1. Các biện pháp tư pháp là gì ?

>> Luật sư tư vấn pháp Luật Hình sự gọi: 1900.6162

Các biện pháp tư pháp là các biện pháp hình sự được áp dụng đối với người phạm tội, có tác dụng hỗ trợ hoặc thay thế hình phạt

Cùng với hình phạt, các biện pháp tư pháp thể hiện chính sách hình sự của Nhà nước. Các biện pháp tư pháp mang tính chất hỗ trợ cho hình phạt trong trường hợp cần thiết phải xử lí cơ bản, toàn diện người phạm tội về hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, thể hiện sự công minh của pháp luật đồng thời loại bỏ những điều kiện phạm tội, đảm bảo trật tự, an toàn cho xã hội. Trong những trường hợp nhất định như trường hợp người mắc bệnh tâm thần mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi, các biện pháp tư pháp đóng vai trò loại bỏ khả năng dẫn đến hành vi nguy hiểm cho xã hội và là thể hiện cụ thể của nguyên tắc nhân đạo.

Các biện pháp tư pháp được áp dụng với những người có hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, tập thể, lợi ích chính đáng của công dân trong xã hội không nằm ngoài mục đích giáo dục, cải tạo họ và ngăn ngừa khả năng gây thiệt hại đến các lọi ích ttên trong tương lai. Nhận thức và áp dụng đúng các biện pháp tư pháp có ý nghĩa quan trọng ttong việc thể hiện chính sách hình sự của Nhà nước trong cuộc sống, đảm bảo cho an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Biện pháp tư pháp đối với người phạm tội bao gồm: Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi và bắt buộc chữa bệnh.

2. Các biện pháp tư pháp đối với người phạm tội? đối với pháp nhân thương mại phạm tội?

Biện pháp tư pháp đối với người phạm tội bao gồm:
a) Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm;
b) Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi;

>> Xem thêm:  Đối tượng và phương pháp điều chỉnh của Tư pháp Quốc tế ?

c) Bắt buộc chữa bệnh.
Biện pháp tư pháp đối với pháp nhân thương mại phạm tội bao gồm:
a) Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm;
b) Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi;
c) Khôi phục lại tình trạng ban đầu;
d) Thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra.

3.Hình phạt và các biện pháp tư pháp áp dụng đối với pháp nhân phạm tội trong Bộ luật Hình sự Việt Nam

Cũng giống như hệ thống hình phạt áp dụng đối với người phạm tội, hình phạt áp dụng đối với pháp nhân phạm tội bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung được quy định từ Điều 78 đến Điều 81 của BLHS năm 2015.
Trong số hình phạt chính, phạt tiền được xem như một công cụ pháp lý hữu hiệu để thể hiện cách ứng xử của Nhà nước đối với pháp nhân khi có hành vi gây thiệt hại cho xã hội. Tuy nhiên, khác với hình phạt tiền đối với cá nhân phạm tội chỉ được áp dụng trong trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng hoặc phạm tội rất nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường, trật tự công cộng, an toàn công cộng và một số tội phạm khác, BLHS năm 2015 không quy định các trường hợp cụ thể áp dụng hình phạt tiền đối với pháp nhân phạm tội. Vì vậy, có thể hiểu là hình phạt tiền được áp dụng đối với tất cả các loại tội phạm do pháp nhân thực hiện, không phân biệt tính chất tội phạm. Bên cạnh đó, BLHS năm 2015 quy định mức tối thiểu của hình phạt tiền đối với pháp nhân phạm tội là 50 triệu đồng. Mức phạt này đã cho thấy được sự phân hóa TNHS giữa pháp nhân và cá nhân phạm tội, cho thấy được tính nghiêm khắc của hình phạt này so với mức phạt tiền trong chế tài hành chính hay dân sự mà pháp nhân phải chịu khi có hành vi vi phạm.
Hai hình phạt chính khác áp dụng đối với pháp nhân phạm tội là hình phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn và đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Trong đó, hình phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn trong BLHS năm 2015 có tên gọi và nội dung giống với biện pháp xử phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn áp dụng đối với pháp nhân vi phạm hành chính (VPHC) được quy định trong Luật Xử lý VPHC. Nội dung của hai hình phạt này là tạm dừng hoặc chấm dứt hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe con người, môi trường hoặc an ninh, trật tự, an toàn xã hội và hậu quả gây ra có khả năng khắc phục trên thực tế. Hình phạt này có thể ảnh hưởng gián tiếp đến những người làm việc trong các pháp nhân như không có việc làm, không có lương trong thời gian pháp nhân bị đình chỉ hoạt động.

>> Xem thêm:  Lẩn tránh pháp luật là gì ? Quy định về lẩn tránh pháp luật

Các hình phạt bổ sung áp dụng đối với pháp nhân phạm tội bao gồm: cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định và cấm huy động vốn. Thời hạn cấm đối với các hình phạt này là từ 01 năm đến 03 năm. Cấm huy động vốn là một hình phạt bổ sung lần đầu tiên xuất hiện trong BLHS năm 2015. Đây là một biện pháp mạnh nhằm xử lý nghiêm, đồng thời ngăn ngừa khả năng pháp nhân tái phạm. Biện pháp này ảnh hưởng đến sự sống còn của một pháp nhân thương mại, chẳng hạn như đối với các tổ chức tín dụng, nếu bị cấm huy động vốn thì gần như đồng nghĩa với việc cấm hoạt động, vì sẽ nhanh chóng dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán.
Các biện pháp tư pháp áp dụng đối với pháp nhân phạm tội được chia làm hai nhóm:
Thứ nhất, nhóm các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người phạm tội vừa đồng thời là biện pháp áp dụng đối với pháp nhân phạm tội: biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi;
Thứ hai, nhóm các biện pháp tư pháp áp dụng riêng đối với pháp nhân phạm tội: biện pháp buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu; buộc thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra.
Xét về mặt hình thức, một số hình phạt và biện pháp tư pháp được quy định trong BLHS năm 2015 không khác gì các biện pháp cưỡng chế trong Luật Xử lý VPHC. Tuy nhiên, bản chất và tính chất của các biện pháp này có sự khác nhau. Cụ thể, trong xử lý VPHC, việc áp dụng các biện pháp nói trên chỉ mang tính chất phê bình, nhắc nhở thì trong hình sự, việc áp dụng hình phạt tiền, đình chỉ hoạt động, cấm kinh doanh, cấm huy động vốn... mang tính răn đe nghiêm khắc hơn và vì thế, có hiệu quả hơn so với các biện pháp xử lý hành chính.

4.Hình phạt và biện pháp tư pháp áp dụng đối với pháp nhân phạm tội trong luật hình sự một số nước

>> Xem thêm: Thế nào là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội ? Trách nhiệm hình sự đối với người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội ra sao ?

Pháp luật hình sự nhiều nước đã quy định TNHS của pháp nhân phạm tội. BLHS một số nước còn dành một chương riêng quy định TNHS của pháp nhân phạm tội.
Ở các nước, mặc dù các chế tài hình sự áp dụng đối với các pháp nhân phạm tội có sự khác nhau, nhưng có một điểm chung là hình phạt tiền được xác định là hình phạt chính và chủ yếu đối với pháp nhân phạm tội.
Pháp luật hình sự một số nước quy định, pháp nhân phải chịu TNHS có thể là pháp nhân có hoặc không có tư cách pháp nhân: pháp nhân theo luật tư (pháp nhân có mục đích sinh lời như các pháp nhân dân sự, pháp nhân thương mại và pháp nhân không có mục đích sinh lời như các hiệp hội, các giáo đoàn, công đoàn, các đảng phái và các nhóm chính trị), pháp nhân theo luật công - trừ nhà nước, pháp nhân nước ngoài... Ngoài các pháp nhân, TNHS còn áp dụng đối với các hiệp hội, các tổ chức khác mà về phương diện pháp luật, chúng không phải là các pháp nhân

>> Xem thêm:  Cách giải quyết xung đột pháp luật về kết hôn, ly hôn ở Việt Nam ?

Theo quy định của Điều 121-2 BLHS Pháp, để có tư cách chủ thể chịu TNHS thì pháp nhân cần phải có tư cách pháp nhân, một nhóm hoặc tổ chức không có tư cách pháp nhân sẽ không phải là “nhân” và cũng có nghĩa không phải là chủ thể pháp luật. Bên cạnh đó, Điều 131 BLHS Pháp cũng quy định xử phạt tiền là hình phạt chính duy nhất áp dụng đối với pháp nhân phạm tội. Các biện pháp xử phạt khác đối với pháp nhân được quy định bao gồm: cấm thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp một hoặc nhiều hoạt động xã hội hoặc hoạt động nghề nghiệp vĩnh viễn hoặc trong một thời gian tối đa là năm năm; đặt dưới sự giám sát tư pháp trong thời hạn tối đa là năm năm, đóng cửa vĩnh viễn hoặc đóng cửa cho đến năm năm hoặc đóng cửa một hoặc nhiều cơ sở của doanh nghiệp đã được sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội; truất quyền thi đấu từ đấu thầu rộng rãi hoặc vĩnh viễn hoặc trong một thời gian tối đa là năm năm; cấm sử dụng thẻ thanh toán trong thời hạn tối đa là năm năm; tịch thu những vật đã được sử dụng hoặc dự định thực hiện hành vi phạm tội hoặc những vật có được do việc phạm tội, v.v..
Một điểm lưu ý về các biện pháp xử phạt khác đối với pháp nhân được quy định trong BLHS Pháp là: ngoài các TNHS trên đây, pháp nhân còn phải chịu trách nhiệm dân sự (bồi thường thiệt hại cho các nạn nhân), đối mặt với lệnh trừng phạt hành chính từ cơ quan chính phủ. Loại hình phổ biến của xử phạt đối với hai thủ tục tố tụng dân sự và hành chính là phạt tiền
Điều 5 BLHS Bỉ có nét tương đồng với BLHS Pháp khi quy định, pháp nhân với tư cách là chủ thể của TNHS là pháp nhân có mục đích sinh lời trên cơ sở các hoạt động của pháp nhân như pháp nhân thương mại, pháp nhân dân sự. Trường hợp pháp nhân được thành lập và hoạt động không vì mục đích sinh lời nhưng có đăng ký hoạt động hợp lệ như các hiệp hội, giáo hội, công đoàn, đảng phái và nhóm chính trị... vẫn phải chịu TNHS theo quy định tại Điều 5 của Bộ luật này.
Điều 7 BLHS Bỉ quy định cụ thể các loại hình phạt áp dụng đối với pháp nhân phạm tội như: phạt tiền, tịch thu tài sản của pháp nhân, giải thể pháp nhân, tước quyền sử dụng giấy phép hoặc tạm đình chỉ hoạt động của pháp nhân, đóng cửa pháp nhân, niêm yết quyết định đã được tòa án tuyên hoặc thông báo quyết định đó trên các phương tiện nghe nhìn. Trong đó, hình phạt tiền là hình phạt chính áp dụng đối với tất cả các tội phạm do pháp nhân thực hiện. Các hình phạt còn lại đều là hình phạt bổ sung.
Hình phạt tịch thu tài sản của pháp nhân được áp dụng nhằm để tịch thu những lợi ích về tài sản có được trực tiếp từ việc thực hiện tội phạm, tịch thu các khoản thu nhập có từ nguồn lợi ích trên. Tuy nhiên, việc tịch thu này không được áp dụng cho đối tượng là vật được người phạm tội sử dụng hoặc chuẩn bị cho việc phạm tội nếu những vật này là tài sản thuộc về pháp nhân theo luật công. Ngoài ra, các biện pháp giải thể pháp nhân phạm tội, cấm pháp nhân phạm tội tiến hành những hoạt động nhất định, đóng cửa một hoặc nhiều cơ sở của pháp nhân phạm tội hay niêm yết quyết định đã được tòa án tuyên hoặc thông báo quyết định đó trên các phương tiện nghe nhìn không được áp dụng đối với các cơ sở được giao nhiệm vụ tiến hành các hoạt động phục vụ công cộng.
Theo quy định của Điều 51 BLHS Hà Lan, pháp nhân với tư cách là chủ thể của tội phạm bao gồm: pháp nhân theo luật tư, pháp nhân theo luật công và các tổ chức không có tư cách pháp nhân. Trong khi nhiều nước chỉ đặt ra TNHS của pháp nhân khi hành vi phạm tội của cơ quan hoặc người đại diện của pháp nhân được thực hiện trên danh nghĩa pháp nhân, thì ngược lại, BLHS Hà Lan quy định, pháp nhân phải chịu TNHS khi có hành vi phạm tội do một hoặc nhiều cá nhân thực hiện trên danh nghĩa và vì lợi ích pháp nhân
BLHS Hà Lan quy định các biện pháp cưỡng chế hình sự áp dụng đối với pháp nhân phạm tội bao gồm: phạt tiền, giải thể, tịch thu tài sản, buộc bồi thường thiệt hại, đình chỉ một phần hoặc toàn bộ các hoạt động của pháp nhân, ra lệnh buộc chấm dứt hoặc phải thực hiện một hành động hoặc không hành động. Ngoài ra, pháp nhân có thể còn bị áp dụng biện pháp đóng cửa các doanh nghiệp kinh doanh, biện pháp kiềm chế pháp l‎ý của doanh nghiệp (tức cũng giống với biện pháp chịu sự giám sát tư pháp).
Một điểm đặc biệt cần được quan tâm xem xét là: nhiều nước coi các biện pháp tư pháp cũng là một loại biện pháp mang tính trừng phạt hay còn gọi là biện pháp an ninh. Ví dụ, Luật TNHS của các pháp nhân của Montenegro quy định, Tòa án có thể áp dụng một hoặc nhiều biện pháp an ninh đối với một pháp nhân khi các điều kiện áp dụng được đáp ứng bao gồm: tịch thu các hạng mục, công bố bản án, lệnh cấm kinh doanh nhất định hoặc các hoạt động khác (Điều 28). Pháp nhân được điều chỉnh trong Luật này bao gồm: công ty trong nước, công ty nước ngoài và chi nhánh công ty nước ngoài, doanh nghiệp, tổ chức trong và ngoài nước mà không phải là tổ chức chính phủ, các quỹ đầu tư, quỹ khác, tổ chức thể thao, đảng chính trị, các hiệp hội (khoản 1 Điều 3). Các biện pháp an ninh áp dụng đối với pháp nhân phạm tội trên đây chính là các biện pháp tư pháp áp dụng bên cạnh hình phạt

5.Điểm tương đồng và khác biệt của pháp luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự nước ngoàI

>> Xem thêm:  Phê chuẩn là gì ? Khái niệm phê chuẩn được hiểu như thế nào ?

>> Xem thêm: Tha tù trước thời hạn có điều kiện là gì ? Điều kiện xét tha tù trước thời hạn có điều kiện

Thứ nhất, cũng giống như pháp luật hình sự các nước, BLHS năm 2015 không xác định rõ khái niệm pháp nhân là chủ thể chịu TNHS. Tuy nhiên, BLHS năm 2015 có quy định về điều kiện và phạm vi chịu TNHS của pháp nhân.
Thứ hai, nếu như các nước theo hệ thống Common Law chỉ áp dụng hình phạt tiền đối với pháp nhân phạm tội, thì các nước theo hệ thống pháp luật châu Âu lục địa áp dụng đa dạng các hình phạt đối với pháp nhân phạm tội, bao gồm các nhóm hình phạt như:1) Các hình phạt gây hại cho thanh danh của pháp nhân phạm tội; 2) các hình phạt về tài sản; 3) các hình phạt hạn chế các hoạt động của pháp nhân phạm tội; 4) các hình phạt nhằm vào sự tồn tại của pháp nhân phạm tội[7]. BLHS năm 2015 áp dụng đa dạng các loại hình phạt đối với pháp nhân phạm tội.
Thứ ba, khác với BLHS năm 2015, pháp luật hình sự ở đa số các nước không có quy định riêng về biện pháp tư pháp đối với pháp nhân phạm tội, mà quy định trong một văn bản luật khác không phải là BLHS.
Thứ tư, phạt tiền là hình thức xử phạt và là hình phạt phổ biến nhất được quy định trong tất cả các BLHS các nước có quy định TNHS của pháp nhân. Xử phạt tiền có ưu điểm là nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến pháp nhân, đồng thời số tiền phạt sẽ tạo ra nguồn vốn cần thiết để bồi thường cho các nạn nhân và hơn hết, nó có tác động đủ mạnh để ngăn chặn hành vi phạm tội. Mối đe dọa lớn nhất đối với cá nhân là mất sự tự do còn mối đe dọa lớn nhất đối với pháp nhân là sự mất mát lợi nhuận.
Thứ năm, giống với nhiều nước, BLHS năm 2015 quy định biện pháp đình chỉ hoạt động có thời hạn. Biện pháp này được hiểu là việc hạn chế hoạt động của pháp nhân trong một khoảng thời gian nhất định, thường được áp dụng để xử lý các hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật lao động hoặc pháp luật về môi trường do pháp nhân thực hiện và gây ra hậu quả. Do biện pháp đình chỉ hoạt động có thời hạn ít nhiều có ảnh hưởng đến người lao động làm việc trong pháp nhân (giảm lương, mất lương, không có việc làm trong thời gian pháp nhân bị đình chỉ hoạt động), nên trong quá trình áp dụng biện pháp này cần phải cân nhắc kỹ lưỡng và cần tính đến hiệu quả của việc áp dụng biện pháp này.
Thứ sáu, khác với pháp luật hình sự nhiều nước, BLHS năm 2015 không quy định về biện pháp công bố các quyết định hoặc lệnh công khai là biện pháp trừng phạt đối với hoạt động tội phạm của pháp nhân. Thực tiễn của nhiều nước cho thấy, các biện pháp này cũng có tác dụng răn đe quan trọng bởi vì các thiệt hại ngẫu nhiên nếu được công khai sẽ gây tác động tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của pháp nhân. Tuy nhiên, việc áp dụng biện pháp này có thể kéo theo những thiệt hại khác như: đóng cửa cơ sở sản xuất, kinh doanh đình trệ, gây ảnh hưởng tới người lao động.
Trên cơ sở nghiên cứu, so sánh BLHS năm 2015 với pháp luật hình sự một số nước, có thể khẳng định được rằng, xu thế xác định TNHS của pháp nhân là xu thế tất yếu và ngày càng được nhiều nước ủng hộ. Việc nghiên cứu hệ thống hình phạt và các biện pháp tư pháp cũng giúp để củng cố và làm rõ nhận định rằng, pháp nhân phạm tội vẫn có thể bị xử lý hình sự bằng bất kỳ biện pháp nào, thậm chí cả biện pháp được hiểu như là tước đi quyền sống, quyền tự do như đối với cá nhân phạm tội.
Dù mới lần đầu tiên được quy định trong BLHS năm 2015, chế định TNHS của pháp nhân, về cơ bản, vẫn đáp ứng và theo kịp pháp luật hình sự các nước trên thế giới.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực hình sự về trách nhiệm hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Bổ trợ tư pháp là gì ? Khái niệm về bổ trợ tư pháp ?

>> Xem thêm:  Hệ thống các cơ quan tư pháp ở một số nước trên thế giới ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Biện pháp tư pháp có các đặc điểm sau

Trả lời:

Thứ nhất, BPTP là một dạng cưỡng chế hình sự của Nhà nước. Đặc điểm này thể hiện ở tính quyền lực của Nhà nước khi áp dụng các biện pháp tư pháp. Nhà nước đơn phương sử dụng quyền lực để áp đặt ý chí, buộc phải tuân thủ thực hiện, nếu đối tượng bị áp dụng không thực hiện, Nhà nước sẽ sử dụng biện pháp cưỡng chế để bắt buộc phải thực hiện.
Thứ hai, các BPTP chỉ được quy định trong BLHS. Do tính chất của các BPTP là một dạng cưỡng chế hình sự, có thể làm hạn chế quyền và lợi ích của đối tượng bị áp dụng nên chỉ có BLHS là văn bản pháp luật duy nhất quy định về các biện pháp tư pháp.
Thứ ba, BPTP ít nghiêm khắc hơn so với hình phạt. Nếu như hình phạt có thể hạn chế hoặc tước bỏ những quyền và lợi ích của người phạm tội như quyền tự do, quyền sở hữu, thậm chí kể cả quyền sống thì các BPTP chỉ tước bỏ các lợi ích mang tính vật chất hoặc chỉ mang tính hỗ trợ và thay thế hình phạt như bắt buộc chữa bệnh hay giáo dục tại trường giáo dưỡng, nên ít nghiêm khắc hơn. Mặt khác, nếu như hình phạt để lại án tích thì việc áp dụng các BPTP không để lại án tích. Vì vậy, có thể nói đây cũng là biểu hiện minh chứng cho tính ít nghiêm khắc của BPTP so với hình phạt trong luật hình sự.
Thứ tư, thẩm quyền áp dụng BPTP bao gồm các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự khác nhau, tùy thuộc vào giai đoạn của tố tụng hình sự. BPTP có thể được áp dụng trong tất cả các giai đoạn của tố tụng hình sự. Theo đó, trong giai đoạn xét xử và giai đoạn thi hành án hình sự, thẩm quyền áp dụng BPTP thuộc về tòa án nhân dân; trong giai đoạn điều tra và giai đoạn truy tố, thẩm quyền áp dụng BPTP thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng khác. Đặc điểm này cũng cho thấy, đây là điểm khác biệt giữa BPTP so với hình phạt trong luật hình sự (do tòa án là cơ quan duy nhất có quyền nhân danh Nhà nước áp dụng hình phạt đối người phạm tội).
Thứ năm, đối tượng bị áp dụng BPTP khá đa dạng. Đối tượng bị áp dụng BPTP là người phạm tội, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng mất khả năng nhận thức, mất khả năng điều khiển hành vi của mình, pháp nhân thương mại thực hiện hành vi tội phạm và người thành niên phạm tội nhưng tòa án xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt với họ mà thay thế vào đó là áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng. Đặc điểm này cũng cho thấy sự khác biệt về đối tượng bị áp dụng của BPTP so với đối tượng bị xét xử trong vụ án hình sự.
Thứ sáu, BPTP là một dạng của trách nhiệm hình sự. Đặc điểm này thể hiện ở một số khía cạnh sau: a) BPTP chỉ được áp dụng trong lĩnh vực hoạt động tố tụng hình sự; b) Việc áp dụng các BPTP do các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự thực hiện và được thể hiện trong bản án hay quyết định của tòa án hoặc trong các quyết định áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng khác; c) Các BPTP được coi là ít nghiêm khắc hơn so với hình phạt nhưng nếu so sánh với các dạng trách nhiệm pháp lý khác thì nó vẫn nghiêm khắc hơn.
Thứ bảy, BPTP khá đa dạng về thể loại. Căn cứ vào mục đích áp dụng, BPTP được chia thành các loại sau đây: a) Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; b) Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi; c) Bắt buộc chữa bệnh. Đối với pháp nhân thương mại phạm tội, BPTP bao gồm: a) Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; b) Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi; c) Khôi phục lại tình trạng ban đầu; d) Thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra

Câu hỏi: Những hạn chế, bất cập trong thực tiễn áp dụng biện pháp tư pháp và giải pháp khắc phục

Trả lời:

Bất cập trong áp dụng biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm
Theo quy định tại Điều 47 của BLHS năm 2015, việc tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hoặc tịch thu tiêu hủy được áp dụng đối với công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội; vật hoặc tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có; khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội; vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành.
Theo Từ điển tiếng Việt, “vật” được hiểu là đồ vật, hiện vật.. là những vật thể thuộc thế giới vật chất, tồn tại khách quan và con người có thể nhận biết được bằng thị giác hay xúc giác. Tuy nhiên, tác giả cho rằng, trong đấu tranh phòng, chống tội phạm hiện nay, quan niệm “vật, tiền” theo nghĩa vật chất thông thường không còn phù hợp nữa. Bởi lẽ, thực tế cho thấy, nhiều vụ án sử dụng công nghệ cao thực hiện tội phạm thì công cụ, phương tiện phạm tội là sản phẩm trí tuệ không phải là loại vật thông thường. Ví dụ, vụ án sử dụng phần mềm gián điệp để ăn cắp mật khẩu tài khoản ngân hàng tại Tây Ninh mà Cục Phòng, chống tội phạm công nghệ cao Bộ Công an vừa khởi tố vào đầu năm 2020 hoặc là các game được sử dụng vào tội đánh bạc trong vụ án đánh bạc với số lượng đặc biệt lớn đã được xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ trong thời gian qua là những trường hợp điển hình. Do đó, để đáp ứng yêu cầu của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, cần sửa đổi Điều 47 BLHS năm 2015 theo hướng bổ sung thêm cụm từ “các sản phẩm khác do con người tạo ra có giá trị vật chất”.
            Bên cạnh đó, mặc dù Điều 47 BLHS năm 2015 không quy định rõ, việc áp dụng BPTP được áp dụng trong trường hợp phạm tội do cố ý hay vô ý, nhưng căn cứ vào quy định “…công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội”, chúng tôi cho rằng, việc tịch thu công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội chỉ có thể được áp dụng với các trường hợp phạm tội do lỗi cố ý. Bởi lẽ,  từ “dùng” phản ảnh hoạt động có ý thức của chủ thể (lỗi cố ý). Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng cho thấy, trường hợp phạm tội do vô ý thì có áp dụng BPTP hay không vẫn là câu hỏi còn nhiều tranh cãi.

Câu hỏi: Bất cập trong trong việc áp dụng biện pháp tịch thu khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội

Trả lời:

Đối với các tội có tính chiếm đoạt, tại phiên tòa nếu bị hại không yêu cầu trả lại tài sản hoặc bồi thường thiệt hại thì có tịch thu tài sản này không. Vấn đề này trước đây có hai quan điểm trái ngược nhau giữa tịch thu và không tịch thu tài sản đó. Tuy nhiên, để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong thực tiễn xét xử, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành công văn số 233/TANDTC-PC, ngày 1/10/2019, trao đổi nghiệp vụ, theo hướng không tịch thu với lý do là: theo Điều 194 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì chủ sở hữu có quyền, tặng cho hay từ bỏ quyền sở hữu, do đó “trong trường hợp tại phiên tòa dù đã được Hội đồng xét xử giải thích quyền được đòi lại tài sản bị chiếm đoạt, yêu cầu bồi thường nhưng bị hại có ý kiến không yêu cầu bị cáo phải trả lại tài sản đó và cũng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thì Tòa án không tuyên tịch thu tài sản đó mà ghi nhận ý kiến của bị hại trong bản án”. Mặc dù công văn của Tòa án nhân dân tối cao không phải là một hình thức của văn bản quy phạm pháp luât nhưng trong thực tế thì nó có giá trị bắt buộc đối với hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân các cấp. Chúng tôi cho rằng, hướng dẫn này của Tòa án nhân dân tối cao đã góp phần tích cực đối với việc áp dụng pháp luật thống nhất trong hoạt động xét xử của ngành tòa án. Tuy nhiên, xét ở góc độ hợp lý, cần phải cân nhắc thêm vấn đề này vì mấy lý do sau đây: thứ nhất, mặc dù quyền tặng cho, hay từ bỏ quyền sở hữu là quyền của chủ sở hữu trong lĩnh vực dân sự. Tuy nhiên, nếu cho phép người phạm tội được hưởng lợi từ việc chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình đối với tài sản thì việc làm này đã vô tình “khuyến khích” người phạm tội, làm giảm hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm; thứ hai, nếu không tịch thu, tài sản trên có thể được sử dụng vào việc phạm tội hoặc vi phạm pháp luật khác sau này; thứ ba, nếu không tịch thu tài sản này sẽ làm giảm tính nghiêm khắc, răn đe của pháp luật hình sự, gây bất lợi cho việc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Vì vậy, chúng tôi cho rằng, tài sản nêu trên cần được tịch thu bổ sung ngân sách của Nhà nước.