1. Bộ Luật hình sự quy định như thế nào về hình phạt: Tù có thời hạn

Theo Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định như sau:

Điều 38. Tù có thời hạn

1. Tù có thời hạn là buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định.

Tù có thời hạn đối với người phạm một tội có mức tối thiểu là 03 tháng và mức tối đa là 20 năm.

Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 01 ngày tù.

2. Không áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý và có nơi cư trú rõ ràng.

Tù có thời hạn là việc buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời hạn nhất định, trong một khoảng thời gian tối thiểu là 03 tháng và tối đa là 20 năm theo pháp luật quy định.

Hình phạt tù có thời hạn là một loại hình phạt nghiêm khắc, khi so hình phạt tù có thời hạn đối với các loại hình phạt như: Cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ thì hình phạt tù có thời hạn mang tính nghiêm khắc hơn cả. Bởi vì người bị kết án bị tước tự do, bị cách ly với xã hội, họ phải lao động cải tạo trong trại giam dưới sự quản lý và giám sát của lực lượng cảnh sát. Chế độ cải tạo cũng như việc chấp hành hình phạt tù có thời hạn theo Luật thi hành án hình sự và nghị định của Chính phủ quy định.


Hình phạt tù có thời hạn trong luật hình sự Việt Nam tuy là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc, hình phạt tù có thời hạn có mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội và thực hiện răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, hình phạt này chỉ được áp dụng trong các trường hợp khi xét thấy cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội trong một thời gian nhất định và khung hình phạt cửa điều luật về tội phạm mà người đó đã thực hiện có hình phạt này, nó không mang tính chất trả thù hay hành hạ người bị kết án mà có ý nghĩa cải tạo giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội. Trong thời gian chấp hành hình phạt tù, nếu người phạm tội tiến bộ thì được xét giảm mức hình phạt. Thực tiễn cho thấy hầu hết những người bị phạt tù có thời hạn đều được giảm và được trả lại tự do trước thời hạn.

Theo quy định của Bộ luật hình sự có quy định những trường hợp như không phải chấp hành hình phạt tù khi đã hết thời hiệu ( Điều 55 ); được miễn chấp hành hình phạt tù ( Điều 62); giảm mức hình phạt tù ( Điều 63); hoãn chấp hành hình phạt tù ( Điều 67); tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù ( 68); án treo ( Điều 65). Tất cả những quy định trên cho thấy hình phạt tù có thời hạn quy định trong luật hình sự nước ta có bản chất khác hẳn với hình phạt tù của các nước tư bản.

Như vừa trình bày ở trên, hình phạt tù có thời hạn có mức tối thiểu là ba tháng, mức tối đa là hai mươi năm. Tuy nhiên, mức này chỉ đối với người phạm một tội, còn đối với người phạm nhiều tội thì mức tối đa có thể lên tới ba mươi năm. Đây là quy định mới so với Bộ luật hình sự năm 1985. Bộ luật hình sự năm 1985 quy định dù một người có phạm nhiều tội, nhưng đều bị xét xử trong một bản án thì mức hình phạt tù tối đa đối với người ấy cũng không được quá hai mươi năm. Việc quy định như vậy rõ ràng là không thể hiện được nguyên tắc công bằng trong quyết định hình phạt, không có tác dụng đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm

Đối với từng hình phạt cụ thể nhà làm luật quy định mức tối thiểu và tối đa đối với hình phạt tù có thời hạn là không hoàn toàn giống với mức tối thiểu và tối đa quy định cho loại hình phạt này, mà tùy thuộc và từng tội phạm, từng trường hợp phạm tội cụ thể mà nhà làm luật quy định mức tối thiểu và tối đa cho phù hợp.

Có tội phạm nhà làm luật chỉ quy định mức tối thiểu là ba tháng và mức tối đa là hai năm, nhưng có tội hạm phải quy định mức tối thiểu là mười năm và tối đa là hai mươi năm. Nếu khung hình phạt quy định mức tối thiểu cao hơn ba tháng tù thì khi quyết định hình phạt Tòa án có thể phạt bị cáo dưới mức tối thiểu của khung hình phạt, nhưng không được xuống dưới quá ba tháng tù.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 38 này, người bị kết án bị Tòa án áp dụng hình phạt tù có thời hạn, nếu trước đó họ đã bị tạm giữ hoặc tạm giam, thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng một ngày tù.

Căn cứ Điều 117 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn do người có thẩm quyền áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã.

Tạm giam có thể hiểu là một biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, khi bị áp dụng biện pháp ngăn chặn này, người bị tạm giam bị cách ly khỏi xã hội một thời gian nhất định, bị hạn chế một số quyền con người, quyền công dân như quyền tự do thân thể, cư trú, đi lại …

Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, nhưng không quy định Tòa án trừ ngay khi quyết định hình phạt hay cơ quan công an trừ trong quá trình thi hành hình phạt trong trại giam? Đây là vấn đề tưởng đơn giản nhưng nếu không có quy định thống nhất sẽ dẫn đến việc thi hành khác nhau. Nếu Tòa án trừ ngay khi quyết định hình phạt như từ trước đến nay vẫn làm, thì trong bản án phải tuyên mức hình phạt cụ thể, sau đó trừ thời gian tạm giữ, tạm giam rồi buộc người bị kết án chấp hành hình phạt tù còn lại và thời hạn tù phải tính từ ngày tuyên án hoặc từ ngày bắt thi hành án.

Nếu đến ngày tuyên án, người bị kết án không bị tạm giam, thì Tòa án phải tuyên trong bản án thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Nếu giao cho cơ quan công an quản lý tại giam trừ, thì hồ sơ thi hành án phải phản ánh đầy đủ thời gian tạm giam, tạm giữ đối với người bị kết án và việc này phải được quy định trong Bộ luật hình sự hoặc Luật thi hành án


Theo khoản 2 Điều luật này, hình phạt tù có thời hạn không được phép áp dụng cho người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý và có nơi cư trú rõ ràng.

Theo quy định này, Tòa án không được áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người phạm tội trong trường hợp thỏa mãn các điều kiện sau:
- Thứ nhất, tội phạm đã thực hiện là tội vô ý (có thể do lỗi vô ý cẩu thả hoặc vô ý doa quá tự tin) được quy định tại Điều 11 bộ luật này và thuộc vào loại tội ít nghiêm trọng theo điểm a khoản 1 Điều 9 cùng Bộ luật - Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm, ví dụ như: Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính theo khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 139.

>> Xem thêm:  Quy định mới nhất về thủ tục thi hành án tử hình ?

Thứ hai, người phạm tội là người lần đầu phạm tội và có nơi cư trú (thường trú, tạm trú) rõ ràng.

Theo Điều 1, Điều 12 Luật Cư trú 2006 Nơi cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn dưới hình thức thường trú hoặc tạm trú. Theo đó nơi cư trú của công dân gồm:

- Chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống.

- Là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú.

- Trường hợp không xác định được theo các quy định trên thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống.

Trong trường hợp 02 điều kiện trên đây đều thỏa mãn, Tòa án không được áp dụng hình phạt tù có thời hạn cho người phạm tội mà phải áp dụng hình phạt khác nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn. Đó là: Cảnh cáo, phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ...

2. Tù chung thân theo quy định của Bộ luật hình sự hiện hành

Theo Điều 39 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định như sau:

Điều 39. Tù chung thân

Tù chung thân là hình phạt tù không thời hạn được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử hình.

Không áp dụng hình phạt tù chung thân đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

Theo quy định này của Điều 39, người phạm tội bị tuyên án tù chung thân đồng nghĩa với việc sẽ phải ngồi tù cho đến cuối đời, suốt đời nhưng chưa đến hình phạt tử hình.

Trong thực tiễn xét xử, những trường hợp bị áp dụng hình phạt này là những trường hợp phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng về an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội, về tính mạng cũng như sở hữu và có nhiều tình tiết tăng nặng đáng kể. Thông thường, hình phạt này được áp dụng đối với những trường hợp mà đối với người phạm tội, hình phạt tù có thời hạn đến 20 năm vẫn còn nhẹ nhưng hình phạt tử hình lại chưa thật sự cần thiết. Ranh giới về điều kiện áp dụng giữa hình phạt tù chung thân và hình phạt tử hình là không rõ ràng. Nếu các hình phạt trước như: Cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và tù có thời hạn là những biện pháp nhẹ hơn thì tù chung thân cũng là biện pháp nặng nhất, sau hình phạt tử hình.

Tuy nhiên, nước ta cũng có các chính sách nhân đạo về xử lý hình sự và thi hành án đối với người phạm tội, được quy định khá đầy đủ trong các văn bản pháp luật hình sự, qua đó tạo điều kiện cho người phạm tội được hưởng các chính sách khoan hồng đối với những người phạm tội mà bị phạt tù chung thân có cải tạo tốt.

Ví dụ: Đối với hình phạt tù chung thân, căn cứ theo quy định tại khoản 1, 2, 3 Điều 63 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về “Giảm mức hình phạt đã tuyên” như sau:

>> Xem thêm:  Mức án đối với tội giết người ? Giết người khi nào bị tử hình?

“1. Người bị kết án cải tạo không giam giữ, phạt tù có thời hạn hoặc phạt tù chung thân, nếu đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định, có nhiều tiến bộ và đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự, thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt.

Thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là một phần ba thời hạn đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, hình phạt tù có thời hạn, 12 năm đối với tù chung thân.

2. Một người có thể được giảm nhiều lần, nhưng phải bảo đảm chấp hành được một phần hai mức hình phạt đã tuyên.

Người bị kết án tù chung thân, lần đầu được giảm xuống 30 năm tù và dù được giảm nhiều lần cũng phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 20 năm.

3. Trường hợp người bị kết án về nhiều tội trong đó có tội bị kết án phạt tù chung thân thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu xuống 30 năm tù sau khi đã chấp hành được 15 năm tù và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời gian thực tế chấp hành là 25 năm”.

Như vậy, qua điều luật này các điều kiện để được giảm án đối với hình phạt tù chung thân của người phạm tội như sau:

- Thứ nhất, Đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định (12 năm);

- Thứ hai, Có nhiều tiến bộ;

- THứ ba, Đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự.

>> Xem thêm:  Tù chung thân có được giảm xuống thành tù có thời hạn không? Mẫu đơn xin giảm án phạt tù ?

Xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo và tính nghiêm khắc của hình phạt tù chung thân ở trên mà hình phạt tù chung thân sẽ không áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Quy định này vừa có tính truyền thống trong luật hình sự Việt Nam và vừa phù họp với xu hướng chung của thế giới.
Theo nội dung của hình phạt tù chung thân, người bị áp dụng hình phạt này phải chấp hành hình phạt suốt đời trong cơ sở giam giữ. Nhưng như bất kỳ hình phạt nào (trừ tử hình), chính sách hình sự của Nhà nước cũng khuyến khích quá trình tự giáo dục, cải tạo, mở cho người phạm tội là người dưới 18 tuổi nói riêng bị kết án tù chung thân khả năng sớm trở lại với cuộc sống cùng cộng đồng xã hội và gia đình.

3. Hình phạt nghiêm khắc nhất của Bộ luật hình sự Việt Nam hiện nay

Theo Điều 40 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định như sau:

Điều 40. Tử hình

1. Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định.

2. Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử.

3. Không thi hành án tử hình đối với người bị kết án nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi;

b) Người đủ 75 tuổi trở lên;

c) Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn.

4. Trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này hoặc trường hợp người bị kết án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân.

Thứ nhất, theo khoản 1 Điều luật không quy định hình phạt tử hình là hình phạt như thế nào, qua đó, khoản 1 Điều luật giới hạn các tội phạm được quy định trong bộ luật khi người phạm tội phạm phải những tội này và đạt điều kiện nhất định thì sẽ phải bị chịu hình phạt tử hình.

Nhưng ta có thể hiểu hình phạt tử hình là việc hành quyết một người theo một quy trình luật pháp như một sự trừng phạt cho một hành động tội phạm. Nó được xem là giải pháp ngăn cản tội ác hữu hiệu nhất (loại trừ vĩnh viễn bị cáo ra khỏi xã hội) với mục đích của nó không chỉ là để trừng trị kẻ phạm tội ác nghiêm trọng, mà còn là sự cảnh cáo nghiêm khắc nhất với những kẻ có ý định phạm tội tương tự, qua đó hạn chế tối đa những tội ác tương tự tái diễn trong tương lai.

Theo khoản 1 Tội phạm bị xử hình phạt tử hình khi có các điều kiện sau:

Thứ nhất, thuộc vào loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng trong bộ luật hính sự. Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.(điểm d khoản 1 Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

>> Xem thêm:  Thời gian giải quyết vụ án hình sự là bao lâu ? Điều kiện miễn trách nhiệm hình sự là gì ?

thứ hai, phải thuộc vào một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định.

Theo khoản 2 Điều luật này quy định trường hợp hình phạt tử hình sẽ không áp dụng đối với những chủ thể này, đó là:
1. Phụ nữ mang thai
2. Phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi
3. Người dưới 18 tuổi khi phạm tội
4. Người từ đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc xét xử

Có thể hiểu, đây là các trường hợp đặc biệt trong xã hội. Đối với phụ nữ có thai hay đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi mà xử hình phạt tử hình cho người mẹ, người con sẽ không thể nào duy trì sự sống của mìn. Đối với người dưới 18 tuổi và người từ đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc xét xử khi phạm tội pháp luật luôn khoan hồng và mang tính chất giáo dục, giúp đỡ, đem lại lợi ích tốt nhất cho những người này.

Tại khoản 3 điều luật quy định trường hợp không thi hành đó là:

Khoản 3 Điều 40 Bộ luật Hình sự 2015: Không thi hành án tử hình (chuyển thành tù chung thân):
1. Phụ nữ có thai
2. Phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi
3. Người từ đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc xét xử
4. Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất 3/4 tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn.

Trong trường hợp quy định không tại khoản 3 Điều 40 hoặc trường hợp người bị kết án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân.

4. Xử lý tình huống về phạm tội

Khách hàng: Thưa Luật sư, Anh A và anh B có mâu thuẫn với nhau về vấn đề chia di sản do bố để lại, sau khi chia theo pháp luật anh A (con ruột) không đồng tình với việc chia tài sản đó và đã chửi rủa anhB, anh B không im lặng mà cũng thách anh A rồi chửi nhau. Tức quá anh A vào nhà cầm con dao chạy ra chém anh B nhiều nhát vào bụng, rồi xiên qua cổ khiến anh B chết ngay tại đó, đúng lúc con trai anh B đi học về, anh A sợ con anh B đi mách, vậy là A chém luôn con anh B, trong quá trình đưa bé đi cấp cứu thì bé đã chết do mất máu quá nhiều và vết thương quá sâu.

Vậy A sẽ phải chịu tử hình không? Một người ác độc như vậy không nên cho tù có thời hạn hoặc tù chung thân.

Xin cảm ơn Luật sư!

Trả Lời:

Theo như lời bạn kể A đã phạm tội giết người theo khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như sau:

Điều 123. Tội giết người

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Giết 02 người trở lên;

b) Giết người dưới 16 tuổi;

c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;

d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;

h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;

k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;

l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;

m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;

n) Có tính chất côn đồ;

o) Có tổ chức;

p) Tái phạm nguy hiểm;

q) Vì động cơ đê hèn.

A đã giết B và con trai B chết, tức A giết hai người với tính chất man rợn và dặc biệt nguy hiểm trong xã hội.

>> Xem thêm:  Hình phạt tù là gì ? Khi nào được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù

Anh này đã phạm tội đặc biệt nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật này. Theo quy định tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.(điểm d khoản 1 Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Vậy A sẽ phải chịu hình phạt hoặc phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình theo khoản 1 điều luật trên.

Trân trọng!

5. Xác định hình phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành

Khách hàng: Thưa Luật sư, Con tôi 19 tuổi, nó đi học xa nhà ở Thành phố, do chồng tôi đã mất nên không có điều kiện gần con, chăm sóc con vậy mà con tôi bị bạn bè lôi kéo đi cờ bạc, ăn chơi. Vào cuối tuần trước con tôi gọi điện khóc kể với tôi rằng nó đã đánh đập và bắt con bé gái để hiếp dâm, con bé khóa dưới (18 tuổi). Nó đã thực hiện hành vi hiếp bé gái 2 lần và đã đưa rất nhiều tiền bảo đứa bé không được kể cho ai nhưng giờ bố mẹ con bé biết và đã tố cáo con tôi.

Vậy giờ con tôi phải ngồi tù không?

Tôi cảm ơn!

Trả lời: Chào chị, chúng tôi trả lời chị như sau

Thứ nhất theo quy định Điều 141 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Điều 141. Tội hiếp dâm

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

c) Nhiều người hiếp một người;

d) Phạm tội 02 lần trở lên;

đ) Đối với 02 người trở lên;

e) Có tính chất loạn luân;

g) Làm nạn nhân có thai;

h) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

i) Tái phạm nguy hiểm.

Con chị vì ăn chơi sa đọa mà dẫn đến thực hiện hành vi hiếp một bé gái (2 lần). Đây là tôi phạm rất nghiêm trọng theo uy định của pháp luật.

Theo khoản 2 Điều 141 con chị sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự với khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm.

Trân trọng.

>> Xem thêm:  Án tử hình thực hiện như thế nào ? Nên duy trì hay loại bỏ án tử hình ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Tù có thời hạn theo quy định của pháp luật?

Trả lời:

Điều 38. Tù có thời hạn

1. Tù có thời hạn là buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định.

Tù có thời hạn đối với người phạm một tội có mức tối thiểu là 03 tháng và mức tối đa là 20 năm.

Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 01 ngày tù.

2. Không áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý và có nơi cư trú rõ ràng.

Câu hỏi: Tù chung thân là hình phạt như thế nào?

Trả lời:

Điều 39. Tù chung thân

Tù chung thân là hình phạt tù không thời hạn được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử hình.

Không áp dụng hình phạt tù chung thân đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

Câu hỏi: Khi nào thì một người bị phạt hình phạt tử hình?

Trả lời:

Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định.(khoản 1 Điều 40 Bộ luật hình sự).