1. Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự là gì?

Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự là việc các cơ quan có thẩm quyền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài phối hợp, hỗ trợ nhau để thực hiện hoạt động phục vụ yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.

2. Phạm vi điều chỉnh của hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự

BLTTHS năm 2003 không quy định về phạm vi của hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự dẫn đến việc khó áp dụng trong thực tế, đồng thời cũng không quy định rõ hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự gồm những nội dung gì mà chỉ tập trung vào hai nội dung chính là (1) dẫn độ, (2) chuyển giao hồ sơ, tài liệu, vật chứng của vụ án. Quy định như vậy vừa thiếu sự rõ ràng, vừa có thể gây trùng lặp với quy định về tương trợ tư pháp trong các văn bản quy phạm pháp luật khác (chẳng hạn như Luật tương trợ tư pháp). Khắc phục hạn chế này, BLTTHS năm 2015, Điều 485 đã bổ sung những nội dung sau: 

- Đã đưa ra định nghĩa về hợp tác quốc tế trong TTHS với nội hàm cụ thể rõ ràng làm cơ sở pháp lý cho thực tiễn giải quyết vụ án. Quy định này đã chỉ ra chủ thể của hợp tác quốc tế trong TTHS một bên là các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và một bên là các cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài theo quy định của mỗi nước. Đồng thời, quy định cũng nêu rõ hợp tác quốc tế trong TTHS là sự “phối hợp, hỗ trợ nhau để thực hiện các hoạt động phục vụ yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự” của các cơ quan có thẩm quyền mỗi bên.

- Nội dung, hình thức của hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự bao gồm: “Tương trợ tư pháp về hình sự; dẫn độ; tiếp nhận, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù và các hoạt động hợp tác quốc tế khác”. Đây là bốn lĩnh vực của hợp tác quốc tế trong TTHS, đặc biệt BLTTHS năm 2015 đã quy định “hình thức hợp tác quốc tế khác” trong TTHS nhằm đáp ứng những phát sinh trong thực tiễn hợp tác quốc tế trên cơ sở thỏa thuận giữa Việt Nam với các quốc gia khác của quá trình giải quyết vụ án.

- Nguồn pháp luật điều chỉnh hợp tác quốc tế trong TTHS. Nguồn luật là một nội dung quan trọng nhằm xác định cơ sở pháp lý cho việc áp dụng pháp luật, giúp cho quá trình thực thi, áp dụng pháp luật diễn ra thuận lợi. Hợp tác quốc tế trong hệ thống pháp luật nước ta được quy định ở BLTTHS, Luật tương trợ tư pháp và các hiệp định về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hình sự mà Việt Nam đã ký kết với các nước.Tuy nhiên, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 không quy định rõ nguồn áp dụng, phạm vi áp dụng của các văn bản này. Khắc phục hạn chế đó, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung quy định nguồn pháp luật áp dụng là: “Quy định tại BLTTHS, pháp luật về tương trợ tư pháp và điều ước quốc tế mà Cộng

- Phạm vi hợp tác quốc tế. Điều luật đã quy định rõ ràng về phạm vi của hợp tác quốc tế trong TTHS “Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại, theo quy định của BLTTHS, pháp luật về tương trợ tư pháp và quy định khác của pháp luật Việt Nam có liên quan.” 

Như vậy, BLTTHS năm 2015 đã làm rõ được phạm vi của vấn đề hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự bằng cách đưa ra khái niệm, nội dung và nguồn quy phạm áp dụng do đó, hợp tác quốc tế trong TTHS đã được xác định cụ thể, rõ ràng hơn so với quy định trong BLTTHS năm 2003. 

3. Nguyên tắc hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự

BLTHS năm 2015 quy định về nguyên tắc hợp tác quốc tế trên cơ sở kế thừa quy định về nguyên tắc hợp tác quốc tế của BLTTHS năm 2003 theo hướng ngắn gọn và chính xác hơn. Cụ thể, tại Điều 492 BLTTHS năm 2015 quy định: “vấn đề hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự được thực hiện trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.” Quy định này đã bỏ bớt nội dung “phù hợp với nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế” so với quy định của BLTTHS năm 2003, theo chúng tôi là hợp lý, vì qua thực tiễn cho thấy, khi nội luật hóa thành các quy định của pháp luật về hợp tác tác quốc tế trong TTHS đã được ban hành đều phải dựa trên cơ sở phù hợp với pháp luật quốc tế. Đồng thời, khi ký kết các điều ước về hợp tác quốc tế trong TTHS với các nước đã cụ thể hóa hoặc thừa nhận các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế trong các văn bản này nên không cần phải nhắc lại ở BLTTHS. Bên cạnh đó, luật cũng quy định nguyên tắc hợp tác quốc tế khi Việt Nam chưa ký kết các điều ước quốc tế được dựa trên nguyên tắc có đi có lại nhưng không được trái với quy định của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phù hợp pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế.

4. Hợp tác quốc tế trong xử lý tài sản do phạm tội mà có

Hợp tác quốc tế trong xử lý tài sản do phạm tội mà có là một nhu cầu của thực tiễn và đã được quy định trong một số điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên như: khoản 2 (h) Điều 1, Điều 22 Hiệp định ASEAN; các điều 51, 54, 55, 57 Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng, các điều 12, 13, 14 Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia; Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự với Ấn Độ, Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Alien, Angiêri... Tuy nhiên, các điều ước nêu trên đều không quy định thống nhất về phương thức xử lý tài sản do phạm tội mà có.

Từ thực trạng này và nhằm mục đích tạo sự linh hoạt cho thực tiễn, so với Bộ luật tố tụng hình sự 2003 thì Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã được bổ sung quy đỊnh về xử lý tài sản do phạm tội mà có. Theo đó, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có thể hợp tác với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài trong việc truy tìm, tạm giữ, kê biên, phong tỏa, tịch thu, xử lý tài sản do phạm tội mà có để phục vụ yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Việc truy tìm, tạm giữ, phong tỏa, kê biên, tịch thu tài sản do phạm tội mà có áp dụng theo quy định pháp luật Việt Nam và việc trả lại, phân chia tài sản do phạm tội mà có thực hiện theo quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc theo thoả thuận trong từng vụ việc cụ thể.

5. Phân tích quy định xử lý tài sản do phạm tội mà có

Xử lý tài sản do phạm tội mà có được quy định tại Điều 507 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

Điều 507. Xử lý tài sản do phạm tội mà có

1. Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hợp tác với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài trong việc truy tìm, tạm giữ, kê biên, phong tỏa, tịch thu, xử lý tài sản do phạm tội mà có để phục vụ yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.

2. Việc truy tìm, tạm giữ, kê biên, phong tỏa, tịch thu tài sản do phạm tội mà có tại Việt Nam được thực hiện theo quy định của Bộ luật này và quy định khác của pháp luật Việt Nam có liên quan.

3. Việc xử lý tài sản do phạm tội mà có tại Việt Nam thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo thoả thuận trong từng vụ việc cụ thể giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài có liên quan. 

Tài sản do phạm tội mà có là những vật, tiền người phạm tội có được ngay sau khi thực hiện hành vi phạm tội hoặc sau khi định đoạt những tài sản đó mà có.

Căn cứ vào thời điểm “có được” vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm, có thể chia vật, tiền do phạm tội mà có thành các loại: Vật, tiền bạc mà người phạm tội chiếm đoạt trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội chiếm đoạt; Vật, tiền bạc mà người phạm tội có được sau khi định đoạt vật và tiền bạc đã chiếm đoạt trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội chiếm đoạt. Đó có thể là vật, tiền do mua bán, đổi chác những thứ đã chiếm đoạt mà có; vật, tiền lời, lãi từ việc sử dụng trái phép tiền của Nhà nước, tập thể, cá nhân gửi tiết kiệm, cho vay lãi.

Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hợp tác với cơ quan có thẩm quyền nước ngoài trong việc truy tìm, tạm giữ, kê biên, phong tỏa, tịch thu, xử lý tài sản do phạm tội mà có để phục vụ yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Như vậy, mục đích của việc hợp tác quốc tế trong việc truy tìm, tạm giữ, kê biên, phong tỏa, tịch thu tài sản do phạm tội mà có là để giải quyết vụ án hình sự tại Việt Nam hoặc tại nước ngoài.

Theo quy định tại Công ước quốc tế ngày 15/11/2000 của Liên hợp quốc về phòng chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và Công ước quốc tế ngày 31/10/2003 của Liên hợp quốc về phòng chống tham nhũng, thì các quốc gia thành viên có trách nhiệm áp dụng các biện pháp do pháp luật quốc gia quy định để truy tìm, tạm giữ, kê biên, phong tỏa, tịch thu, xử lý tài sản do phạm tội mà có.

Khoản 2 và khoản 3 Điều 507 Bộ luật tố tụng hình sự quy định việc truy tìm, tạm giữ, kê biên, phong tỏa, tịch thu, xử lý tài sản do phạm tội mà có xuất phát từ cam kết của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khi tham gia hai Công ước quốc tế nêu trên. Theo đó:

- Việc truy tìm, tạm giữ, kê biên, phong tỏa, tịch thu tài sản do phạm tội mà có tại Việt Nam được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và quy định khác của pháp luật Việt Nam có liên quan.

- Việc xử lý tài sản do phạm tội mà có tại Việt Nam thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo thỏa thuận trong từng vụ việc cụ thể giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài có liên quan.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)