Theo pháp luật cạnh tranh của Việt Nam, các hình thức tập trung kinh tế bao gồm:

1. Sáp nhập doanh nghiệp

Khoản 2 Điều 29 Luật cạnh tranh năm 2018 quy định:

“Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một so doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt hoạt động kinh doanh hoặc sự tằn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập”.

Như vậy, sau khi sáp nhập, doanh nghiệp bị sáp nhập không còn tồn tại và bị xoá tên trong sổ đăng kí kinh doanh. Công ti nhận sáp nhập được hưởng các quyền, lợi ích hợp pháp và chịu,trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ti bị sáp nhập. Khái niệm sáp nhập doanh nghiệp trong Luật cạnh tranh tương tự khái niệm sáp nhập doanh nghiệp quy định trong Luật doanh nghiệp nhưng mục tiêu điều chỉnh hoạt động sáp nhập trong hai văn bản luật này khác nhau. Trong Luật doanh nghiệp, sáp nhập được điều chỉnh với tư cách là một hình thức tổ chức lại doanh nghiệp nên pháp luật quy định chủ yếu về tư cách pháp lí của doanh nghiệp sau khi sáp nhập, quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp sau sáp nhập. Trong Luật cạnh tranh, sáp nhập là một hình thức tập trung kinh tế nên bị kiểm soát nhằm ngăn ngừa khả năng hình thành doanh nghiệp có sức mạnh trên thị trường và có khả năng thực hiện hành vi gây cản trở cạnh tranh.

2. Hợp nhất doanh nghiệp

“Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp :'pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt hoạt động kinh doanh hoặc sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất”.

Sau khi hợp nhất doanh nghiệp, các doanh nghiệp bị hợp nhất chấm dứt sự tồn tại. Công ti hợp nhất được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán và các nghĩa vụ tài sản khác của các công ti bị hợp nhất. Khái niệm hợp nhất trong Luật cạnh tranh tương tự khái niệm hợp nhất quy định trong Luật doanh nghiệp. Hợp nhất doanh nghiệp cũng làm thay đổi cơ cấu vốn của doanh nghiệp hình thành một doanh nghiệp có quy mô lớn hơn các doanh nghiệp trước đó.

3. Mua lại doanh nghiệp

Khoản 4 Điều 29 Luật cạnh tranh quy định:

“Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp trực tiếp hoặc gián tiếp mua toàn bộ hoặc một phần vẩn góp, tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối doanh nghiêp hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại".

Mua lại doanh nghiệp bao gồm các trường họp: mua lại toàn bộ và mua lại một phần doanh nghiệp.

>> Xem thêm:  Hành vi cạnh tranh không lành mạnh có vi phạm luật sở hữu trí tuệ không ?

Có ý kiến cho rằng: “Mua lại toàn bộ doanh nghiệp về bản chất chính là hình thức sáp nhập doanh nghiệp. Bởi vì khi mua lại toàn bộ doanh nghiệp, người mua trở thành chủ sở hữu doanh nghiệp... ”- (Xem: Khoản 3 Điểu 29 Luật cạnh tranh). Tuy nhiên, hiện nay còn một số tranh luận

khác nhau cần tham khảo để phân biệt giữa hình thức mua lại và sáp nhập doanh nghiệp. Đó là, doanh nghiệp bị mua lại có chấm dứt sự tồn tại hay không? Nếu doanh nghiệp bị mua chấm dứt sự tồn tại thì đó là hình thức sáp nhập doanh nghiệp; nếu doanh nghiệp bị mua tiếp tục hoạt động thì đây được coi là mua lại doanh nghiệp. Thậm chí, một sổ tác giả còn cho rằng mua lại và sáp nhập doanh nghiệp được dựa trên tính hợp tác hay thù địch của các bên trong các giao dịch này. Néu các bên hữu hảo và hợp tác với nhau thì gọi là sáp nhập và ngược lại thì gọi là mua lại.(l)

Mua lại một phần doanh nghiệp được thực hiện dưới hình thức mua tài sản, mua cổ phần của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại. Doanh nghiệp mua lại phải thu gom được một lượng vốn điều lệ của doanh nghiệp bị mua lại với tỉ lệ theo quy định của điều lệ doanh nghiệp bị mua lại hoặc theo quy định của pháp luật cho phép doanh nghiệp mua lại kiểm soát chi phối các chính sách tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bị mua lại.

Cần lưu ý là một số trường hợp mua lại doanh nghiệp khác không bị coi là tập trung kinh tế. Đó là trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm, tổ chức tín dụng mua lại doanh nghiệp khác nhằm mục đích bán lại trong thời hạn dài nhất định không bị coi là tập trung kinh tế nếu doanh nghiệp mua lại không thực hiện quyền kiểm soát hoặc chi phối doanh nghiệp bị mua lại, hoặc thực hiện quyền này chỉ trong khuôn khổ bắt buộc để đạt được mục đích bán lại đó.

Ví dụ: Khoản 5a Điều 3 Quy chế 139/2004 của Liên minh châu Âu. quy định việc các tổ chức tài chính mua và nắm giữ tạm thời cổ phần của doanh nghiệp nhàm mục đích bán lại thì không được coi là tập trung kinh tế. Việc mua lại tạm thời một số cổ phần được niêm yết trên thị trường chứng khoán và sẽ bán lại trong thời hạn một năm kể từ ngày mua không bị coi là hoạt động tập trung kinh tế với điều kiện tổ chức tài chính không bỏ phiếu phát sinh từ số cổ phần mà họ nắm giữ.

Lí do pháp luật các nước không kiểm soát một sổ trường hợp mua lại cổ phần của các tổ chức tài chính là vì đây là một trong những hoạt động thường xuyên của các tổ chức tài chính và các tổ chức đó cũng phải đáp ứng một số điều kiện nhất định để đảm bảo không gây phương hại đến cạnh tranh trên thị trường.

4. Liên doanh giữa các doanh nghiệp

Liên doanh giữa các doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp cùng nhau góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới.

Như vậy, khái niệm về liên doanh (với tư cách là một hình thức tập trung kinh tế) theo pháp luật cạnh tranh của Việt Nam cũng tương tự như pháp luật cạnh tranh của Pháp và Liên minh châu Âu. Theo đó, pháp luật của Pháp và liên minh châu Âu cho ràng liên doanh là hình thức tập trung kinh tế và có sự đầu tư góp vốn của doanh nghiệp nhưng lưu ý là nếu góp thêm vốn để tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp không được coi là tập trung kinh tế. Chỉ khi các nhà đầu tư góp vốn để thành lập một doanh nghiệp chung (doanh nghiệp liên doanh) nhằm thực hiện các chức năng của một chủ thể kinh tế độc lập mới được coi là tập trung kinh tế.

5. Các hành vi tập trung kinh tế khác

>> Xem thêm:  Điều tra vụ việc cạnh tranh theo thủ tục tố tụng cạnh tranh ?

Đây là cách xây dựng pháp luật phổ biến của Việt Nam khi sử dụng phương pháp liệt kê nhưng vẫn dự phòng một điều khoản mở. Quy định dự phòng nhằm để cho phép bổ sung khi cần thiết những hành vi tập trung kinh tế khác đã được ghi nhận ở pháp luật chuyên ngành hoặc có thể sẽ xuất hiện trong thực tiễn kinh doanh. Theo Luật mẫu về cạnh tranh, Luật kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh của Đức năm 1957 thì tập trung kinh tế còn bao gồm cả kiêm nhiệm về chức vụ. Kiêm nhiệm về chức vụ là tình trạng trong đó một người là thành viên trong Ban giám đốc của hai hay nhiều doanh nghiệp hay là đại diện của hai hay nhiều doanh nghiệp trong ban giám đốc của một hãng. Kiêm nhiệm chức vụ bắt nguồn từ sự gắn bó về tài chính và sở hữu chung chứng khoán. Kiêm nhiệm chức vụ tùy trường hợp là kiêm nhiệm có tính liên kết ngang, dọc hay hỗn họp và cũng có thể gây ảnh hưởng hạn chế đến cạnh tranh. Chúng có the ảnh hưởng đến việc xây dựng chiến lược chung giữa các doanh nghiệp về giá. về phân chia thị trường. Kiêm nhiệm theo chiều dọc có thể dẫn đến việc không khuyến khích mở rộng các khu vực thị trường cạnh tranh giữa người cung cấp và khách hàng. Liên kết giữa ban giám đốc các công ti tài chính và các công ti không trong lĩnh vực tài chính có thể dẫn tới việc phân biệt đối xử trong việc cung cấp tài chính cho các đối thủ cạnh tranh.

Kiêm nhiệm chức vụ không được kiểm soát có thê sẽ được sử dụng như một công cụ nhằm phá vỡ bất cứ một văn bản luật nào được xây dựng dù tốt đến mấy và được áp dụng chặt chẽ đến mấy trong lĩnh vực hạn chê cạnh tranh.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến luật cạnh tranh, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật cạnh tranh - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Nhiệm vụ, quyền hạn thủ trưởng, cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh ?