Trả lời:

1. Thủ tục thông báo để chấm dứt hợp đồng lao động xác định thời hạn khi hết thời hạn hợp đồng

Trừ trường hợp người lao động là thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đang trong nhiệm kỳ mà hết thời hạn hợp đồng lao động thì phải được gia hạn hợp đồng lao động đã giao kết cho đến hết nhiệm kỳ, đối với các trường hợp còn lại, người sử dụng lao động có thể tiến hành các bước thủ tục sau đây để chấm dứt hợp đồng lao động xác định thời hạn khi hợp đồng lao động hết hạn:

- Khi hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động sẽ thông báo cho người lao động bằng văn bản về thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động (Khoản 1, điều 34 và Khoản 3, điều 177 Bộ luật lao động năm 2019 và Khoản 1, điều 45 Bộ luật lao động năm 2019).

- Trong vòng 14 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, các bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trong trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài thời hạn nhưng không được quá 30 ngày; và

- Các “trường hợp đặc biệt” có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày bao gồm:

(i) người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động;

(ii) Thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế;

(iii) Chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng quyển sở hữu, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã; và

(iv) Do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh nguy hiểm.

 

2. Các rủi ro pháp lý có liên quan đến việc thông báo chấm dứt hợp đồng lao động xác định thời hạn khi hết thời hạn hợp đồng

Khi hợp đồng lao động xác định thời hạn đã hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong vòng 30 ngày kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, các bên phải giao kết hợp đồng lao động mới; nếu không giao kết thì hợp đồng lao động đã giao kết sẽ trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn.

Nếu người sử dụng lao động không trả hoặc trả không đủ tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm (nếu có) cho người lao động theo thời hạn được quy định tại khoản 1, điều 48 Bộ luật Lao động năm 2019; người sử dụng lao động không hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại những giấy tờ khác đã giữ của người lao động sau khi chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 48.3 Bộ luật Lao động thì sẽ có thể bị phạt tiền theo một trong các mức sau đây:

* Từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng với vi phạm từ 01 đến 10 người lao động;

* Từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng với vi phạm từ 11 đến 50 người lao động;

* Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng với vi phạm từ 51 đến 100 người lao động;

* Từ 10.000.000 đóng đến 15.000.000 đồng với vi phạm từ 101 đến 300 người lao động; và

* Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên (Khoản 1, điều 20 Bộ luật lao động năm 2019 và Khoản 1, điều 11 Nghị định 28/2020/NĐ-CP của Chính phủ ngày 01/03/2020).

Mức phạt tiền nêu trên chỉ áp dụng đối với người sử dụng lao động nào là cá nhân. Còn đối với người sử dụng lao động là tổ chức thì mức phạt sẽ bằng 02 lần mức phạt tiền áp dụng đối với người sử dụng lao động là cá nhân (Khoản 1, điều 5 Nghị định 28/2020/NĐ-CP của Chính phủ ngày 01/03/2020).

Vì vậy, để tránh rủi ro pháp lý được nêu ở trên, khi chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động phải thường xuyên theo dõi các hợp đồng lao động sắp hết hạn và báo sớm cho người lao động nếu không muốn tái ký hợp đồng lao động cũng như phải đảm bảo việc thanh toán cho người lao động các khoản trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc và hoàn trả các tài sản khác cho người lao động (nếu có) theo quy định của Bộ luật Lao động.

Nguồn: https://phuoc-associates.com/