1. Các chỉ số phân tích tài chính IRR, NPV và ý nghĩa trong việc đánh giá dự án

Trong việc phân bổ nguồn vốn đầu tư, có thể sử dụng rất nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá một dự án, mỗi phương pháp đều có những ưu nhược điểm riêng. Một số nhận định về việc sử dụng hai chỉ số IRR và NPV để đánh giá mức độ khả thi của một dự án.

1. NPV và IRR: khái niệm và ý nghĩa trong việc đánh giá hiệu quả dự án

* Về NPV:

- Khái niệm

NPV (Net present value) được dịch là Giá trị hiện tại ròng, có nghĩa là giá trị tại thời điểm hiện nay của toàn bộ dòng tiền dự án trong tương lai được chiết khấu về hiện tại:

NPV = giá trị hiện tại của dòng tiền vào (thu) - giá trị hiện tại của dòng tiền ra (chi)

- Về mặt ý nghĩa:

Nếu NPV dương thì dự án đáng giá. Tại sao lại đáng giá, bởi suất chiết khấu đã là chi phí cơ hội của dự án, vì vậy, nếu đã khấu trừ chi phí cơ hội mà vẫn có lời thì dự án có lợi tức kinh tế. Cho nên, khi đánh giá dự án bằng NPV cần quan tâm đến giá trị của suất chiết khấu (thường bằng với lãi suất của cơ hội đầu tư tốt nhất nhà đầu tư đặt được nếu không đầu tư vào dự án đang được đánh giá. Các yếu tố ảnh hưởng tới suất chiết khấu này được phân tích kỹ trong phần sau của bài viết này) và xem NPV có dương hay không. Nếu như NPV dương có nghĩa là khoản đầu tư có lời bởi giá trị của dòng tiền mặt sau khi khấu hao đã cao hơn mức đầu tư ban đầu.

>> Luật sư tư vấn luật đầu tư nước ngoài trực tuyến gọi: 1900.6162

Thông thường NPV không chỉ được coi là chỉ số mà còn được xem là phương pháp tốt nhất để đánh giá khả năng sinh lời của phương án hay dự án vì ý nghĩa nôm na của nó cho biết mức lãi ròng của dự án sau khi đã thu hồi vốn đầu tư ban đầu và trang trải tất cả chi phí (bao gồm cả lạm phát).

Tuy nhiên phương pháp NPV này có nhược điểm là đòi hỏi tính toán chính xác chi phí mà điều này thường khó thực hiện đối với các dự án có đời sống dài. Vì thế trong thực tiễn người ta phát triển chi phí vốn thành tỉ suất chiết khấu hay còn gọi là tỉ suất sinh lợi tối thiểu chấp nhận được - tỷ suất rào (thường do nhà đầu tư kỳ vọng trên cơ sở cân nhắc tính toán đến các yếu tố tác động vào dự án đầu tư). Một nhược điểm khác nữa của NPV đó là không cho biết khả năng sinh lợi tính theo tỉ lệ % do đó ảnh hưởng đến việc khó chọn lựa cơ hội đầu tư.

- Tỷ suất rào (tý suất chiết khấu trong các báo cáo Nghiên cứu khả thi)

Tỷ suất rào là tỷ suất hoàn vốn tối thiểu mà tất cả các khoản đầu tư cho một doanh nghiệp cụ thể phải đạt được.

Trước tiên khi tìm hiểu về tỷ suất rào, chúng ta cần phân tích về chi phí sử dụng vốn của một dự án. Nó chính là chi phí bình quân gia quyền của các nguồn vốn khác nhau của tổ chức: cả nợ và chủ sở hữu.

Vốn nợ mà các công ty sử dụng đều có một chi phí gọi là lãi suất phải trả cho các trái phiếu và các giấy nợ khác. Lưu ý rằng vốn góp của các chủ sở hữu cũng là chi phí thực. Chi phí này là chi phí cơ hội - tức là phần mà các cổ đông có thể kiếm được trên phần vốn của mình nếu họ đầu tư vào cơ hội tốt thứ hai ở cùng một mức rủi ro. Ví dụ, nếu nhà đầu tư có 100.000 USD tiền đầu tư vào cổ phiếu Công ty XYZ - một công ty có giá cổ phiếu hay dao động bất thường, chi phí cơ hội của họ cho số vốn đó có thể là 14% - tỷ lệ sinh lời mà họ có thể đạt được cho một vụ đầu tư khác có mức rủi ro tương đương. Vì vậy, đối với một công ty lớn và ổn định, chi phí cơ hội của cổ đông có thể là 10%; còn đối với một công ty công nghệ cao và khá rủi ro thì chủ sở hữu có thể trông đợi tỷ lệ sinh lời 18%. Nói một cách đơn giản thì chi phí vốn là chi phí bình quân gia quyền của các nguồn vốn khác nhau của tổ chức.

Vậy tỷ suất rào hợp lý cho một doanh nghiệp cụ thể là bao nhiêu? Tỷ suất này dao động tùy theo từng công ty. Thông thường, tỷ suất rào được lập trên mức có thể đạt được từ một khoản đầu tư không rủi ro, chẳng hạn như trái phiếu kho bạc.

Cách tính tỷ suất rào:

Tỷ suất rào = Tỷ suất không rủi ro + Tiền phản ánh rủi ro của dự án

Bất cứ nhà đầu tư nào đều mong muốn được đền đáp xứng đáng cho sự không chắc chắn mà họ đã chịu. Về bản chất, các mỗi dự án đều có nhiều yếu tố không chắc chắn. Vì lý do đó, các nhà đầu tư đòi hỏi các dự án tương lai phải chỉ ra được sự hứa hẹn khả dĩ.

Các dự án đầu tư khác nhau sẽ có các tỷ suất rào khác nhau. Với các khoản đầu tư rủi ro thấp thì tỷ suất vào phải thấp hơn mức được áp đặt cho loại đầu tư rủi ro cao hơn. Ví dụ, một dự án thay thế dây chuyền lắp ráp hiện tại hay các bộ phận thiết bị chuyên dụng phải sử dụng tỷ suất rào là 10%, nhưng dự án sản xuất các dòng sản phẩm mới thì phải sử dụng tỷ suất rào là 15%.

* Về IRR:

- Khái niệm:

IRR (internal rate of return) suất thu lợi nội tại. Có nghĩa là suất sinh lợi của chính bản thân dự án, IRR là nghiệm của phương trình NPV=0. Nói cách khác muốn tìm IRR chỉ cần giải phương trình NPV(IRR) =0. Đây là phương trình bậc cao, nếu có sự đổi dấu sẽ có nhiều nghiệm. Còn nếu không thì chỉ có 1 nghiệm.

- Ý nghĩa:

IRR có thể tính bằng cách nội suy chặn trên chặn dưới, tuy nhiên, nhờ ứng dụng của Excel, việc tính IRR trở nên dễ dàng. Điều quan trọng là hiểu ý nghĩa của IRR. Nếu giá trị này lớn hơn giá trị suất chiết khấu (chi phí cơ hội) thì dự án đáng giá.

Hiểu một cách chung nhất, tỉ lệ hoàn vốn nội bộ càng cao thì khả năng thực thi dự án là càng cao. IRR còn được sử dụng để đo lường, sắp xếp các dự án có triển vọng theo thứ tự, từ đó có thể dễ dàng hơn trong việc cân nhắc nên thực hiện dự án nào. Nói cách khác, IRR là tốc độ tăng trưởng mà một dự án có thể tạo ra được. Nếu giả định rằng tất cả các yếu tố khác của các dự án là như nhau thì dự án nào có tỉ suất hoàn vốn nội bộ cao nhất thì dự án đó có thể được ưu tiên thực hiện đầu tiên.

Phương pháp IRR có ưu điểm là dễ tính toán vì không phụ thuộc chi phí vốn, rất thuận tiện cho việc so sánh cơ hội đầu tư vì cho biết khả năng sinh lời dưới dạng %. Ý nghĩa cốt lõi của IRR là cho nhà đầu tư biết được chi phí sử dụng vốn cao nhất có thể chấp nhận được. Nếu vượt quá thì kém hiệu quả sử dụng vốn. Nhược điểm của IRR là không được tính toán trên cơ sở chi phí sử dụng vốn do đó sẽ có thể dẫn tới nhận định sai về khả năng sinh lời của dự án. Nhà đầu tư sẽ không biết được mình có bao nhiêu tiền trong tay.

Tỷ suất thu nhập nội bộ (IRR) là một công cụ nữa mà các nhà đầu tư có thể sử dụng để quyết định có nên tập trung toàn lực cho một dự án cụ thể, hay phân loại tính hấp dẫn của nhiều dự án khác nhau.

IRR cũng có thể được so sánh với tỉ suất hoàn vốn trên thị trường chứng khoán. Nếu một công ty không thấy dự án nào có IRR tốt hơn mức lợi nhuận có khả năng tạo ra trên thị trường tài chính, công ty đó có thể đơn giản là đầu tư tiền của mình vào thị trường này thay vì thực hiện dự án.

2. Đánh giá dự án: NPV hay IRR

Nói chung, nhìn IRR thì dễ hình dung vì số % cụ thể, nhìn NPV bằng tiền rất khó diễn dịch. Vì vậy người ta dùng cả 2 cách để đánh giá.

Trước hết nếu xem xét hai chỉ số này trong cùng điều kiện thì tỉ suất hoàn vốn nội bộ và giá trị hiện tại thuần đều cho cùng một kết quả. Tuy nhiên có rất nhiều trường hợp thì IRR lại không hiệu quả bằng NPV trong việc tính toán và chiết khấu dòng tiền. Hạn chế lớn nhất của IRR cũng chính là ưu điểm của nó: chỉ sử dụng một tỷ lệ chiết khấu duy nhất để đánh giá tất cả các kế hoạch đầu tư. Mặc dù việc sử dụng một tỉ lệ chiết khấu duy nhất giúp đơn giản hóa quy trình tính toán, nhưng trong nhiều trường hợp điều đó lại dẫn đến những sai lệch. Nếu một tiến hành đánh giá hai dự án đầu tư, cả hai dự án cùng sử dụng chung một tỉ lệ chiết khấu, cùng dòng tiền tương lai, cùng mức độ rủi ro, và cùng có thời gian thực hiện ngắn, IRR là một cách đánh giá hiệu quả. Tuy nhiên bản thân tỉ lệ chiết khấu lại là một nhân tố động, nó luôn biến đổi theo thời gian. Nếu quy ước sử dụng lãi suất trái phiếu chính phủ làm lãi suất chiết khấu, lãi suất này có thể thay đổi từ 1% đến 20% trong vòng 20 năm, từ đó làm cho tỉ lệ chiết khấu cũng biến động theo. Nếu không có sự điều chỉnh, tức là IRR không tính đến sự thay đổi của tỉ lệ chiết khấu, phương pháp này sẽ không phù hợp với các dự án dài hạn.

Một kiểu dự án khác mà việc áp dụng IRR sẽ không hiệu quả đó là các dự án có sự đan xen của dòng tiền dương và dòng tiền âm. Ví dụ một dự án yêu cầu phải có kinh phí ban đầu là -50,000USD (dòng tiền âm) trong năm đầu tiên. Dự án này sẽ tạo ra 115,000 USD (dòng tiền dương) trong năm tiếp theo, sau đó cần tiếp chi phí đầu tư -66,000USD trong năm thứ 3 vì có sự điều chỉnh lại dự án. Như vậy thì áp dụng một tỉ lệ IRR duy nhất là không phù hợp.

Một hạn chế nữa trong việc áp dụng IRR là phải biết được tỉ lệ chiết khấu của dự án. Để tiến hành đánh giá dự án thông qua IRR thì ta phải so sánh nó với tỉ lệ chiết khấu. Nếu IRR cao hơn tỉ lệ chiết khấu thì dự án là khả thi. Không biết tỉ lệ chiết khấu hoặc tỉ lệ chiết khấu vì lý do nào đó không thể áp dụng cho dự án thì phương pháp IRR sẽ không còn giá trị.

Để khắc phục những hạn chế của phương pháp IRR ta có thể sử dụng NPV.

Ưu điểm của việc sử dụng NPV đó là phương pháp này cho phép sử dụng các tỉ lệ chiết khấu khác nhau mà không dẫn đến sai lệch. Đồng thời cũng không cần phải so sánh NPV với chỉ số nào khác, nếu như NPV lớn hơn 0 có nghĩa là dự án là khả thi về mặt tài chính.

Vậy thì tại sao IRR vẫn được sử dụng phổ biến hơn trong việc tính toán phân bổ nguồn vốn? Có lẽ phương pháp này được ưa thích hơn chỉ vì quy trình tính toán của nó rất đơn giản. Phương pháp IRR đơn giản hoá dự án thành một con số duy nhất từ đó nhà quản lý có thể xác định được liệu dự án này có kinh tế, có khả năng đem lại lợi nhuận hay không. Nhìn chung thì IRR là phương pháp đơn giản nhưng đối với các dự án dài hạn có dòng tiền khác nhau và tỉ lệ chiết khấu khác nhau, các dự án có dòng tiền không ổn định, thì IRR không phải là chỉ số tốt mà NPV mới chính là sự lựa chọn đúng đắn.

Một ví dụ minh hoạ là các dự án giao thông vận tải hoặc khai thác khoáng sản, rõ ràng là sẽ có IRR thấp hơn các dự án trong lĩnh vực dịch vụ, chẳng hạn dự án mở một cửa hàng đồ ăn nhanh, trong khi NPV chắc chắc sẽ cao hơn. Tuy nhiên, NPV cao hơn không có nghĩa là dự án khai thác khoáng sản tốt hơn, vì chắc chắn lượng vốn ban đầu bỏ ra của dự án này cao hơn dự án trong lĩnh vực dịch vụ rất nhiều. Một lần nữa chúng ta thấy rằng IRR và NPV là những công cụ rất tốt nhưng có những điều kiện áp dụng nhất định như đã trình bày ở trên. Vì vậy, khi so sánh hiệu quả của các dự án, cần xem xét bản chất của ngành nghề kinh doanh và chi phí vốn bỏ ra ban đầu để có những so sánh kết luận chính xác.

3. Kết luận

Khi phân tích đánh giá dự án, cần lưu ý rằng, các chỉ số trên là chỉ tiêu đánh giá tài chính. Hiện nay, những người làm dự án còn quan tâm đến NPV, IRR Kinh tế. Có nghĩa là lượng hoá các đại lượng kinh tế để tính hiệu quả của dự án đối với nền kinh tế. Ví dụ như đầu tư 1 ngôi trường có thể lỗ về mặt tài chính nhưng nếu tính toán các giá trị kinh tế khác có được từ ngôi trường vào thì NPV kinh tế đáng giá. Hoặc dự án đầu tư vào một nhà máy công nghiệp chế tạo có lãi về mặt tài chính nhưng lại làm ô nhiễm môi trường thì NPV kinh tế có thể lại không đáng giá.

Trong nền kinh tế hiện đại, để đảm bảo công bằng và bảo vệ môi trường, xu hướng chung là tất cả các chủ thể hoạt động trong nền kinh tế sẽ phải trả cho các tác động ngoai lai mà họ gây ra với chủ thể khác. Một ví dụ là công cụ kinh tế giấy phép xả thải. Theo đó, các công ty xả thải phải chịu một khoản chi phí nhất định cho việc làm ô nhiễm môi trường chung. Tuy nhiên, để đánh giá NPV hay IRR kinh tế, cần các điều tra xã hôi học và kinh tế rộng lớn, trong đó có xem xét tới các tác động ngoại lai gây ra bởi các tất cả các chủ thể. Tác giả xin được phân tích và đi sâu về các khái niệm và ý nghĩa của các chỉ số trên trong một bài viết khác.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Cơ chế phối hợp giải quyết thủ tục đăng ký đầu tư và đăng ký doanh nghiệp đối với nhà đầu tư nước ngoài

2. Hệ thống tài chính và những góc khuất

Cách đây một năm, khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), nhiều người kỳ vọng rằng hệ thống tài chính sẽ có cơ hội đột phá để bước lên một tầm cao mới.

Sự sôi động của thị trường chứng khoán, sự mở rộng của các ngân hàng, các công ty chứng khoán… cho thấy dường như điều dự đoán đang xảy ra. Tuy nhiên, nếu nhìn chi tiết hơn những thay đổi liên quan đến bốn thành tố cơ bản của hệ thống tài chính gồm: các thị trường tài chính, các tổ chức tài chính,các công cụ tài chính và cơ sở hạ tầng tài chính, nhất là hạ tầng mềm, có thể thấy được nhiều góc khuất của bức tranh.

Thị trường tài chính tăng trưởng đột biến về lượng

Đối với thị trường cổ phiếu, nếu không có gì thay đổi, kết thúc năm 2007, giá trị thị trường của gần 250 doanh nghiệp niêm yết trên hai sàn giao dịch sẽ vào khoảng 470.000 tỉ đồng, gấp hơn hai lần năm 2006 và bằng 41% GDP.

Nếu tính thêm Vietcombank với giá cổ phiếu bằng mức giá khởi điểm khi IPO, cộng với Bảo Việt và Công ty Tài chính Dầu khí, những doanh nghiệp sẽ niêm yết cổ phiếu trong một tương lai gần, sẽ được con số gấp ba lần năm 2006 và bằng 60% GDP, cao hơn mục tiêu phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam đến năm 2010.

Ở khu vực ngân hàng, tín dụng cũng có sự đột biến với tốc độ tăng trưởng có thể lên đến 40%. Một lượng tiền gần 300.000 tỉ đồng được đưa vào nền kinh tế, cao hơn rất nhiều nguồn vốn được cung ứng qua kênh chứng khoán và trở thành năm các tổ chức tín dụng cho vay nhiều nhất từ trước đến nay để đưa tổng dư nợ tín dụng cho nền kinh tế xấp xỉ 1 triệu tỉ đồng, bằng 90% GDP.

Trên thị trường trái phiếu, sự khởi sắc của những phiên giao dịch đầu năm không giúp thị trường ấm lên khi mà tình trạng ế hàng đã liên tục xảy ra ở giai đoạn cuối năm và nhiều tổ chức phát hành phải trì hoãn kế hoạch của mình. Thêm vào đó, 2007 có lẽ lại là một năm không thành công đối với ngành bảo hiểm.

Như vậy, tính toán sơ bộ, đến cuối năm 2007, dư nợ cho vay của các ngân hàng và giá trị thị trường của các doanh nghiệp niêm yết đã bằng 1,5 GDP, một mức tiệm cận khá gần so với Thái Lan và Hàn Quốc. Tuy nhiên, sự nở ra của thị trường tài chính đang bị lệch về phía tín dụng ngân hàng và cổ phiếu, trong khi trái phiếu và bảo hiểm vẫn chưa thể cất cánh.

Các tổ chức tài chính mở rộng quá mức và xuất hiện yếu tố không lành mạnh

Trừ thời của các hợp tác xã tín dụng, chưa bao giờ Việt Nam lại có nhiều các tổ chức tài chính như hiện nay với hơn 80 ngân hàng (trong nước và nước ngoài), trên 100 công ty chứng khoán (kể cả những hồ sơ đã nộp, đang chờ cấp phép). Một con số quá lớn so với nền kinh tế 72 tỉ đô la và chưa đến 250 công ty niêm yết, những con số chưa bằng phân nửa Thái Lan trước khủng hoảng năm 1997.

Bên cạnh đó, việc các tổ chức tài chính đua nhau mở rộng mạng lưới (nhiều người nói rằng ngân hàng đang nhiều hơn khách hàng) và xu hướng thành lập ngân hàng trực thuộc các tập đoàn cũng là điều đáng báo động.

Sự mở rộng quá nóng nêu trên đã đặt ra thách thức rất lớn về nguồn lực cũng như quản lý rủi ro. Sự cạnh tranh không lành mạnh đã xuất hiện. Những diễn biến bất thường của lãi suất là một dấu hiệu.

Trong ba quí đầu năm, cho dù các ngân hàng thừa tiền đồng và lãi suất ngoại tệ trên thế giới giảm nhưng lãi suất trong nước (cả tiền đồng và ngoại tệ) không những không đi xuống mà còn có chiều hướng ngược lại với nguyên nhân là do các chi nhánh ngân hàng mới được thành lập cần phải có nguồn vốn, kiểu gì cũng phải giữ, thậm chí tăng lãi suất để thu hút khách hàng.

Những hiện tượng tương tự đã xảy ra ở các nước Đông Á trước khủng hoảng năm 1997 và điều gì phải đến đã đến. Thái Lan hiện chỉ còn 17 ngân hàng trong nước, 17 chi nhánh ngân hàng nước ngoài và 39 công ty chứng khoán và Hàn Quốc còn khiêm tốn hơn, trong khi quy mô thị trường tài chính cũng như nền kinh tế của họ lớn hơn Việt Nam rất nhiều.

Một điều đáng quan tâm khác là sự nhầm lẫn giữa mục tiêu có những tổ chức tài chính mạnh làm nền tảng cho một hệ thống tài chính phát triển và việc bán cổ phần được giá cao. Diễn tiến quá trình IPO của Bảo Việt và Vietcombank cũng như việc dãn tiến độ cổ phần hóa một số doanh nghiệp Nhà nước cho thấy có vẻ như mục tiêu thứ hai được quan tâm hơn.

Công cụ tài chính không có nhiều tiến triển

Trong khi thị trường và các tổ chức tài chính cứ lớn lên từng ngày thì ngoài tín dụng tiêu dùng được các ngân hàng đẩy mạnh, trong năm không có nhiều loại hình sản phẩm tài chính được triển khai.

Tệ hại hơn là việc lợi dụng khách hàng chưa hiểu rõ về cách tính toán lãi suất và sự không rõ ràng của các quy định mà một số tổ chức tài chính đang cho vay tiêu dùng với một lãi suất cắt cổ với điển hình là cách tính lãi suất phẳng (flat rate). Con số khách hàng được cung cấp chỉ là 10%, nhưng con số phải trả thực tế trên 18% một năm.

Một số chính sách có thể làm tình trạng bong bóng trầm trọng hơn

Việc nóng lên của thị trường chứng khoán, bất động sản trong thời gian qua chủ yếu là do yếu tố kỳ vọng quá mức, do đầu cơ nhiều hơn là thực lực của các doanh nghiệp cũng như nhu cầu thực tế. Điều này sẽ tác động không tốt đến mục tiêu ổn định và phát triển kinh tế dài hạn.

Về nguyên tắc, Chính phủ là người có đủ thông tin và nguồn lực để đánh giá được tình trạng thực tế cũng như bản chất vấn đề để đưa ra những chính sách điều chỉnh. Tuy nhiên, nhìn một số quyết sách trong thời gian qua có vẻ như điều ngược lại đã xảy ra khi mà tình trạng bong bóng giá cả ngày một trầm trọng hơn.

Ngoài những lúng túng trong điều hành chính sách tiền tệ, kể cả giải pháp chống lạm phát, việc trì hoãn cổ phần hóa cũng như bán nhỏ giọt cổ phiếu của các doanh nghiệp Nhà nước ra bên ngoài với những mức giá quá cao và việc không cho các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản nhận tiền ứng trước của người mua đã làm cho sự mất cân bằng cung cầu gia tăng, kích thích các hoạt động đầu cơ hơn là đầu tư dài hạn.

Điều này tạo ra rủi ro rất lớn vì những nhà đầu tư thực sự khó có thể tham gia mà chỉ là những đồng tiền nóng (hot money) của các nhà đầu cơ được đổ vào tạo ra bong bóng thị trường rồi họ rút đi để lại hậu quả cho nền kinh tế.

Điều đáng quan tâm

Sự kỳ vọng quá mức có thể phải trả một giá rất đắt. Nhìn bối cảnh hiện tại ở Việt Nam có thể liên tưởng đến những gì đã xảy ra tại các nước láng giềng vào đầu những năm 1990. Khi tiến trình mở cửa diễn ra mạnh mẽ, Thái Lan cũng như một số nước Đông Nam Á đã đạt được một tốc độ tăng trưởng nhanh trong nhiều năm để tạo ra sự “thần kỳ Đông Á”.

Tất cả mọi thứ như: chứng khoán, ngân hàng, bất động sản… đều bùng phát và đẩy kỳ vọng của công chúng đi quá xa. Sự lạc quan xuất hiện trong ánh mắt của hầu hết mọi người.

Điểm “ấn” để khủng hoảng xảy ra là việc mở cửa tài khoản vốn. Khi mở cửa, các nước đều mong muốn có được những kết quả tốt đẹp. Lúc đó người Thái, người Malaysia cũng như người Indonesia đã mường tượng đến cảnh Bangkok, Kuala Lumpur hay Jarkata sẽ trở thành một mắt xích trong chuỗi thị trường tài chính toàn cầu.

Tuy nhiên, điều ngược lại đã xảy ra. Hơn 10 năm trôi qua, những di chứng của cuộc khủng hoảng không chỉ đẩy nền kinh tế của một số nước rơi vào trì trệ mà còn là những bất ổn chính trị triền miên.

Những gì đang xảy ra ở Tp.HCM không khác lắm so với Bangkok cách đây 15 năm. Tình trạng kẹt xe ngày một trầm trọng hơn, thị trường chứng khoán lên cơn sốt, cầu về thuê văn phòng và căn hộ tăng cao chưa từng thấylàm cho các dự án bất động sản đua nhau mọc lên.

Chỉ số chứng khoán của Thái Lan đã lên đến 1753 điểm vào đầu năm 1994, để rồi tuột dốc sau đó. Liệu Việt Nam có tránh được vết xe đổ này? Điều gì sẽ xảy ra với thị trường cho thuê văn phòng và căn hộ ở Tp.HCM hay Hà Nội nếu đột ngột năm ba ngàn văn phòng đóng cửa và năm ba chục ngàn người không có nhu cầu thuê căn hộ hoặc phải chuyển xuống ở mức thấp hơn khi thu nhập bị giảm?

Ví dụ giờ đây mỗi năm có mấy trăm chi nhánh ngân hàng, hàng trăm các tổ chức tài chính mới ra đời sẽ tạo ra một lượng cầu về nhân lực rất lớn, nhưng nếu số lượng nêu trên đột ngột thu hẹp hoạt động thì hàng ngàn lao động sẽ dôi dư là điều khó tránh khỏi. Thực ra, tốc độ kẹt xe cũng như sự nóng lạnh của thị trường không phải là cấp số cộng mà là cấp số nhân. Căng nhanh thì xẹp cũng nhanh.

Tham gia vào sân chơi toàn cầu là điều kiện tốt để có thể tận dụng được các lợi thế nhằm bước lên một tầm cao mới, nhưng sự kỳ vọng quá mức cộng với những chính sách không hợp lý có thể mang đến thảm họa.

Điều quan trọng là cần hiểu rõ bản chất của cuộc chơi để có những quyết sách phù hợp, chứ không nên vì sự hào nhoáng bên ngoài mà có những quyết sách ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển bền vững.

SOURCE: THỜI BÁO KINH TẾ SÀI GÒN - HUỲNH THẾ DU – Giảng viên Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright Việt Nam

>> Xem thêm:  Cơ chế trao đổi thông tin về doanh nghiệp giữa Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và Hệ thống thông tin thuế

3. Báo cáo tình hình thi hành Luật Chứng Khoán và Hoạt động thị trường chứng khoán

Để triển khai thi hành Luật Chứng khoán, Bộ Tài chính, UBCKNN đã phối hợp với các cơ quan liên quan soạn thảo, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Chứng khoán. Cụ thể gồm 02 Nghị định của Chính phủ, 01 Chỉ thị, 09 Thông tư và 24 Quyết định hướng dẫn thực hiện. Đối chiếu với yêu cầu của Luật, số lượng các văn bản hướng dẫn thi hành về cơ bản đầy đủ.

I. Tình hình thi hành Luật Chứng khoán

1. Kết quả đạt được

Luật Chứng khoán được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2007. Luật Chứng khoán đã tạo lập khuôn khổ pháp lý cao cho hoạt động của TTCK, cơ bản loại bỏ những mâu thuẫn, xung đột với các văn bản pháp luật khác có liên quan; tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với TTCK nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các tổ chức tham gia thị trường; tạo cơ sở pháp luật để giám sát, cưỡng chế thực thi, bảo đảm các doanh nghiệp tham gia trên thị trường phải hoạt động công khai, minh bạch, từ đó góp phần làm minh bạch hoá nền kinh tế; đồng thời tạo lập các quy định phù hợp với luật pháp, thông lệ quốc tế nhằm tạo điều kiện cho TTCK Việt Nam có khả năng hội nhập với các thị trường vốn quốc tế và khu vực, đặc biệt là đáp ứng được lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam.

Để triển khai thi hành Luật Chứng khoán, Bộ Tài chính, UBCKNN đã phối hợp với các cơ quan liên quan soạn thảo, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Chứng khoán. Cụ thể gồm 02 Nghị định của Chính phủ, 01 Chỉ thị, 09 Thông tư và 24 Quyết định hướng dẫn thực hiện. Đối chiếu với yêu cầu của Luật, số lượng các văn bản hướng dẫn thi hành về cơ bản đầy đủ. Tuy nhiên, vẫn còn một số văn bản chưa được ban hành kịp thời, nguyên nhân chủ yếu do thời gian qua thị trường chứng khoán hoạt động chưa ổn định nên việc xây dựng dự thảo hướng dẫn phải thường xuyên được chỉnh sửa và bổ sung liên tục.

Qua 3 năm thi hành, Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn đã đạt được những kết quả quan trọng, cụ thể như sau:

- Tạo lập được khuôn khổ pháp lý cao, đồng bộ và thống nhất cho hoạt động của TTCK, về cơ bản đã loại bỏ những mâu thuân với các văn bản pháp luật khác có liên quan (về cơ bản thống nhất với Luật doanh nghiệp và Luật đầu tư);

- Các quy định pháp lý hiện hành nhìn chung phù hợp với luật pháp, thông lệ quốc tế, tạo nền móng cho TTCK Việt Nam có khả năng hội nhập với các thị trường vốn quốc tế và khu vực;

- Tăng cường tính công khai, minh bạch của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động thị trường, đặc biệt là các công ty đại chúng, thông qua nghĩa vụ báo cáo, công bố thông tin, tuân thủ quản trị công ty. Nâng cao khả năng quản lý, giám sát thị trường của cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và TTCK nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, bảo đảm hoạt động thị trường công khai, minh bạch;

- Luật Chứng khoán đã tạo cơ sở pháp lý cho việc chuyển đổi Trung tâm GDCK, Trung tâm Lưu ký Chứng khoán từ đơn vị sự nghiệp có thu thành các pháp nhân thành lập và hoạt động theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần. Quy định này làm tăng tính chủ động trong hoạt động của Sở GDCK, Trung tâm GDCK, Trung tâm LKCK, tạo vai trò độc lập với cơ quan quản lý nhà nước trong việc tổ chức, quản lý, điều hành hoạt động tại Sở GDCK, Trung tâm GDCK, Trung tâm LKCK.

- Tạo cơ sở pháp lý trong việc xây dựng hệ thống các tổ chức trung gian hoạt động trên TTCK và các nhà đầu tư chuyên nghiệp, bao gồm các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, ngân hàng giám sát, quỹ đầu tư chứng khoán; nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức này. Đặc biệt, các thủ tục cấp phép thành lập và hoạt động công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ được rút gọn hơn so với trước đây.

- Từng bước nâng cao điều kiện niêm yết phù hợp với quy mô vốn của các công ty niêm yết tương xứng với các TTCk khu vực. Yêu cầu đặt ra đối với tổ chức niêm yết đã từng bước góp phần minh bạch hóa, nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Việt Nam trong xu thế hội nhập.

- Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo cơ sở pháp lý để quản lý các công ty đại chúng và hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng: tính đến hết năm 2009, đã có gần 1000 công ty đăng ký là công ty đại chúng theo quy định của Luật Chứng khoán (không bao gồm các công ty niêm yết). Việc đăng ký này tạo cơ sở để các cơ quan quản lý giám sát việc thực hiện các nghĩa vụ công ty đại chúng, bảo vệ quyền lợi của các cổ đông trong công ty.

- Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn mở rộng hơn các quy định về bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư, đặc biệt được áp dụng chung cho các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tham gia đầu tư và hoạt động trên TTCK Việt Nam, không phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư trong nước và nước ngoài (trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng Điều ước quốc tế đó). Do vậy, thị trường đã thu hút được đông đảo các nhà đầu tư tham gia đặc biệt là nhà đầu tư có tổ chức và nhà đầu tư nước ngoài. Tính đến hết năm 2007, số lượng tài khoản giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài là gần 7.900 tài khoản, tăng gấp 3 lần so với năm 2006.

- Việc quản lý, giám sát TTCK luôn được coi trọng nhằm đảm bảo cho thị trường hoạt động an toàn và ổn định. UBCKNN đã thường xuyên tổ chức các đoàn kiểm tra định kỳ, đột xuất đối với hoạt động của các tổ chức tham gia thị trường. Những trường hợp vi phạm về công bố thông tin, giao dịch cổ phiếu nội bộ… đã được xử lý theo luật định để đảm bảo tính công bằng, công khai, minh bạch của thị trường. Thông qua công tác giám sát hoạt động giao dịch đã phát hiện một số trường hợp vi phạm quy định về giao dịch, công bố thông tin, giao dịch cổ phiếu của cổ đông nội bộ… từ đó kịp thời uốn nắn và cú biện pháp xử lý nghiêm những vụ việc vi phạm, bước đầu đã tạo được lòng tin nơi công chúng.

2. Những tồn tại, hạn chế của hệ thống pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán và một số nguyên nhân

2.1. Những tồn tại, hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được trong thời gian qua, công tác xây dựng và thực thi pháp luật về chứng khoán cũng đã bộc lộ một số bất cập, hạn chế. Cụ thể:

a) Phạm vi điều chỉnh của Luật còn hẹp, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế

Luật Chứng khoán hiện nay mới chỉ bao hàm những nội dung cơ bản nhất, phù hợp với một thể chế thị trường mới hoạt động với các công cụ chứng khoán, các hoạt động giao dịch cũng như hệ thống quản lý còn đơn giản. Tuy nhiên, khi TTCK ngày càng phát triển, các công cụ phức hợp, hình thức giao dịch phức tạp có xu hướng phát triển, đòi hỏi quy định pháp luật cũng phải được điều chỉnh tương ứng.

Trong quá trình TTCK vận hành, đã phát sinh một số vấn đề mới mà chưa được Luật Chứng khoán điều chỉnh, cụ thể như hoạt động phát hành chứng khoán riêng lẻ; hoạt động phát hành và giao dịch chứng khoán xuyên biên giới, hoạt động kinh doanh chứng khoán của các cá nhân, tổ chức không phải là tổ chức kinh doanh chứng khoán; hoặc các chế tài xử lý đối với một số các hành vi vi phạm quy định trong lĩnh vực chứng khoán.

b) Một số thuật ngữ trong Luật Chứng khoán chưa được định nghĩa hoặc chưa được định nghĩa chính xác dẫn đến các cách hiểu khác nhau hoặc làm hạn chế cho công tác quản lý, giám sát thị trường.

c) Một số quy định tại Luật chưa cụ thể, rõ ràng (như phạm vi các hoạt động mà tổ chức kinh doanh chứng khoán được thực hiện hoặc các tổ chức được thực hiện hoạt động kinh doanh chứng khoán) đã dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp khác không được cấp phép thực hiện hoạt động kinh doanh chứng khoán nhưng vẫn triển khai các nghiệp vụ tương tự hoặc các tổ chức kinh doanh chứng khoán sau khi được cấp giấy phép thành lập và hoạt động đã tận dụng điều kiện trang thiết bị, cơ sở vật chất của mình để thực hiện những nghiệp vụ khác trong khi không có quy định hướng dẫn. Điều này ảnh hưởng đến tính an toàn trong hoạt động của các tổ chức kinh doanh chứng khoán, hoạt động của thị trường và ảnh hưởng đến lợi ích nhà đầu tư.

d) Quá trình xây dựng Luật Chứng khoán đã đảm bảo nguyên tắc quy định chi tiết các vấn đề để đảm bảo thi hành ngay. Tuy nhiên, do TTCK vẫn đang trong giai đoạn phát triển và luôn có xu hướng hình thành những yếu tố mới, do vậy, một số quy định pháp lý cụ thể đã hạn chế khả năng phản ứng nhanh trước biến động thị trường của cơ quan quản lý nhà nước. Đặc biệt là các quy định liên quan đến chỉ tiêu, điều kiện hoạt động, tiêu chí giám sát hoạt động thị trường được quy định ngay trong Luật nên đôi khi không thể sửa đổi kịp thời để phù hợp với thực tiễn quản lý thị trường và điều kiện thị trường.

2. 2. Nguyên nhân của hạn chế

- Chứng khoán vẫn còn là lĩnh vực mới với đa số công chúng Việt nam và thị trường chứng khoán vẫn đang trong giai đoạn phát triển, chưa ổn định. Ngày càng xuất hiện nhiều thể chế, sản phẩm, nghiệp vụ chứng khoán… mà Luật Chứng khoán và các văn bản pháp luật liên quan chưa tính đến.

- Việc ban hành các quy định pháp lý nhìn chung đều có độ trễ so với mục tiêu đề ra, đồng thời nhiều quy định tại Luật Chứng khoán chưa được hướng dẫn thực hiện

Quy trình xây dựng các văn bản pháp lý về cơ bản tuân thủ đúng các quy định hiện hành, đặc biệt trong vấn đề lấy ý kiến các thành viên tham gia thị trường, ý kiến của các đơn vị, Bộ ban ngành hữu quan. Tuy nhiên, do các quy định trong lĩnh vực chứng khoán đều là các quy định chuyên ngành, đòi hỏi sự am hiểu về thị trường, kinh nghiệm và trình độ chuyên môn sâu. Việc lấy ý kiến để xây dựng văn bản pháp lý trên cơ sở đòi hỏi sự đồng thuận cao, đặc biệt đối với các nội dung chuyên ngành hẹp, mất rất nhiều thời gian. Điều này ảnh hưởng rất nhiều tới tiến độ ban hành các quy định pháp lý điều hành thị trường.

Ngoài ra, nhiều sản phẩm, hoạt động chứng khoán đã được đề cập tại Luật Chứng khoán nhưng chưa được hướng dẫn thực hiện, cụ thể như: (i) nhóm các sản phẩm của thị trường chứng khoán phái sinh như: quyền chọn, hợp đồng tương lai; (ii) nhóm các nghiệp vụ chứng khoán như giao dịch ký quỹ cho vay mua chứng khoán, bán khống và các dịch vụ tài chính khác; (iii) các quy định hướng dẫn về tổ chức bảo lãnh phát hành trái phiếu; (iv) văn bản hướng dẫn doanh nghiệp Việt Nam chào bán và niêm yết chứng khoán ra nước ngoài.

- Một số quy định của Luật chứng khoán chưa không phù hợp thực tế nên hiệu lực thi hành không cao. Cụ thể như quy định về mức phạt tiền từ 1% đến 5% tổng số tiền đã huy động trái pháp luật, phạt 1 đến 5 lần khoản thu trái pháp luật đối với hành vi vi phạm quy định về chào bán chứng khoán ra công chúng.

II. Tình hình hoạt động thị trường chứng khoán

Qua ba năm thi hành, Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn là nhân tố quan trọng góp phần đạt được những kết quả của TTCK Việt Nam. Thị trường chứng khoán Việt Nam đã đạt được một số kết quả như sau:

1. Về hoạt động thị trường sơ cấp (phát hành chứng khoán)

Hoạt động phát hành cổ phiếu huy động vốn bùng nổ vào năm 2007, khi có gần 200 đợt phát hành của 192 công ty và 4 ngân hàng thương mại được đăng ký với UBCKNN với tổng lượng vốn huy động lên đến gần 40.000 tỷ VND. Về đối tượng chào bán cổ phiếu, cổ phiếu chào bán cho cổ đông hiện hữu chiếm 48,9% trong khi tỷ lệ chào bán cho nhà đầu tư chiến lược và thông qua đấu giá lần lượt là 30,45% và 19,09%. Trong năm 2008, do sự sụt giảm của thị trường chứng khoán, tổng số vốn huy động chỉ đạt hơn 14.300 tỷ đồng từ trên 100 đợt chào bán chứng khoán ra công chúng.

Công tác cổ phần hoá DNNN đã được gắn kết với việc huy động vốn từ công chúng đầu tư, góp phần thúc đẩy nhanh việc sắp xếp khu vực DNNN theo tiến trình cải cách nền kinh tế của Chính phủ và huy động vốn cho ngân sách nhà nước. Thực tế, việc gắn kết công tác cổ phần hóa DNNN với công tác tạo hàng cho TTCK là nhân tố chủ đạo quyết định thành công trong việc tạo ra một nguồn hàng phong phú, góp phần thúc đẩy tăng trưởng quy mô của thị trường.

2. Về thị trường thứ cấp (thị trường giao dịch chứng khoán)

Thị trường chứng khoán đã có sự tăng trưởng không chỉ về quy mô niêm yết mà kể cả tính thanh khoản của thị trường. Tính đến cuối năm 2009, số lượng công ty niêm yết đã tăng lên con số 459 (tăng 267 công ty, tương đương 2,4 lần, so với số lượng công ty niêm yết, đăng ký giao dịch năm 2006). Nếu như năm 2005, bình quân có 667.600 cổ phiếu được giao dịch một phiên, thì năm 2006, con số này tăng lên 2,6 triệu đơn vị (tăng 3,93 lần) và tăng lên 9,79 triệu và 18,07 triệu trong hai năm sau đó. Tốc độ luân chuyển thị trường trong giai đoạn này liên tục tăng từ 0.43 lần năm 2006 lên 0.64 vào năm 2007, 0.68 lần vào năm 2008 và ước đạt 1.13 lần năm 2009.

Giai đoạn 2006-2009 cũng chứng kiến những kỷ lục của thị trường chứng khoán Việt Nam. Tháng 3/2007, các chỉ số chứng khoán đạt được mức cao nhất. VNIndex đạt mức 1,170.67 điểm và HASTC-Index đạt 459.36 điểm. Trong khi đó, xét về khối lượng giao dịch, tháng 5/2009 là tháng có khối lượng giao dịch lớn nhất, bình quân có 77 triệu cổ phiếu được giao dịch mỗi phiên, với giá trị 2.270,57 tỷ đồng.

Tuy nhiên, sau thời kỳ tăng trưởng nóng và gần như liên tục từ cuối 2006 tới tháng 10/2007, thị trường chứng khoán lại bước sang giai đoạn liên tục giảm mạnh. Các yếu tố tác động mạnh tới thị trường trong giai đoạn này bao gồm các yếu tố kinh tế vĩ mô và yếu tố chính sách. Cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn tại Mỹ lan rộng và có nguy cơ ảnh hưởng nặng tới toàn bộ hệ thống tài chính Mỹ đã dẫn đến một số biến động trong hoạt động đầu tư của các tổ chức nước ngoài tại Việt Nam. Nền kinh tế Việt Nam bắt đầu có những dấu hiệu lạm phát cao, buộc Chính Phủ phải đưa ra các giải pháp để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế. Các chính sách đưa ra trong thời kỳ này được đánh giá là phù hợp với tình hình thực tế, tuy nhiên, đối với TTCK nói riêng, các chính sách này ít nhiều cũng tác động tới hoạt động thị trường và tâm lý của công chúng đầu tư. Cuối năm 2008 và đầu năm 2009, Chính phủ các nước đưa ra hàng loạt các biện pháp kích thích kinh tế để đối phó với khủng hoảng tài chính thế giới. Chính phủ Việt Nam trong bối cảnh đó đã áp dụng biện pháp kích cầu trong nền kinh tế thông qua các gói hỗ trợ lãi suất, gói kích cầu. Cho đến nay, các giải pháp này phần nào đã cho thấy tác động tích cực tới nền kinh tế, trong đó có thị trường chứng khoán. Thị trường đã dần hồi phục kể từ cuối tháng 2/2009 tới nay.

Ngoài ra, nhằm từng bước hoàn chỉnh cấu trúc thị trường, mở rộng thị trường có tổ chức, có sự quản lý của Nhà nước, từng bước thu hẹp thị trường tự do, hệ thống giao dịch UpCom trên SGDCK Hà Nội – hệ thống giao dịch cho các chứng khoán của công ty đại chúng chưa niêm yết – cũng đã được đưa vào vận hành vào ngày 24/6/2009. Tới nay, đã có 34 cổ phiếu được giao dịch trên hệ thống Upcom với tổng giá trị giao dịch đạt gần 540 tỷ đồng. Giá trị thị trường ngày 30/12/2009 đạt 4.075 tỷ đồng. Sự mở rộng của các thị trường chính thức, có sự quản lý của nhà nước với số lượng ngày càng lớn các tổ chức đăng ký niêm yết, đăng ký giao dịch đang ngày càng thu hẹp của thị trường tự do. Mặc dù còn nhiều loại cổ phiếu giao dịch thị trường tự do (chủ yếu từ các DNNN cổ phần hóa), tính thanh khoản của thị trường này trong năm 2009 đã sụt giảm rõ rệt. Sự kém thanh khoản của thị trường này, cùng với những rủi ro đã bộc lộ trong hoạt động giao dịch cũng đã góp phần làm thu hẹp thị trường tự do.

3. Về cơ cấu hệ thống các tổ chức quản lý hoạt động thị trường

Trên cơ sở quy định của Luật Chứng khoán, cấu trúc thị trường đang dần được hoàn thiện với sự hình thành hai Sở GDCK và Trung tâm Lưu ký Chứng khoán, là các pháp nhân hoạt động độc lập với cơ quan quản lý nhà nước trên cơ sở chuyển đổi từ các đơn vị sự nghiệp sang hoạt động theo mô hình công ty TNHH Nhà nước một thành viên.

Việc tách các TTGDCK, TTLKCK ra khỏi cơ quan quản lý nhà nước và chuyển đổi mô hình hoạt động tạo điều kiện cho các Sở GDCK, Trung tâm LKCK chủ động hơn trong quá trình hoạt động, tách biệt hoạt động tổ chức vận hành thị trường ra khỏi chức năng quản lý nhà nước, nâng cao tính tự chủ, độc lập về tài chính, tạo vị thế ngang tầm với các Sở GDCK, TTLKCK trong khu vực, thuận lợi hơn trong quá trình kết nối và hội nhập.

4. Hoạt động của công ty đại chúng

Luật Chứng khoán đưa ra quy định về công ty đại chúng và các nghĩa vụ công ty đại chúng như nghĩa vụ tuân thủ quy định về quản trị công ty, công bố thông tin, chào mua công khai. Đây là một nội dung mới so với trước đây. Việc đặt ra các quy định về công ty đại chúng nhằm đảm bảo tất cả các doanh nghiệp có chứng khoán được công chúng sở hữu rộng rãi (kể cả các doanh nghiệp đã phát hành chứng khoán ra công chúng từ trước khi Luật Chứng khoán có hiệu lực hoặc phát hành riêng lẻ nhiều lần theo quy định của Luật Doanh nghiệp mà trở thành công ty đại chúng) phải tuân thủ nguyên tắc công khai, minh bạch, từ đó có thể bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, đồng thời tăng tính cạnh tranh của nền kinh tế.

Tính đến 31/12/2009 đã có khoảng 1000 công ty đại chúng đăng ký với UBCKNN (không bao gồm công ty niêm yết), về cơ bản, các công ty đã tuân thủ các quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư. Cơ quan quản lý nhà nước cũng đã chú trọng tăng cường quản lý công ty đại chúng, nâng cao tiêu chí và chất lượng phát hành, tăng cường tính công khai minh bạch thông qua việc hoàn thiện quy chế công bố thông tin, chủ động đưa vào các yêu cầu soát xét báo cáo tài chính 6 tháng và tăng cường công tác quản trị công ty.

5. Hoạt động của các tổ chức kinh doanh, dịch vụ chứng khoán

Cho tới thời điểm hiện tại, đã có 105 công ty chứng khoán và 46 công ty quản lý quỹ đang hoạt động tại Việt Nam. Số thành viên lưu ký của TTLKCK là 122 thành viên trong đó có 8 ngân hàng lưu ký và 12 tổ chức mở tài khoản trực tiếp (gồm các ngân hàng thương mại là thành viên đặc biệt của thị trường TPCP chuyên biệt và Sở Giao dịch NHNN).

Về hoạt động của công ty chứng khoán, các công ty chứng khoán đã có những bước thay đổi lớn trên tất cả các mặt như số lượng, quy mô vốn, cơ sở vật chất, nhân sự, quy mô cung cấp dịch vụ và chất lượng hoạt động. Tính từ thời điểm cuối năm 2005 đến nay, có thể thấy rõ những thay đổi như sau:

- Số lượng CTCK tăng gấp 7,5 lần. Số CTCK tính đến thời điểm 30/4/2009 là 105 công ty và hầu hết đã triển khai hoạt động (97 công ty). Quy mô vốn tăng khoảng 3 lần.

- Mạng lưới hoạt động của CTCK tăng nhanh. Trước đây, mỗi CTCK gần như chỉ có 1 trụ sở chính thì đến nay, hầu như đều có thêm trên 1 chi nhánh, phòng giao dịch. Nếu như cách đây 5 năm, mạng lưới hoạt động kinh doanh của các CTCK chủ yếu tập trung ở hai thành phố lớn là Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, thì đến nay các công ty đã triển khai mạnh mạng lưới trên địa bàn các tỉnh thành trong cả nước. Nhìn chung, các CTCK đều quan tâm tới việc hoàn thiện cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động kinh doanh của các CTCK. Hầu hết các CTCK đều triển khai những địa điểm khang trang, thuận tiện cho nhà đầu tư và nhiều lợi thế kinh doanh.

- Số lượng người hành nghề tăng nhanh, phù hợp với sự tăng trưởng của các Công ty chứng khoán.

- Các CTCK từng bước triển khai ngày càng đầy đủ và đa dạng các loại hình nghiệp vụ kinh doanh đã được cấp phép; doanh số hoạt động tăng mạnh theo từng năm.

- Về quản trị, điều hành, nhiều công ty, đặc biệt là các công ty đã đi vào hoạt động được một thời gian, đã dần nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động quản trị, điều hành công ty và đã dần đưa công ty vào quỹ đạo hoạt động đúng luật và theo thông lệ quốc tế.

- Về hiệu quả hoạt động của các công ty, có thể thấy rõ là kết quả hoạt động của các công ty chứng khoán phụ thuộc nhiều vào tình hình thị trường: khi thị trường tăng giá, hều hết các công ty đều có lãi, trong đó nhiều công ty có lãi cao và khi thị trường giảm giá mạnh, nhiều công ty thua lỗ. Cho đến thời điểm hiện nay, đã có sự phân nhóm rõ rệt giữa các CTCK, cụ thể 20/105 Công ty chứng khoán lớn nhất nắm giữ tới 80% thị phần các dịch vụ chứng khoán.

- Về hội nhập quốc tế của các CTCK, thể hiện rõ nét nhất ở hoạt động tham gia góp vốn của các tổ chức nước ngoài trong các tổ chức kinh doanh chứng khoán Việt nam:cho đến thời điểm hiện nay, có trên 15 công ty chứng khoán đã chính thức có các tổ chức nước ngoài tham gia góp vốn với tỷ lệ cao nhất là 49% theo quy định hiện hành. Các tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài đầu tư vào các CTCK Việt Nam cũng là những tên tuổi quen thuộc trên các TTCK khác trong khu vực

Đối với các công ty quản lý quỹ, trong giai đoạn đầu phát triển của thị trường chứng khoán từ năm 2000 đến năm 2005 mới chỉ có 6 Công ty quản lý quỹ. Tuy nhiên, số lượng các Công ty quản lý quỹ mới được thành lập tăng nhanh kể từ năm 2006 trở lại đây. Cho tới thời điểm hiện nay, đã có 47 công ty được cấp phép hoạt động. Phần lớn các Công ty quản lý quỹ Việt Nam đã nhanh chóng tiếp cận và thực hiện việc quản trị công ty, quản trị rủi ro cũng như tuân thủ các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cao nhất theo thông lệ quốc tế, đặc biệt là tại các công ty có vốn góp của các tổ chức tín dụng, tổ chức kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm. Các công ty quản lý quỹ đã triển khai hoạt động quản lý quỹ. Kể từ thời điểm Quỹ đầu tư chứng khoán đầu tiên được cấp phép thành lập tháng 5/2004, cho tới nay, đã có 21 quỹ đầu tư chứng khoán trong đó bao gồm 4 quỹ đại chúng đã được thành lập. Ngoài ra các công ty quản lý quỹ còn thực hiện hoạt động quản lý danh mục đầu tư cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Tính tới thời điểm hiện tại, tổng lượng tài sản do các công ty quản lý quỹ quản lý đạt hơn 66.500 tỷ đồng (tương đương hơn 3,8 tỷ USD). Về kết quả hoạt động kinh doanh thì toàn ngành quản lý quỹ nhìn chung vẫn có lợi nhuận, kể cả trong năm 2008 khi TTCK sụt giảm mạnh (lợi nhuận cả năm ước đạt 7,3 tỷ đồng, giảm tới 90% lợi nhuận so với năm 2007). So với hệ thống các CTCK, các CTQLQ được quản lý tương đối chặt chẽ, dựa trên những quy định được xây dựng phù hợp với thông lệ quốc tế. Vì vậy, tránh được các xung đột lợi ích.

6. Một số hạn chế trong hoạt động TTCK, nguyên nhân của những hạn chế

Mặc dù đạt được những kết quả đáng kể, hoạt động thị trường thời gian qua gặp những khó khăn, hạn chế nhất định:

- Đối với hoạt động huy động vốn: hoạt động chào bán chứng khoán của một số công ty đại chúng còn mang tính tự phát, kế hoạch và mục đích sử dụng vốn của công ty chưa rõ ràng làm giảm hiệu quả của phương án chào bán, số lượng chào bán lớn đã vượt cung thị trường làm ảnh hưởng đến giá chứng khoán trên thị trường; công tác giám sát đối với hoạt động chào bán cũng gặp những khó khăn nhất định; trình độ của các cổ đông còn hạn chế, các cổ đông chưa tự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình nên ảnh hưởng tới quyền lợi của mình… Tiến trình cổ phần hóa trong thời gian dài trước đây chưa minh bạch, rõ ràng cũng là một nguyên nhân ảnh hưởng tới hoạt động thị trường chứng khoán.

- Đối với hoạt động của các công ty niêm yết: thời gian qua, nền kinh tế thế giới có những biến động lớn, Việt nam cũng đã chịu những tác động. Điều này đã ảnh hưởng tới việc huy động vốn cũng như hoạt động của các công ty niêm yết. Một số công ty đã lâm vào tình trạng thua lỗ, dẫn đến không đáp ứng điều kiện niêm yết. Thị trường GDCK đã bị tác động không nhỏ bởi các yếu tố của nền kinh tế vĩ mô.

- Đối với hoạt động của công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ: trong thời gian qua, việc tăng nhanh số lượng các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đã gây ra một số khó khăn cho hoạt động quản lý. Số lượng công ty chứng khoán tăng gấp 7,5 lần so với thời điểm cuối năm 2005. Về hiệu quả hoạt động, kết quả hoạt động của các công ty chứng khoán phụ thuộc vào tình hình thị trường nên tình hình kinh doanh biến động lớn; hoạt động của các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ là không đồng đều và có sự phân hóa rõ rệt. Đối với công ty chứng khoán, 20/105 công ty chứng khoán lớn nhất nắm giữ tới 80% thị phần các dịch vụ chứng khoán; đối với công ty quản lý quỹ, hiện nay, mới chỉ có 33/47 công ty triển khai hoạt động quản lý tài sản, trong đó, mới có 14 công ty huy động được quỹ, trong đó 10 Công ty hàng đầu quản lý tới 93% toàn bộ tài sản của ngành. Sở dĩ thị trường có những phân hóa và còn hạn chế trong hoạt động của các tổ chức kinh doanh chứng khoán là do số lượng các tổ chức tăng quá nhanh, không bảo đảm hiệu quả hoạt động, tiềm ẩn rủi ro hệ thống. Sau khi thành lập và đi vào hoạt động một thời gian, nhiều công ty đã bị thua lỗ, nhiều công ty chứng khoán đứng trước nguy cơ không huy động được đủ vốn để duy trì hoạt động kinh doanh. So với các quốc gia trong khu vực, số lượng công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đã đủ đáp ứng cho hoạt động thị trường với quy mô như Việt Nam. Với 105 Công ty chứng khoán và 47 công ty quản lý quỹ đang hoạt động, Việt Nam hiện đứng đầu các nước trong khu vực về số lượng các tổ chức trung gian thị trường. Tuy nhiên, quy mô thị trường của Việt Nam lại nhỏ hơn rất nhiều so với quy mô hoạt động của các TTCK khác trong khu vực, kể cả về giá trị vốn hóa thị trường, cũng như giá trị giao dịch hàng ngày. Theo kinh nghiệm quốc tế, để quản lý hoạt động của các tổ chức kinh doanh chứng khoán, một yêu cầu đặt ra khi thành lập là phải phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, xã hội và thị trường chứng khoán. Vì vậy, cần nâng cao điều kiện thành lập đối với công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ là rất cần thiết, nhằm mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động và đảm bảo an toàn cho TTCK đồng thời phù hợp với thông lệ áp dụng xét điều kiện cấp phép trên thế giới, củng cố hệ thống tài chính sau khủng hoảng…

Những hạn chế trong hoạt động của TTCK thời gian qua xuất phát từ một số nguyên nhân sau:

- Thứ nhất, hệ thống văn bản pháp luật còn một số bất cập như đã nêu trên, điều này ảnh hưởng đến công tác điều hành của cơ quan quản lý cũng như hoạt động của các tổ chức, cá nhân tham gia TTCK;

- Thị trường tự do có xu hướng hoạt động trở lại cùng với xu hướng phục hồi của TTCK. Tuy nhiên do khuôn khổ pháp lý chưa gắn kết việc phát hành chứng khoán với niêm yết chứng khoán và tính linh hoạt trong thị trường tổ chức chưa cao nên việc kiểm soát và xoá bỏ thị trường này còn cần nhiều thời gian.

- Tác động của khủng hoảng và khó khăn về kinh tế vĩ mô và TTCK, hoạt động cổ phần hoá, phát hành huy động vốn giảm mạnh, hoạt động của các tổ chức trung gian thị trường gặp nhiều khó khăn.

- Công tác thanh tra, giám sát, xử lý vi phạm còn hạn chế do hệ thống công nghệ thông tin, quy định pháp luật chưa phù hợp, chế tài, thẩm quyền xử lý của cơ quan nhà nước còn hạn chế. Đội ngũ cán bộ quản lý còn trẻ, nhiều cán bộ mới nên việc xây dựng chính sách, thực hiện nghiệp vụ cũng gặp nhiều khó khăn cần phải có thời gian tích luỹ kinh nghiệm.

III. Kiến nghị giải pháp phát triển thị trường chứng khoán

Để Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn thi hành có hiệu quả, cần tập trung thực hiện các giải pháp như hoàn thiện hệ thống pháp luật; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thị trường; xây dựng một cp chế kiểm tra, giám sát doanh nghiệp một cách hợp lý, hiệu quả, nhất là về tài chính, kế toán và công bố thông tin để bảo vệ nhà đầu tư. Các giải pháp cụ thể như sau:

Một là, hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về chứng khoán và TTCK: Hoàn thiện hệ thống pháp luật về chứng khoán và TTCK là giải pháp quan trọng hàng đầu và cần tập trung thực hiện trước để giải quyết những hạn chế, vướng mắc trong cơ chế, chính sách. Khuôn khổ pháp lý về TTCK cần quán triệt nguyên tắc quản lý thị trường mà Tổ chức quốc tế các cơ quan quản lý chứng khoán (IOSCO) đã khuyến nghị, đồng thời phải phù hợp với đặc điểm tình hình của Việt Nam theo xu hướng phát triển và hội nhập.

Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội và của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Bộ Tài chính đã nỗ lực xây dựng, hoàn chỉnh dự án Luật Chứng khoán để trình Quốc hội ban hành theo đúng tiến độ. Đây sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động của thị trường, khắc phục những khó khăn, hạn chế của Luật Chứng khoán hiện hành.

Hai là, cần chú trọng công tác đào tạo, nâng cao năng lực, trình độ của cán bộ quản lý, cán bộ hoạch định chính sách, các nhân viên hành nghề đáp ứng được với yêu cầu phát triển lâu dài của thị trường.

Ba là, tăng cường nhận thức pháp luật về chứng khoán và TTCK: Trong thời gian tới, UBCKNN tiếp tục đẩy mạnh công tác phổ biến, tuyên truyền giáo dục pháp luật về chứng khoán và TTCK thông qua các khoá học phổ cập kiến thức về chứng khoán và TTCK dưới các hình thức khác nhau, làm cho công chúng đầu tư, các doanh nghiệp hiểu được các nội dung của TTCK, các nghiệp vụ liên quan, thậm chí cần trang bị các kiến thức về đầu tư, về rủi ro và biện pháp phòng ngừa cũng như khả năng phân tích dự báo tình hình biến động của TTCK. Đây là giải pháp lâu dài đối với sự phát triển của TTCK trong tương lai.

Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thị trường; xây dựng một cơ chế kiểm tra, giám sát doanh nghiệp niêm yết một cách hợp lý, hiệu quả nhất là về tài chính, kế toán và công bố thông tin để đảm bảo bảo vệ được các nhà đầu tư.

Trên đây là Báo cáo tình hình thi hành Luật Chứng khoán và hoạt động TTCK, Bộ Tài chính xin kính trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và các cơ quan có liên quan của Quốc hội để làm cơ sở cho việc xây dựng Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán./.

BỘ TÀI CHÍNH

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn thành lập doanh nghiệp, thành lập công ty

4. Đầu tư tài chính: Sao lại tự cắn đuôi vào nhau?

Đầu tư tài chính: Sao lại tự cắn đuôi vào nhau ?

Luật sư vấn pháp luật cho doanh nghiệp trực tuyến gọi số: 1900.6162

Bài viết này nhằm phân tích một số sai lầm có tính nguyên lý dẫn đến thua lỗ trong đầu tư tài chính của các công ty thời gian qua. Cho đến nay đã có 13 công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán TPHCM (HOSE) bị đưa vào diện kiểm soát. Con số này có thể còn tăng thêm do hiện còn nhiều doanh nghiệp xin chậm nộp báo cáo tài chính năm 2008.

Phân tích các trường hợp công ty bị đưa vào diện kiểm soát hiện nay cho thấy hầu hết đều rơi vào nhóm có kết quả sản xuất kinh doanh lỗ. Phân tích một cách chi tiết hơn cho thấy nguyên nhân thua lỗ của các trường hợp bị kiểm soát cũng không giống nhau.

Một số công ty thua lỗ do tình hình sản xuất kinh doanh yếu kém như Công ty Bông Bạch Tuyết (BBT) hay Công ty cổ phần Vitaly (VTA) nhưng một số khác thì thua lỗ do đầu tư tài chính như REE hay SAM.

Việc các công ty thông qua thị trường chứng khoán sơ cấp để huy động vốn đầu tư không có gì phải phê phán mà cần được khuyến khích. Thế nhưng việc biến thị trường sơ cấp thành một công cụ để huy động vốn phục vụ cho các hoạt động đầu tư tài chính gián tiếp không được kiểm soát và quản trị tốt là điều nguy hiểm cho hệ thống kinh tế của quốc gia.

Thay vì huy động vốn để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh chính thì các công ty lại mang đi đầu tư tài chính thông qua việc nắm giữ các danh mục chứng khoán thị trường.

Đặc biệt trong giai đoạn nửa cuối năm 2006 đến khoảng giữa năm 2007 – giai đoạn thị trường chứng khoán Việt Nam tăng trưởng cao – nhiều công ty đã tăng cường các hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng và sử dụng phần lớn số vốn huy động được để đầu tư tài chính cả ngắn hạn lẫn dài hạn.

Nhà đầu tư bị dẫn dắt

Thu nhập từ đầu tư tài chính gồm có hai phần là cổ tức (dividend) và lợi vốn (capital gain). Trong khi cổ tức có được khi công ty phát hành làm ăn có hiệu quả thì lợi vốn lại có được từ sự chênh lệch giá cổ phiếu mua vào và bán ra trên thị trường.

Nhiều nhà đầu tư đã không thấy được rằng giữa cổ tức và lợi vốn có mối liên hệ chặt chẽ với nhau mà ở đó cổ tức phải được xem là bệ đỡ chắc chắn cho các khoản lợi vốn. Điều quan trọng ở đây chính là nguồn gốc của cổ tức. Các nhà đầu tư “vô tư” đưa tay hứng những đồng cổ tức mà không hề thắc mắc chúng từ đâu ra. Nhà đầu tư đã bị dẫn dắt vào ngõ cụt!

Bản chất của cổ tức là thu nhập từ hoạt động kinh doanh của công ty, trong đó hiệu quả từ hoạt động kinh doanh chính phải là cốt lõi. Chính vì vậy nếu một doanh nghiệp trả cổ tức không phải từ nguồn thu nhập này mà từ nguồn vốn vay ngân hàng hay phát hành thêm cổ phiếu là có vấn đề nếu không phải trong ngắn hạn thì là dài hạn.

Thậm chí việc công ty trả cổ tức từ thu nhập đầu tư tài chính cũng cần phải phân tích cẩn thận. Đối với một công ty thông thường (ý muốn nói không phải định chế tài chính) về dài hạn thì thu nhập từ hoạt động kinh doanh chính phải chiếm tỷ trọng lớn nhất, còn hoạt động đầu tư (nếu có) chỉ là phụ.

Vì vậy nếu nguồn thu nhập từ đầu tư tài chính chiếm tỷ trọng quá lớn, thậm chí còn bù đắp cho các khoản thua lỗ từ hoạt động kinh doanh chính một cách dài hạn thì đó là điều không bình thường, chưa kể là các khoản thu nhập từ đầu tư tài chính có lành mạnh và mang tính bền vững hay không.

Để thấy rõ đặc tính không lành mạnh của các khoản thu nhập từ đầu tư tài chính, chúng ta phân tích thử nguồn gốc của các khoản thu nhập này. Ở Việt Nam thời gian qua, một tỷ lệ vốn cổ phần không nhỏ sau khi huy động được các công ty dùng để đầu tư chéo vào nhau. Chẳng hạn, công ty A phát hành cổ phiếu rồi sử dụng vốn để đầu tư vào cổ phiếu của công ty B. Đến lượt mình, công ty B cũng lại dùng vốn huy động được để thành lập quỹ đầu tư C. Quỹ đầu tư C sẽ dùng vốn để đầu tư vào danh mục các cổ phiếu gồm A, D và nhiều hơn thế nữa. Mà công ty D lại là cổ đông của công ty A. Cứ như thế việc huy động vốn rồi tái đầu tư vào thị trường đã tạo nên một mạng lưới chằng chéo các quan hệ sở hữu trực tiếp, gián tiếp hết sức phức tạp.

Giả sử rằng ban đầu công ty D hoạt động kinh doanh có hiệu quả và tạo ra được một đồng thu nhập. Khoản thu nhập này phải được trả cho các cổ đông và quỹ đầu tư C là một trong những cổ đông đó. Đến lượt mình, quỹ đầu tư C phải phân phối thu nhập cho các nhà đầu tư trong đó có công ty B. Công ty A, với tư cách là cổ đông của công ty B nên tất nhiên cũng phải được nhận cổ tức từ công ty B và chia lại cho công ty D với tư cách là cổ đông của mình. Lại một lần nữa công ty D có thu nhập từ đầu tư vào công ty A nên cũng phải phân phối cho quỹ đầu tư C.

Vòng xoay lại cứ như thế và ai cũng thấy mình có thu nhập cả. Ban đầu chỉ có một đồng thu nhập từ công ty D nhưng do ảo giác làm cho người ta tưởng rằng có đến bốn đồng thu nhập sau chỉ một vòng luân chuyển qua 4 công ty A, B, C và D. Thu nhập từ đầu tư tài chính có được quá dễ dàng mà không phải đổ quá nhiều mồ hôi như đầu tư vào hoạt động kinh doanh truyền thống làm cho ai cũng lao vào đầu tư tài chính. Kỳ vọng thu nhập cao làm cho giá cổ phiếu cũng được đẩy lên rất cao.

Ban đầu khi giá cổ phiếu tăng lên đã làm cho chi phí sử dụng vốn cổ phần giảm nên các công ty lại tiếp tục phát hành cổ phiếu mới dưới nhiều hình thức để huy động vốn. Cơ cấu vốn của nhiều công ty thay đổi nhanh chóng trong giai đoạn này thể hiện ở độ bẩy tài chính giảm đáng kể.

Lẽ ra các công ty nên tận dụng cơ hội này để tăng vốn tự có nhằm mở rộng sản xuất, gia tăng đầu tư vào tài sản cố định, đổi mới máy móc và hiện đại hóa thiết bị sản xuất, tăng cường năng lực cạnh tranh và mở rộng thị trường xuất khẩu… Thế nhưng chẳng có mấy công ty tận dụng được cơ hội này mà thay vào đó lại lao vào các hoạt động đầu tư tài chính đầy rủi ro và thiếu bền vững.

Mắc bẫy của thị trường thứ cấp Thị trường chứng khoán thứ cấp giao dịch lại các chứng khoán đã phát hành trên thị trường chứng khoán sơ cấp. Thị trường thứ cấp làm tăng tính thanh khoản các tài sản tài chính đồng thời qua đó thực hiện chức năng phân phối lại thu nhập giữa các nhà đầu tư trên cơ sở rủi ro. Tỷ suất lợi nhuận quá cao lên đến vài chục phần trăm, thậm chí vài trăm phần trăm một năm và đạt được quá dễ dàng làm cho người ta quên rằng có một nguyên lý sơ đẳng trong đầu tư tài chính về mối quan hệ mật thiết giữa lợi nhuận và rủi ro. Muốn có lợi nhuận kỳ vọng cao nhà đầu tư phải chấp nhận một mức rủi ro lớn.

Sự tham lam làm cho người ta mù quáng và cứ như thế họ lao vào đầu tư tài chính mà không hề biết rằng mình đang tranh nhau chỉ có một đồng lợi nhuận mà công ty D kiếm được. Cảnh tượng giống như hàng chục con sư tử lao vào tranh nhau chiếc đuôi của con sơn dương xấu số. Sự hưng phấn và kỳ vọng quá lớn của nhà đầu tư vào thu nhập từ những cổ phiếu blue-chip đã đẩy giá cổ phiếu tăng cao và những khoản lợi vốn được tạo ra không dựa trên bệ đỡ chắc chắn của nó như đã nói là cổ tức và hiệu quả kinh doanh chính của công ty.

Bao giờ trời sáng?

Kinh tế tăng trưởng nóng, lạm phát tăng cao, chính sách tiền tệ bị thắt chặt, mặt bằng lãi suất tăng lên, hoạt động đầu tư chứng khoán được kiểm soát, các ngân hàng giảm cho vay đầu tư chứng khoán, các khoản nợ vay đến hạn… Một số doanh nghiệp bắt đầu nhận thấy hoạt động kinh doanh khó khăn hơn. Ảo tưởng về thu nhập cao sẽ biến mất khi một trong các công ty trên làm ăn không còn hiệu quả nữa. Công ty B làm ăn thua lỗ nên không thể trả cổ tức cho công ty A, rồi công ty A không có cổ tức để trả cho công ty D… Vòng xoay cũng tiếp diễn tương tự nhưng theo chiều ngược lại. Sự kỳ vọng nay biến thành sự thất vọng và bi quan.

Sau khi gặm xong chiếc đuôi của con sơn dương xấu số, những con sư tử háu ăn kia sẽ quay sang cắn vào những chiếc đuôi còn lại, nhưng cơn đau làm chúng giật mình và nhận ra rằng thì ra mình đang tự cắn vào đuôi nhau. Đến lúc này thì kỳ vọng mất đi, doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả và giá chứng khoán cũng bốc hơi. Những khoản lợi vốn (capital gain) nay không còn mà thay vào đó là khoản lỗ vốn (capital loss).

Nhà đầu tư nào khôn ngoan thì nhanh chóng rút khỏi thị trường. Số khác thì cũng đủ bình tỉnh để kịp cắt lỗ trước khi tình hình tồi tệ thêm. Nhưng phần còn lại vẫn đứng nhìn về phía hoàng hôn xa xa với hy vọng bình minh sẽ lại đến trong vài tiếng đồng hồ nữa. Chi phí để thức suốt cả đêm chờ trời sáng trở nên quá xa xỉ. Không ai biết chính xác bây giờ là mấy giờ sáng rồi nhưng có điều trời vẫn chưa sáng.

SOURCE: THỜI BÁO KINH TẾ SÀI GÒN - ĐỖ THIÊN ANH TUẤN

Trích dẫn từ: http://www.thesaigontimes.vn

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

>> Xem thêm:  Dịch vụ tư vấn cổ phần hóa doanh nghiệp, Luật sư riêng doanh nghiệp

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn luật đầu tư nước ngoài Uy tín, Chuyên nghiệp

5. Đồng đô la và sự vận động của thị trường tài chính toàn cầu

Trong những năm gần đây, xu thế toàn cầu hóa đã đẩy mạnh xuất khẩu và đầu tư ra nước ngoài, dẫn đến những thay đổi về qui mô và quyền lực tài chính giữa các nước phát triển và đang phát triển.

Trong khi nền kinh tế Mỹ đã đóng vai trò chính trong nền kinh tế thế giới suốt từ sau thế chiến 2 cho đến những năm 1990, từ cuối thế kỷ qua đã chứng kiến sự nổi lên của một số nền kinh tế lớn như Ấn Độ, Trung Quốc, Liên bang Nga, Brazil. Những thay đổi này đã gây tác động đến dòng vốn quốc tế và tỉ giá hối đoái, từng bước hình thành sự điều chỉnh quốc tế. Thêm vào đó, sự kiện 11/9/2001 và cuộc chiến chống khủng bố đã tác động xấu đến cán cân thanh toán của Mỹ, mà đỉnh cao là đổ vỡ tín dụng tại Mỹ và dẫn đến khủng hoảng tài chính toàn cầu. Chính sự mất cân đối ngân sách kỷ lục tại Mỹ và sự nổi lên của các nền kinh tế mới nổi đã khiến cho USD mất giá 16% tính từ tháng 3/2009 và trên 20% tính từ năm 2002 và còn tiếp tục xuống giá. Tỉ trọng USD trong dự trữ thế giới giảm từ 72% vào năm 1999 (đồng euro bắt đầu lưu hành) xuống còn 62,8% vào quí 2/2009.

Những lo ngại về sự gia tăng thâm hụt tại Mỹ để kích thích nền kinh tế sau khủng hoảng và sự phục hồi kinh tế toàn cầu là những yếu tố tiếp tục làm giảm nhu cầu nước ngoài về tài sản USD, góp phần làm cho USD suy yếu thêm. Cùng với sự mất giá của USD, giá vàng liên tục lập kỷ lục mới đã gây ra sự lúng túng của nhiều doanh nghiệp và các nhà tạo lập chính sách, nhất là những nước có tỉ giá thả nổi. Trong tình hình đó, FED và nhiều NHTW đã lập phương án điều chỉnh dự trữ để tạo danh mục cân đối hơn theo hướng giảm tỉ trọng USD trong dự trữ ngoại hối, và điều này làm USD giảm sâu hơn nữa.

.Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900.6162

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Gần đây, NHTW Mỹ đã tiến hành mua thêm euro, yên nhật và động thái này sẽ tiếp tục trong những năm tới do lo ngại về sự bất ổn của USD. Tuy nhiên, với tốc độ tích lũy dự trữ tăng cao sau khi đã chế ngự được khủng hoảng, FED đã lựa chọn phương thức cất trữ tiền mặt mới dưới dạng euro và yên nhật mà không phải bán tài sản dưới dạng USD hiện nay. Theo kết quả nghiên cứu của Barclays Capital, FED đã phân chia dự trữ mới và đã dành 63% thu nhập mới thu được trong thời gian từ tháng 4 đến tháng 7 để mua những loại tiền tệ khác, Quí II là quí duy nhất NHTW đã tích lũy được trên 100 tỉ USD và chỉ giữ lại dưới 40% USD, giảm so với 70% trong thời gian từ 2006 đến nay. Theo số liệu của IMF, tổng dự trữ của FED trong Quí II đã tăng 4,8% lên 6.800 tỉ USD và là lần đầu tiên trong năm.

Trung Quốc là nước có dự trữ ngoại hối đứng thứ hai thế giới và có lẽ vẫn giữ 70% dự trữ dưới dạng USD, mặc dù quốc gia này không công bố công khai cơ cấu dự trữ.

Liên bang Nga là nước có lượng dự trữ lớn thứ ba thế giới với khoảng 419 tỉ USD, trong đó USD chiếm 47% và euro chiếm 40%, còn lại dự kiến sẽ mua ngoại tệ khác.

Các NHTW cũng chuyển sang vàng, và điều này giải thích một phần nguyên nhân đẩy giá vàng tăng mạnh. Trong đó, Đài Loan (nền kinh tế có dự trữ lớn thứ tư) đang cân nhắc mua thêm vàng, lượng vàng dự trữ tại Trung Quốc đã tăng thêm 75% so với năm 2003, Ấn Độ mới mua 200 tấn vàng từ IMF.

Khi USD mất giá, NHTW tại các nền kinh tế mới nổi châu Á và nhiều nước khác đã tiến hành mua USD và sử dụng một số biện pháp để kiềm chế tốc độ tăng giá bản tệ, lý do đơn giản là USD sẽ lên giá trở lại, có thể là trong giai đoạn trung hạn.

Vai trò của yên Nhật và bảng Anh cũng tăng nhưng với tỉ trọng thấp hơn, những đồng tiền khác đã tăng 10% trong thời gian từ tháng 4 đến tháng 7, chủ yếu là tăng theo tỉ trọng xuất khẩu của các nước, nhất là những nước mới nổi cần nhiều năng lượng. Riêng đồng Nhân Dân tệ vẫn đứng ngoài luồng dự trữ do Trung Quốc chưa nới lỏng kiểm soát tiền tệ và chưa thực sự tự do hóa đầu tư nước ngoài.

Do đồng USD còn chiếm khoảng 2/3 dự trữ toàn cầu và sẽ tiếp tục chiếm ưu thế trong các tài khoản cá nhân, các nhà tạo lập chính sách thừa nhận rằng, USD sẽ vẫn là trụ cột của tài chính toàn cầu trong nhiều năm nữa. Nhưng sự suy giảm liên tục trong tỉ trọng thương mại trong thập kỷ qua là tín hiệu không tốt cho Trung Quốc, Liên bang Nga, Ấn Độ và những nước mua nhiều trái phiếu kho bạc Mỹ (nếu cố gắng bán hạ giá USD thì sẽ phá hủy hoại danh mục tài sản của NHTW Mỹ và gây thiệt hại cho chính họ).

Theo số liệu của IMF, dự trữ dưới dạng Euro tại các nước thành viên đã tăng lên 27,5% trong quí 2 so với 18% vào cuối năm 2000, và sẽ vượt 30% trong năm tới.

Các nhà kinh tế hàng đầu đều cho rằng, mặc dù các NHTW đang đối mặt với giới hạn về cách thức đa dạng hóa dự trữ, nhưng hầu hết các loại tiền không mất giá quá mức để có thể tạo ra dòng tiền ra vào quá lớn và đột ngột, ngay cả sự chuyển dịch lớn của USD và Euro cũng đặt câu hỏi là mua nợ của quốc gia nào. Không có loại trái phiếu chính phủ nào tại châu Âu lối xuống giá như trái phiếu kho bạc Mỹ, và những loại trái phiếu cho lợi nhuận cao là từ những nền kinh tế yếu nhất.

Giáo sư Barry Eichengreen tại Đại học tổng hợp California cho rằng, do sự bỏ chạy tán loạn khỏi USD, đồng đô la sẽ chia tỉ trọng dự trữ của các quốc gia nhưng chỉ mang tính ngắn hạn, tình trạng lôi cuốn dòng chảy từ USD sang những tiền tệ khác không thể kéo dài. Trong ngắn hạn, đồng Euro do nó có tính thanh khoản cần thiết, ngoài ra không có lý do để kỳ vọng vào hệ thống dự trữ đa tiền tệ.

Trong khi USD vẫn chiếm ưu thế trên thương mại toàn cầu, sự suy giảm quá đáng của nó đang làm lu mờ tính hấp dẫn là phương tiện đầu tư và tích trữ trong các nền kinh tế mới nổi. Xu hướng chuyển dịch sang sử dụng euro thay thế USD tập trung chủ yếu tại Brazil và Liên bang Nga do gia tăng lòng tin về triển vọng kinh tế trong nước, nhưng tại nhiều nơi, đô la vẫn là đồng tiền được ưa chuộng nhất.

Ngoài đồng nhân dân tệ, người Trung Quốc vẫn tìm đến USD do vị thế của Mỹ vẫn đảm bảo giá đô la trong dài hạn. Tại một số nước Nam Mỹ, đô la vẫn là công cụ phòng ngừa lạm phát hoặc phá giá bản tệ, do họ đã từng hứng chịu hai thảm họa trong thập kỷ qua. Từ năm 2000, Ecuador đã từ bỏ đồng sucre vào và chấp nhận đô la là tiền chính thức. Tại Venezuela, người dân và doanh nghiệp đổ xô đi đổi đô la để đề phòng lạm phát và khả năng phá giá đồng bolivar. Tại Argentina, sau đổ vỡ năm 2002, người dân không còn tin vào đồng peso và thường chuyển tiết kiệm sang đô la hoặc gửi tiền vào những ngân hàng dưới dạng tài khoản đô la. Tại Mehico, đồng đô la và peso song hành với nhau và người dân thường tiết kiệm dưới dạng đô la.

Tóm lại, thị trường ngoại tệ thế giới đang vận động theo cơ chế tự điều chỉnh theo xu hướng giảm tỉ trọng USD. Tuy nhiên, cơ cấu và vai trò của các đồng tiền chủ chốt trong trao đổi thương mại, tiết kiệm dân cư và dự trữ quốc gia hiện nay và trong tương lai cho thấy, đồng đô la tuy mất giá nhưng vẫn còn chiếm ưu thế trên thị trường tài chính toàn cầu và sẽ sớm tăng giá trở lại.

SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC - VĂN THANH

Trích dẫn từ: http://www.sbv.gov.vn/

>> Xem thêm:  Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp đàm phán, ký kết và soạn thảo hợp đồng