1. Quyền tư pháp là gì?

Trong thuật ngữ tiếng Việt, chữ “tư pháp” có tới ba nghĩa hoàn toàn khác nhau:

Trước hết, “tư pháp” là quyền xét xử. Khái niệm “tư pháp” dùng trong trường hợp này để chỉ các cơ quan tham gia vào hoạt động xét xử của nhà nước đối với các hành vi vi phạm pháp luật và các vụ kiện tụng về dân sự giữa công dân với nhau. Cụ thể, đó là các cơ quan phụ trách công tác điều tra, công tố, xét xử để xử lý tội phạm theo trình tự tố tụng hình sự và tố tụng dân sự. Chữ “cải cách tư pháp” dùng hiện nay là nhằm cải cách tổ chức và hoạt động ở các cơ quan điều tra (công an) công tố (viện kiểm sát) và xét xử (tòa án).

Trong học thuyết tam quyền phân lập, nhà nước có ba quyền: lập pháp (làm pháp luật), hành pháp (thi hành pháp luật) và tư pháp, thì chữ tư pháp này được dùng để chỉ một nhánh quyền lực nhà nước phụ trách công việc xét xử và bảo vệ pháp luật. Hiểu theo nghĩa này, hiện nay chúng ta cũng có từ “lý lịch tư pháp” nghĩa là loại giấy tờ do cơ quan chuyên trách lập, ghi có hay không có các quyết định của tòa án đối với người phạm tội theo bản án của tòa án tuyên (chú ý: cơ quan phụ trách lý lịch tư pháp hiện nay lại thuộc ngành hành pháp, hành chính nói dưới đây, chứ không thuộc ngành tòa án). 

“Tư pháp” còn có nghĩa là sự công bằng, pháp luật. Trong nhánh hành pháp (không phải là nhánh tư pháp như nói trên) của nhà nước, ở nhiều nước đều có ngành phụ trách các công việc liên quan đến pháp luật. Hiểu theo nghĩa này, ở nước ta hiện nay có Bộ Tư pháp (cơ quan thành viên của Chính phủ), Sở Tư pháp (cơ quan chuyên môn giúp việc cho UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương), Phòng Tư pháp (cơ quan chuyên môn giúp việc cho UBND quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) và các cán bộ Tư pháp - Hộ tịch giúp việc cho UBND ở cấp phường, xã, thị trấn. Các cơ quan này phụ trách hoạt động quản lý nhà nước (hành chính) chuyên môn liên quan đến pháp luật như: công tác xây dựng và thẩm định văn bản quy phạm pháp luật; kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật; công chứng, chứng thực; hộ tịch; quốc tịch; nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài; lý lịch tư pháp; luật sư; tư vấn pháp luật; trợ giúp pháp lý; giám định tư pháp; thừa phát lại; hòa giải ở cơ sở; bán đấu giá tài sản; trọng tài thương mại; thi hành án dân sự; công tác bồi thường của Nhà nước...

Ngoài ra, chữ “tư pháp” còn có một nghĩa khác nữa là ngành luật tư . “Luật tư” (tư pháp) nghĩa là ngành luật điều chỉnh các quan hệ giữa tư nhân với nhau (như: luật dân sự hay dân luật, luật hôn nhân và gia đình, luật thương mại...) khác với “luật công” (công pháp) là ngành luật điều chỉnh các quan hệ mang tính chất nhà nước (như luật hiến pháp, luật hành chính, luật hình sự, luật tố tụng...).

Nội dung cơ bản của thuyết tam quyền phân lập là sự phân chia ba nhánh quyền lực, trong đó lập pháp là biểu hiện ý chí chung của quốc gia, thuộc về toàn thể nhân dân, được trao cho hội nghị đại biểu nhân dân là Quốc hội. Hành pháp là việc thực hiện luật pháp được thiết lập. Tư pháp là để xử lý những hành vi vi phạm pháp luật và giải quyết xung đột giữa các cá nhân. Các thẩm phán được lựa chọn từ dân và khi xử án chỉ tuân theo pháp luật. Ba nhánh quyền lực (lập pháp, hành pháp, tư pháp), do ba cơ quan khác nhau nắm giữ để không một cá nhân hay tổ chức nào nắm trọn vẹn quyền lực nhà nước. Điển hình như ở Mỹ, Nghị viện nắm quyền lập pháp, Chính phủ, Tổng thống nắm quyền hành pháp, Tòa án nắm quyền tư pháp. Hoạt động của các cơ quan quyền lực công có sự chuyên môn hóa, mỗi cơ quan chỉ hoạt động nhằm thực hiện chức năng riêng của mình, không làm ảnh hưởng tới hoạt động của các cơ quan khác. Quyền lực giữa các cơ quan này cân bằng nhau, không có loại quyền lực nào vượt trội, lớn hơn quyền lực nào. Các cơ quan quyền lực giám sát, kiềm chế, đối trọng và chế ước lẫn nhau, để không một cơ quan nào có khả năng lạm quyền.

Từ nguồn gốc hình thành trong học thuyết tam quyền thì quyền tư pháp là quyền xét xử, được thực hiện thông qua cơ quan có chức năng xét xử là Tòa án. Đây là quyền áp dụng các quy định của pháp luật có liên quan để xác định rõ quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm, hậu quả pháp lý của các bên tham gia tranh chấp dựa trên những tình tiết khách quan của vụ việc. Thực hiện quyền tư pháp là việc pháp luật được áp dụng, được tôn trọng và được thực thi. Thực hiện quyền tư pháp là một trong những cách hữu hiệu để quyền lập pháp mang giá trị xã hội đích thực và được tôn trọng trong thực tế. Quyền tư pháp gắn với Tòa án và chỉ Tòa án là cơ quan duy nhất có chức năng thực hiện quyền tư pháp, vì vậy, Tòa án còn được gọi là cơ quan tư pháp và chỉ Tòa án mới là cơ quan tư pháp. Đó là quan niệm về quyền tư pháp và cơ quan tư pháp của nhiều quốc gia trên thế giới, từ thời điểm hình thành học thuyết ba quyền lực cho đến hiện nay.   

2. Quyền tư pháp ở Việt Nam

Sự khác biệt giữa nhận thức, quan niệm về tư pháp của Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới, xuất phát từ sự khác nhau giữa cách thức tổ chức và quản lý xã hội. Nhiều nước trên thế giới tổ chức bộ máy quyền lực để quản lý xã hội theo học thuyết tam quyền phân lập, trong đó có sự phân chia quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp; các quyền này độc lập, cân bằng, có đối trọng và chế ước lẫn nhau nhằm tránh sự lạm quyền, sự độc quyền và độc tài; bảo đảm sự dân chủ, công bằng, bảo đảm quyền và lợi ích của người dân được thực thi theo quy định của hiến pháp và pháp luật. Việt Nam không theo học thuyết này mà tổ chức bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, quyền lực nhà nước là thống nhất và tập trung trong tay nhân dân; nhân dân trao cho người đại diện là các cơ quan nhà nước thực hiện quyền lực của mình, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lực ấy là quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Vì không có sự phân chia quyền lực, nên từ góc độ này thì ở Việt Nam không có quyền tư pháp theo nghĩa mà nhiều nước trên thế giới hiện nay đang quan niệm.

Khoản 2, Điều 102, Hiến pháp 2013 quy định: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”. Bằng quy định này, lần đầu tiên trong Hiến pháp, cơ quan thực hiện quyền tư pháp ở Việt Nam được khẳng định là Tòa án nhân dân, theo đó, quyền tư pháp được hiểu là quyền xét xử. So với thời kỳ trước Hiến pháp năm 2013 thì quyền tư pháp và cơ quan tư pháp đã được định hình và thu hẹp phạm vi, dẫn đến những đổi mới trong nhận thức về quyền tư pháp ở Việt Nam.

3. Những sửa đổi, bổ sung trong BLTTHS 2015 nhằm bảo đảm quyền tư pháp của Tòa án

Để bảo đảm Tòa án thực hiện tốt quyền tự pháp, thống nhất với các quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được đã bổ sung quy định về thẩm quyền của Tòa án trong việc: (1) Xem xét, kết luận về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Luật sư trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; (2) Xem xét, kết luận tính hợp pháp của các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do luật sư, bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cung cấp (Điểu 260 và Điều 326); bổ sung quy định về việc Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trình bày ý kiến tại phiên tòa, theo đó, khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử tự mình hoặc theo đề nghị của người tham gia tố tụng yêu cầu Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trình bày ý kiến để làm rõ những quyết định, hành vi tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố xét xử (Điều 317). Đồng thời, Bộ luật sửa đổi, bổ sung quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung; yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ; và trường hợp Tòa án tự mình xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ. 

4. Quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung

Điều 280 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định:

- Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung khi thuộc một trong các trường hợp:

+ Khi thiếu chứng cứ dùng để chứng minh một trong những vấn đề quy định tại Điều 85 của Bộ luật này mà không thể bổ sung tại phiên tòa được;

+ Có căn cứ cho rằng ngoài hành vi mà Viện kiểm sát đã truy tố, bị can còn thực hiện hành vi khác mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm;

+ Có căn cứ cho rằng còn có đồng phạm khác hoặc có người khác thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can;

+ Việc khởi tố, điều tra, truy tố vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng.

- Trường hợp Viện kiểm sát phát hiện có căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì Viện kiểm sát có văn bản đề nghị Tòa án trả hồ sơ.

- Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung phải ghi rõ những vấn đề cần điều tra bổ sung và gửi cho Viện kiểm sát kèm theo hồ sơ vụ án trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định.

Nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn tới việc đình chỉ vụ án thì Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án và thông báo cho Tòa án biết trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định.

Nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn tới phải thay đổi quyết định truy tố thì Viện kiểm sát ban hành bản cáo trạng mới thay thế bản cáo trạng trước đó.

Trường hợp Viện kiểm sát không bổ sung được những vấn đề mà Tòa án yêu cầu và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố thì Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

5. Quy định yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ 

Điều 284 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định: 

- Khi xét thấy cần bổ sung tài liệu, chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án mà không phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì Thẩm phán chủ toạ phiên tòa yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung.

- Yêu cầu bổ sung tài liệu, chứng cứ phải bằng văn bản, nêu rõ tài liệu, chứng cứ cần bổ sung và gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra văn bản yêu cầu.

- Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của Tòa án, Viện kiểm sát gửi cho Tòa án tài liệu, chứng cứ được yêu cầu bổ sung. Trường hợp Viện kiểm sát không bổ sung được tài liệu, chứng cứ thì Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)