Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900.6162

1. Nghị viện là gì?

Nghị viện là một loại hình thái của cơ quan lập pháp, do số lượng đại biểu nhất định trong nhân dân bầu ra mà hợp thành nhằm nắm giữ quyền lập pháp; các vị đại biểu này gọi là nghị sĩ, có thể thông qua bầu cử trực tiếp hoặc bầu cử gián tiếp mà sản sinh, cũng có thể là do nhà nước uỷ nhiệm.

2. Nguồn quy định về tổ chức và hoạt động của Nghị viện

Ở các nước, tùy vào các đặc điểm về mức độ, phạm vi khác nhau của Nghị viện, các nguồn quy định về tổ chức và hoạt động của Nghị viện có thể kể đến đó là các nguồn sau đây: Hiến pháp, các luật liên quan do Nghị viện ban hành, Nội quy Nghị viện và các cơ quan của Nghị viện, Bộ quy tắc ứng xử, thông lệ Nghị viện, quy tắc của chính đảng.

2.1. Hiến pháp

Đại đa số Hiến pháp các nước (nếu không nói là tất cả) đều có một chương riêng quy định về Nghị viện. Những quy định này là cơ sở để Nghị viện các nước ban hành các luật, bản nội quy về tổ chức, hoạt động, quy trình làm việc của Nghị viện. Với tính chất là đạo luật cơ bản của nhà nước, Hiến pháp các nước quy định về tổ chức và hoạt động của Nghị viện, chức năng của Nghị viện, quy trình lập pháp, quy trình lập ngân sách, quyền và trách nhiệm của nghị sĩ… Ngoài những quy định như trên, Hiến pháp của các nước còn là nguồn quy định về những quy trình và thủ tục khác của Nghị viện như về biên bản các phiên họp, về túc số cần thiết của các nghị sĩ để tiến hành các phiên họp, các kỳ nghỉ của Nghị viện và các thủ tục điểm danh v.v…

2.2. Các đạo luật

Ở hầu hết các quốc gia, nhiều đạo luật có những quy định liên quan đến tổ chức, hoạt động của Nghị viện, ví dụ như Luật ngân sách hoặc các đạo luật liên quan đến ngân sách nhà nước; các quy định điều chỉnh hành vi của những người làm việc trong khu vực công; Luật tiếp cận thông tin. Ở nhiều nước, hành vi của các nghị sĩ được điều chỉnh trong các luật như về các chức danh nhà nước, tránh xung đột lợi ích, kê khai tài sản, pháp luật hình sự, tài chính đảng, quyên góp vận động tranh cử.

Ngoài ra, ở một số nước khác, những quy định về tổ chức và hoạt động của Nghị viện còn được quy định cụ thể thành một đạo luật riêng biệt. Chẳng hạn, năm 1947 Nhật Bản đã ban hành Luật về Nghị viện (Diet Law) quy định về tổ chức và hoạt động của cả Thượng viện và Hạ viện. Thụy Điển cũng ban hành Luật về Nghị viện Thụy Điển (Riksdag Law).

2.3. Nội quy của Nghị viện và quy chế của các ủy ban

Nội quy của Nghị viện là văn bản do Nghị viện ban hành quy định về tổ chức nội bộ của Nghị viện và đặt ra những quy tắc về quy trình và thủ tục làm việc của Nghị viện. Trong mô hình Nghị viện tổ chức theo hình thức lưỡng viện, mỗi viện có quyền ấn định cho mình một bản nội quy riêng biệt.

>> Xem thêm:  Đại biểu dân cử là gì ? Khái niệm về đại biểu dân cử ?

Về mặt hình thức, nội quy của Nghị viện được xây dựng theo đúng quy trình ban hành văn bản luật, trừ yêu cầu về việc cơ quan hành pháp phải tiến hành các thủ tục ban hành và công bố văn bản. Về mặt nội dung, có thể coi nội quy của mỗi Nghị viện là một bản “Hiến pháp” của Nghị viện, quy định về cách thức tổ chức và phương thức tiến hành hầu hết các hoạt động của Nghị viện một cách rất chi tiết.

Phạm vi, quy mô điều chỉnh của Nội quy Nghị viện có khác nhau ở mỗi nước, nhưng điều quan trọng là nó phải bao quát được những nội dung cơ bản nhất nhằm đảm bảo sự vận hành hiệu quả của Nghị viện và cần được thông qua với sự đồng thuận của tất cả các bên trong Nghị viện. Nội dung của các bản nội quy này được cập nhật thường xuyên, đảm bảo theo sát với những yêu cầu của thực tế trong hoạt động của Nghị viện.

So sánh Nội quy Nghị viện một số nước

STT

Nội quy Nghị viện

Số điều

Số khoản

1

Quốc hội Pakistan

294

>1000

2

Hạ viện Pháp

164

712

3

Đông Timor

179

800

4

Slovenia

288

>700

5

Hạ viện Mỹ

110

Khoảng 500

6

Hạ viện Philippines

143

Không có khoản

7

Việt Nam

47

123

Bên cạnh Nội quy Nghị viện, thông thường, mỗi ủy ban chuyên môn của Nghị viện cũng có quy chế hoạt động của riêng mình. Những bản quy chế này chủ yếu điều chỉnh quy trình, thủ tục các hoạt động, công việc của ủy ban, ví dụ các bước cụ thể tiến hành một phiên điều trần; hoặc phân công công việc nội bộ của ủy ban, ví dụ của chủ nhiệm ủy ban, các thành viên ủy ban, giữa các tiểu ban với nhau…

2.4. Bộ quy tắc ứng xử

Thời gian gần đây, việc xây dựng Bộ quy tắc ứng xử của nghị sĩ ngày càng phổ biến ở Nghị viện các nước. Đây là tập hợp những nguyên tắc và quy định không có tính cưỡng chế, bắt buộc như luật, làm định hướng cho nghị sĩ có hành vi đúng đắn trong những tình huống khó khăn về đạo đức. Bộ quy tắc ứng xử thường đề cập đến các nội dung lớn sau: kê khai tài sản, công khai, minh bạch các lợi ích của nghị sĩ; việc sử dụng các khoản kinh phí được cấp; quan hệ của nghị sĩ, nhất là đối với các nhà vận động hành lang; hành vi trong và ngoài Nghị viện; công việc sau khi rời nhiệm sở. Cũng cần lưu ý, các nguyên tắc, quy định đó phải nhất quán với khuôn khổ pháp lý hiện hành.

Mặc dù không có tính bắt buộc, bộ quy tắc ứng xử vẫn có tác dụng điều chỉnh hành vi của nghị sĩ, bởi lẽ khi mọi thành viên đều biết rõ các quy chuẩn đạo đức, họ sẽ nhận biết đúng sai và có khả năng tránh điều sai trái. Hơn nữa, một cá nhân sẽ ngại làm những điều phi đạo đức nếu biết rằng tất cả những người khác đều nhận thấy nó sai trái; sợ bị bắt gặp làm sai trong một môi trường coi trọng đạo đức.

2.5. Các quyết định có tính tiền lệ

Trong quá trình hoạt động của Nghị viện, với tính chất phức tạp vốn có, những thắc mắc hoặc tranh cãi về quy trình và thủ tục làm việc là không thể tránh khỏi. Đối với những trường hợp đó, Nghị viện phải thảo luận để đưa ra những quyết định về quy trình và thủ tục làm việc. Qua thời gian, những quyết định có tính chất điển hình cho từng tình huống của Nghị viện được tập hợp lại thành tập những quyết định có tính tiền lệ dùng để giải thích hoặc áp dụng quy trình và thủ tục làm việc của Nghị viện trong các trường hợp tương tự về sau.

Đối với những quốc gia có Nghị viện mang những nét truyền thống lâu đời thì các quyết định có tính tiền lệ của Nghị viện rất được chú ý tập hợp lại và sử dụng.

2.6. Quy tắc của các đảng chính trị

Mặc dù không phải là quy định có tính chất bắt buộc nhưng phần lớn các nghị sĩ của các Nghị viện trên thế giới đều thuộc một đảng phái chính trị nào đó. Hoạt động của Nghị viện cũng chịu những ảnh hưởng nhất định từ các hoạt động của các đảng phái chính trị trong Nghị viện.

Để tập hợp được lực lượng và thống nhất quan điểm đối với các quyết định của Nghị viện, các đảng phái chính trị có những nguyên tắc nhất định trong các hoạt động tại Nghị viện. Nhiều nguyên tắc của các đảng phái chính trị có những tác động đáng kể đến hoạt động của Nghị viện.

>> Xem thêm:  Cơ cấu tổ chức của Nghị viện và quy chế Nghị sĩ ở Pháp ?

2.7. Tập quán và truyền thống của Nghị viện

Nghị viện đã hình thành và phát triển qua nhiều thế kỷ. Với khoảng thời gian như vậy, có nhiều nguyên tắc hoạt động của Nghị viện đã trở thành truyền thống được tuân thủ mặc dù chúng không được ghi thành văn bản, không có ý nghĩa bắt buộc. Chẳng hạn, những thông lệ mang tính truyền thống đặc trưng đã làm nên sự hấp dẫn của Nghị viện Anh, nhưng những nét bảo thủ trong bốn bức tường cổ kính này đã khiến cho chính một thượng nghị sĩ Anh phát biểu: “Nghị viện thế kỷ 21 không có chỗ cho những người mang những danh hiệu từ thế kỷ 15 và có những suy nghĩ từ thế kỷ 19”.

3. So sánh Quốc hội và Nghị viện

3.1. Giống nhau:

– Đều là cơ quan đại diện tối cao của nhân dân, đều do dân bầu ra. Cả hai đều nắm quyền lập pháp và quyền quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước mình do Hiến pháp quy định.

– Đều thành lập các ủy ban của Quốc hội hay Nghị viện nhắm giám sát các hoạt động của Chính phủ.

– Làm ra tất cả các luật cần thiết để cho Hiến pháp có hiệu lực Quốc hội hay Nghị viện quyết định quyết định kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của đất nước; quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quyết định dự toán ngân sách Nhà nước; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các loại thuế.

– Quốc hội hay Nghị viện quyết định vấn đề chiến tranh hay hòa bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia.

– Hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đại đa số.

3.2. Khác nhau:

– Theo Hiến pháp năm 2013 quy định: Quốc hội có quyền bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, bãi bỏ các văn bản do Chủ tịch nước ban hành.

– Tại Hoa Kỳ, Tổng thống Hoa Kỳ do nhân dân bầu ra, đồng thời Tổng thống có quyền phủ quyết các đạo luật do Nghị viện ban hành.

>> Xem thêm:  Nghị viện là gì ? Khái niệm nghị viện được hiểu như thế nào ?

Nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước đơn nhất áp dụng cơ cấu một viện, chính vì thế nhân dân bầu ra đại biểu Quốc hội trong cuộc tổng tuyển cử.

Hợp chủng quốc Hoa Kỳ theo cơ cấu lưỡng viện nên dân chúng bầu ra thành viên của Hạ viện, còn thượng viện thì phân bổ theo số lượng từng bang – mỗi bang có hai thượng nghị sĩ.

Kết luận: Như vậy quốc hội hay nghị viện là cơ quan cao nhất của nhà nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, quyết định những vấn đề quan trọng của nước nhà. Việc đi sâu tìm hiểu nghiên cứu các vấn đề trên đây khiến cho nhận thức và hiểu biết đúng đắn hơn về tổ chức và hoạt động của cơ quan đứng đầu mỗi quốc gia.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về nội dung "Nguồn các quy định về tổ chức và hoạt động của Nghị viện là gì". Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập

>> Xem thêm:  Ủy ban thường vụ Quốc hội là gì ? Quy định về Ủy ban thường vụ Quốc hội ?

Câu hỏi thường gặp về nghị viện

Câu hỏi: Chế độ nhất viện là gì?

Trả lời:

Chế độ nhất viện chỉ chế độ mà nghị viện chỉ xếp đặt một viện (để thương lượng) và do nó sử dụng và thực thi toàn bộ chức quyền của nghị viện.

Câu hỏi: Chế độ lưỡng viện là gì?

Trả lời:

Chế độ lưỡng viện chỉ chế độ mà nghị viện xếp đặt hai viện và do hai viện sử dụng và thực thi chức quyền của nghị viện.

Câu hỏi: Chế độ lưỡng viện hình thành khi nào?

Trả lời:

Chế độ lưỡng viện bắt nguồn vào thế kỉ XIV ở Vương quốc Anh lúc vua Edward III còn ở ngôi vua, nắm giữ triều chính. trong nghị viện bao gồm đại biểu bốn phía quý tộc, tăng lữ, kỵ sĩ và cư dân thành phố, bởi vì chênh lệch lợi ích và địa vị, đại quý tộc và đại tăng lữ kết hợp cùng nhau, kị sĩ, bình dân và tiểu quý tộc, tăng lữ cấp dưới cũng kết hợp cùng nhau.

Đại biểu của hai bộ phận này tách ra tập hợp, liền dần dần hình thành chế độ lưỡng viện.