thì bạn có thể yêu cầu chia phần lợi tức của hai cơ sở kinh doanh đó.

4/ Về nhà ở, mặc dù bạn không còn nhà khác để ở nhưng theo quy định của pháp luật thì nhà ở là tài sản riêng của chồng bạn vì là tài sản có trước hôn nhân, hiện chồng bạn đứng tên và bạn không có đóng góp gì để xây dựng nên ngôi nhà đó nên nếu ly hôn bạn không có quyền gì đối với ngôi nhà

5/ Theo quy định của pháp luật thì tài sản chung là tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân. Do đó số tiền hơn tỷ có trong sổ tiết kiệm là tiền có được sau khi kết hôn mặc dù bạn đứng tên nhưng là tài sản chung của cả vợ và chồng. Về nguyên tắc thì khi ly hôn số tiền này sẽ được chia đôi. Tuy nhiên tòa án có tính đến công sức đóng góp của mỗi người cũng như hoàn cảnh của vợ, chồng. Trong bài viết bạn gửi đến công ty bạn có nói trước khi chồng bạn nói cho bạn hết số tiền đó nhưng nay đòi chia. Theo quy định của pháp luật thì vợ chồng có quyền thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nhưng thỏa thuận này phải được lập thành văn bản. Do đó nếu bạn có giấy tờ chứng minh được số tiền trên chồng bạn đã thỏa thuận chia cho bạn thì số tiền đó mới trở thành tài sản riêng của bạn.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi, cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn dịch vụ tư vấn của Công ty Luật Minh Khuê. Nếu còn thắc mắc bạn vui lòng liên hệ qua địa chỉ: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài luật sư: 1900.6162 để được tư vấn trực tiếp. Trân trọng./.

>> Tham khảo ngay: Thủ tục ly hôn đơn phương khi chồng giữ tất cả giấy tờ ?

5. Ly hôn đơn phương có cần xác nhận của tổ dân phố không ?

Chào luật sư, Em có một vấn đề muốn nhờ luật sư tư vấn về thủ tục ly hôn đơn phương. Chị gái em kết hôn từ năm 2007, có 1 con trai đã 7 tuổi, chồng chị không có công việc, cuộc sống gần như rất khổ sở, 1 mình chị đi làm nuôi gia đình, chồng không giúp đỡ cũng như còn làm cuộc sống thêm mệt mỏi, hiện tại do gặp quá nhiều mâu thuẫn, nên chị muốn ly hôn nhưng chồng không đồng ý. Chị có làm đơn ly hôn đơn phương và xin xác nhận của tổ trưởng dân phố không hợp tác, phường cũng không xác nhận nên không làm được.
Hiện tại chị em cư trú tại quận Hoàng Mai, HN. Vậy luật sư cho em hỏi giờ chị em muốn ly hôn thì cần làm theo những bước nào khi phường không xác nhận cho ạ ?
Cảm ơn luật sư!

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân về quyền nuôi con, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hônnếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn."

Để có căn cứ chứng minh tình trạng vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thực hiện theo quy định tại mục 8 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP Của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao số 02/2000/NĐ-HĐTP ngày 23 tháng 12 năm 2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình như sau:

"8. Căn cứ cho ly hôn (Điều 89)

a. Theo quy định tại khoản 1 Điều 89 thì Toà án quyết định cho ly hôn nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài được, mục đích của hôn nhân không đạt được.

a.1. Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;

a.2. Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng dẫn tại điểm a.1 mục 8 này. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

a.3. Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt."

Theo như bạn cung cấp thì bạn muốn ly hôn đơn phương, trường hợp này bạn là nguyên đơn còn người bạn muốn ly hôn cần làm các thủ tục sau:

1. Chuẩn bị và nộp hồ sơ xin ly hôn

a. Hồ sơ ly hôn bao gồm:

- Đơn xin ly hôn

- Bản chính giấy chứng nhận đăng ký kết hôn

- Bản sao có chứng thực chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu của hai vợ chồng

- Bảo sao giấy khai sinh của con (nếu có)

- Các giấy tờ chứng minh tài sản chung (nếu có).

Bạn có thể tham khảo cách viết đơn xin ly hôn tại đây

b. Nơi nộp hồ sơ: Hồ sơ xin ly hôn sẽ nộp tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết

Về thẩm quyền theo cấp: Khỏa 1 Điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 (Luật sửa đổi, bổ sung bộ luật tố tụng dân sự 2011) có quy định:

"1. Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Tòa án nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 25 và Điều 27 của Bộ luật này; "

Về thẩm quyền theo lãnh thổ: Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011 như sau: "a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này; "

Theo quy định của Điều 52 Bộ luật dân sự 2005, thì “1. Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống.

2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều này (Điều 52 BLDS) thì nơi cư trú là nơi người đó đang sinh sống”.

Trường hợp không biết nơi cư trú, làm việc của bị đơn thì thực hiện theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 36 BLDS như sau:

"1. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây:

a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết; "

Như vậy, Hồ sơ xin ly hôn sẽ được nộp tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc (nếu không biết nơi cư trú, làm việc thì sẽ là Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc cuối cùng).

Theo quy định tại Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì pháp luật khuyến khích hòa giải tại cơ sở, nhưng chỉ mang tính chất khuyến khích chứ không bắt buộc, vì vậy không cần xin xác nhận của phường hay tổ dân phố.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Tư vấn về thủ tục ly hôn đơn phương khi vợ không hợp tác giải quyết ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

6. Ly hôn đơn phương trong trường hợp "bị Tòa án tuyên bố mất tích" ?

Ly hôn đơn phương theo quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, "Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn".

Ly hôn đơn phương trong trường hợp

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân qua tổng đài, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Căn cứ khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về ly hôn đơn phương trong trường hợp Tòa án tuyên bố mất tích cụ thể như sau:

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì: "trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn".

Thứ nhất: Người vợ hoặc người chồng đồng thời yêu cầu Toà án tuyên bố người chồng hoặc người vợ của mình mất tích và yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn. Trong trường hợp này nếu Toà án tuyên bố người đó mất tích thì giải quyết cho ly hôn; nếu Toà án thấy chưa đủ điều kiện tuyên bố người đó mất tích thì bác các yêu cầu của người vợ hoặc người chồng.

Thứ hai: Người vợ hoặc người chồng đã bị Toà án tuyên bố mất tích theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan. Sau khi bản án của Toà án tuyên bố người vợ hoặc người chồng mất tích đã có hiệu lực pháp luật thì người chồng hoặc người vợ của người đó có yêu cầu xin ly hôn với người đó. Trong trường hợp này Toà án giải quyết cho ly hôn.

Điều kiện để Tòa án tuyên bố mất tích căn cứ thêo Điều 68 Bộ luật dân sự 2015 có quy định cụ thể như sau:

Điều 68. Tuyên bố mất tích

1. Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.

Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

2. Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

3. Quyết định của Tòa án tuyên bố một người mất tích phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người bị tuyên bố mất tích để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

Như vậy khi có căn cứ một người đã biệt tích 02 năm trở lên thì có thể yêu cầu tòa án giải quyết và ra tuyên bố người này mất tích.

Căn cứ Luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích như sau:

Điều 387. Đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích

1. Người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích theo quy định của Bộ luật dân sự.

2. Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải gửi tài liệu, chứng cứ để chứng minh người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đã biệt tích 02 năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hoặc đã chết và chứng minh cho việc người yêu cầu đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm; trường hợp trước đó đã có quyết định của Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú thì phải có bản sao quyết định đó.

Điều 388. Chuẩn bị xét đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích

1. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích, Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích.

2. Nội dung thông báo và việc công bố thông báo được thực hiện theo quy định tại Điều 384 và Điều 385 của Bộ luật này. Thời hạn thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là 04 tháng, kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên.

3. Trong thời hạn thông báo, nếu người bị yêu cầu tuyên bố mất tích trở về và yêu cầu Tòa án đình chỉ việc xét đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích.

4. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày kết thúc thời hạn thông báo quy định tại khoản 2 Điều này thì Tòa án phải mở phiên họp xét đơn yêu cầu.

Điều 389. Quyết định tuyên bố một người mất tích

Trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định tuyên bố một người mất tích; trường hợp có yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích đó và được chấp nhận thì trong quyết định tuyên bố một người mất tích, Tòa án còn phải quyết định áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người đó theo quy định của Bộ luật dân sự.

Khi Toà án giải quyết cho ly hôn với người tuyên bố mất tích thì cần chú ý giải quyết việc quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích theo đúng quy định tại Điều 69 Bộ luật dân sự 2015.

Điều 69. Quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích

Người đang quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú quy định tại Điều 65 của Bộ luật này tiếp tục quản lý tài sản của người đó khi người đó bị Tòa án tuyên bố mất tích và có các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 66 và Điều 67 của Bộ luật này.

Trường hợp Tòa án giải quyết cho vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích ly hôn thì tài sản của người mất tích được giao cho con thành niên hoặc cha, mẹ của người mất tích quản lý; nếu không có những người này thì giao cho người thân thích của người mất tích quản lý; nếu không có người thân thích thì Tòa án chỉ định người khác quản lý tài sản.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê