1. Người già phạm tội thì có được giảm nhẹ tội không ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Câu hỏi :

Thưa luật sư, Tôi có câu hỏi thắc mắc mong luật sư tư vấn giúp

Bố tôi năm nay đã 73 tuổi, cách đây vài ngày bố tôi có thực hiện hành vi hiếp dâm với một bé gái 15 tuổi(đang học lớp 9) , cụ thể là bé có tổn thất về mặt tinh thần, nhà tôi đã sang nhà cháu để thỏa thuận và gia đình họ có đòi bồi thường là 2 tỷ đồng. Vậy bố tôi bị phạm phải tội gì, khung hình phạt phải chịu là bao nhiêu và bố tôi đã già thì có được giảm nhẹ án không? Mức đòi bồi thường có khỏi cao quá so với quy định của pháp luật không ?

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Trả lời :

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến Luật Minh Khuê , câu hỏi của bạn được đội ngũ luật sư của chúng tôi tổng hợp và biên tập như sau :

1.Bố tôi bị phạm phải tội gì, mức án phải chịu là bao nhiêu và bố tôi có được giảm nhẹ án không?

Như bạn đã trình bày ở trên bố bạn đã phạm phải tội hiếp dâm ngừoi dưới 16 tuổi căn cứ theo khoản 1 điều 142 Bộ luật Hình sự 2015 quy định :

>> Xem thêm:  Quy định về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trong xử phạt hành chính ?

Điều 142. Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ;

b) Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Có tính chất loạn luân;

b) Làm nạn nhân có thai;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

d) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

đ) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

e) Phạm tội 02 lần trở lên;

g) Đối với 02 người trở lên;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Có tổ chức;

b) Nhiều người hiếp một người;

c) Phạm tội đối với người dưới 10 tuổi;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

đ) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

e) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

g) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Tuy nhiên, trong trường này bố bạn đã 73 tuổi do đó căn cứ pháp lý theo điểm O khoản 1 điều 51 bộ luật hình sự 2015 quy định:

Điều 51. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

a) Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;

c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

đ) Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;

e) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;

g) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

h) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

i) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

k) Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;

l) Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;

m) Phạm tội do lạc hậu;

n) Người phạm tội là phụ nữ có thai;

o) Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;

p) Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;

q) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

r) Người phạm tội tự thú;

s) Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải;

t) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện hoặc điều tra tội phạm;

u) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

v) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;

x) Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ, người có công với cách mạng.

2. Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.

3. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.

2.Mức đòi bồi thường có khỏi cao quá so với quy định của pháp luật không ?

>> Xem thêm: Bị công an giữ bằng lái xe sau 1 năm có lấy lại được không ?

Căn cứ theo Khoản 2 điều 590 Bộ luật Dân sự 2015 quy định :

Điều 590. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

d) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Theo nghị quyết 86/2019/QH14 thì từ ngày 1/7/2020 thì mức lương cơ sở được Nhà nước quy ssịnh là 1,6 triệu đồng/ tháng . Do đó gia đình bạn chỉ phải bồi thường với số tiền khoảng 80 triệu đồng trở xuống .

2.Quan điểm khác nhau khi áp dụng

>> Xem thêm: Mẫu đơn xin giảm nhẹ hình phạt, đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Kể từ ngày có công văn giải thích “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” việc hiểu và áp dụng được thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng khi giải quyết án. Tuy nhiên, thực tiễn việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS này trong từng vụ án cụ thể còn có những quan điểm khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, giữa những người tiến hành tố tụng, dẫn đến việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” không chính xác, nên quyết định hình phạt chưa đạt được mục đích của hình phạt.

Có quan điểm cho rằng: BLHS quy định “các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt”. Nghĩa là, nếu các tình tiết giảm nhẹ đã là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS, còn nếu không thuộc dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS nếu có. Như vậy, nếu bị cáo phạm tội lần đầu (yếu tố thứ nhất như công văn hướng dẫn) và gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy đến 3 năm tù (yếu tố thứ hai) thì phải áp dụng tình tiết giảm nhẹ “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” cho bị cáo không phân biệt bị cáo phạm tội gì.

Quan điểm của tác giả: Công văn số 01/2017 đã giải thích rất rõ thế nào là “phạm tội lần đầu” và “phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, nhưng không phải bị cáo phạm bất kỳ tội gì nếu bị cáo có đủ 2 yếu tố nêu trên thì áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS. Cần phải xem xét đánh giá các yếu tố khác. Bởi lẽ, có rất nhiều điều trong BLHS quy định khoản 1 có khung hình phạt cao nhất đến 3 năm tù, nếu hành vi phạm tội kéo dài, ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội; đối tượng phạm tội được xã hội quan tâm, bảo vệ; hành vi phạm tội của bị can, bị cáo có tính chất côn đồ, cố tình thực hiện tội phạm đến cùng; hành vi của bị can, bị cáo vi phạm đạo đức bị dư luận xã hội lên án mạnh mẽ… thì mặc dù bị cáo có đủ hai yếu tố như hướng dẫn của công văn nhưng không áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

>> Xem thêm:  Hệ thống hình phạt và phân loại hình phạt trong pháp luật hình sự

Ví dụ: Bị cáo Trần Văn A phạm “Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” theo khoản 1 Điều 146 BLHS. Bị cáo A phạm tội lần đầu; khoản 1 Điều 146 BLHS có khung hình phạt đến 3 năm tù “thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”. Mặc dù bị cáo A có đầy đủ 2 yếu tố như công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 hướng dẫn, nhưng vì đối tượng phạm tội trẻ em, được Nhà nước, xã hội và công dân có trách nhiệm chăm sóc và bảo vệ, người phạm tội này gây bức xúc, dư luận xã hội lên án mạnh mẽ nên A không được áp dụng tình tiết phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

>> Xem thêm: Trách nhiệm hình sự là gì ? Phân tích đặc điểm của trách nhiệm hình sự ?

Để bảo vệ danh dự, nhân phẩm, sức khỏe cho trẻ em và ngăn ngừa loại tội phạm này Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 18/CT-Tgg ngày 16/5/2017 đề nghị TANDTC, VKSNDTC chỉ đạo Tòa án, Viện kiểm sát các cấp xử lý nghiêm các vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em.

Hay như “Tội giết hoặc vứt con mới đẻ” quy định tại Điều 124 BLHS. Khoản 1 Điều 124 BLHS quy định có mức hình phạt cao nhất là 3 năm tù. Người mẹ phạm tội lần đầu nhưng đã thực hiện tội phạm xâm phạm vào quyền được sống của con người, đạo đức xã hội, xâm phạm đến những quy định của luật pháp quốc tế về nhân quyền, Công ước quốc tế về quyền trẻ em. Nhà làm luật đã xem xét về khả năng nhận thức và hoàn cảnh của người mẹ, phong tục, tập quán, tư tưởng lạc hậu mới dẫn đến giết con hoặc vứt con dẫn đến chết đã quy định mức cao nhất của tội này là 03 năm và trong trường hợp này người mẹ không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ‘‘phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng’’ bởi vì đối tượng phạm tội được toàn xã hội quan tâm, bảo vệ và hành vi giết hoặc vứt con mới đẻ bị dư luận xã hội đặc biệt lên án.

Đối với tội trộm cắp tài sản. Ví dụ: Nguyễn Văn B 7 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, trong khoảng thời gian 1 tháng tại một địa phương. Trong đó, có 6 lần trộm cắp tài sản dưới 2.000.000đ (những lần này chưa bị xử phạt hành chính), một lần trộm cắp tài sản có giá trị 40.000.000đ. Tổng tài sản chiếm đoạt là 47.000.000đ và đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn tại địa phương. Như vậy, B đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS. Trong trường hợp này, Nguyễn Văn B thực hiện hành vi trộm cắp được xác định là “phạm tội lần đầu” và có khung hình phạt cao nhất đến 3 năm tù “thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, nhưng B đã nhiều lần trộm cắp tài sản, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, vì vậy Nguyễn Văn B không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ ‘‘Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng’’.

Đối với tội “Đào ngũ”: Ví dụ: Trần Văn S tự ý rời bỏ đơn vị nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự, bị đơn vị xử lý kỷ luật về hành vi “đào ngũ”. Sau đó S tiếp tục tự ý rời bỏ đơn vị và không trở lại đơn vị. S bị bắt theo lệnh truy nã và bị xét xử về tội “Đào ngũ” theo khoản 1 Điều 402 BLHS. Trong vụ án này, mặc dù Trần Văn S “phạm tội lần đầu” và “có khung hình phạt cao nhất là 3 năm tù”, nhưng hành vi của S đã được đơn vị xử lý kỷ luật, giáo dục, đáng lý ra S phải lấy đó làm bài học mà rèn luyện, an tâm công tác nhưng S tiếp tục thực hiện hành vi đào ngũ dẫn đến phạm tội. Hành vi phạm tội của Trần Văn S đã xâm phạm đến sức mạnh chiến đấu của quân đội, ảnh hưởng đến việc hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị. Do đó, không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ‘‘Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng’’quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS cho Trần Văn S.

Như vậy, qua phân tích và nêu ra một số ví dụ, quan điểm của tác giả cho rằng dù người phạm tội có đủ hai yếu tố theo hướng dẫn của Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017, cũng không phải áp dụng cho tất cả các tội mà tùy vào từng tội cụ thể. Người phạm tội tuy đủ hai yếu tố “Phạm tội lần đầu” và “Thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” nhưng phạm tội với lỗi cố ý, hành vi phạm tội bị dư luận xã hội bức xúc, lên án, đối tượng phạm tội được toàn xã hội quan tâm, bảo vệ hoặc hành vi phạm tội gây mất trật tự, an ninh, an toàn xã hội; có tính chất côn đồ, cố tình thực hiện tội phạm đến cùng; đã bị xử phạt hành chính, xử lý kỷ luật là dấu hiệu định tội …thì không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” để giảm nhẹ hình phạt.

3. Một số ý kiến về tình tiết giảm nhẹ

Cơ quan có thẩm quyền cần hướng dẫn để áp dụng thống nhất tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ‘‘phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng’’quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 theo hướng, chỉ áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS này khi thỏa mãn các điều kiện đó là:

- Phạm tội lần đầu;

- Phạm tội gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội phạm ấy là đến 3 năm tù;

- Không thuộc các trường hợp: Hành vi phạm tội bị dư luận xã hội bức xúc, lên án; đối tượng phạm tội được toàn xã hội quan tâm, bảo vệ hoặc hành vi phạm tội gây mất trật tự, an ninh, an toàn xã hội; có tính chất côn đồ, cố tình thực hiện tội phạm đến cùng; đã bị xử phạt hành chính, xử lý kỷ luật là dấu hiệu định tội.

>> Xem thêm: Bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết ?

4.Các tình tiết phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội

– Người phạm tội là phụ nữ có thai (Điểm n Khoản 1 Điều 51 BLHS): Đây là trường hợp người phụ nữ phạm tội trong thời gian đang mang thai. Tình tiết này được quy định chủ yếu là xuất phát từ chính sách nhân đạo nhưng cũng có phần là do tình trạng sức khỏe và tình trạng tâm sinh lí của người phụ nữ có thể bị ảnh hưởng khi mang thai.

– Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên (Điểm o Khoản 1 Điều 51 BLHS): Việc quy định tình tiết này là tình tiết giảm nhẹ xuất phát chủ yếu từ nguyên tắc nhân đạo và có tính đến đặc điểm tâm sinh lí ở lứa tuổi này.

– Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng (Điểm p Khoản 1 Điều 51 BLHS): Việc quy định tình tiết này xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo đối với người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng.

– Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ (Điểm x Khoản 1 Điều 51 BLHS): Việc quy định tình tiết này chủ yếu xuất phát từ chính sách của nhà nước đối với người có công với cách mạng và thân nhân của liệt sĩ trong các cuộc kháng chiến bảo vệ tổ quốc.

Ngoài các tình tiết được quy định tại Khoản 1 Điều 51 BLHS được kể trên, tòa án còn có thể xác định tình tiết khác như tình tiết đầu thú là tình tiết giảm nhẹ TNHS nhưng phải ghi rõ trong bản án (Khoản 2 Điều 51 BLHS).

>> Xem thêm: Tội giết người với lỗi cố ý nhưng phạm tội chưa đạt thì xử lý thế nào ?

5.Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội

– Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm (Điểm a Khoản 1 Điều 51 BLHS): Đây là trường hợp người phạm tội đã thực hiện tội phạm và nếu không có gì ngăn cản thì tác hại của tội phạm sẽ xảy ra hoặc xảy ra lớn hơn nhưng người phạm tội đã ngăn chặn không để cho tác hại xảy ra hoặc đã hạn chế được tác hại của tội phạm.

– Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả (Điểm b Khoản 1 Điều 51 BLHS): Đây là trường hợp người phạm tội đã gây ra hậu quả thiệt hại và đã tự nguyện (không phải vì bị ép buộc) thực hiện các hành vi khắc phục hậu quả của tội phạm là sửa chữa tài sản bị hư hỏng, bồi thường về vật chất thiệt hại về tài sản, thể chất, tinh thần hoặc có những hành vi khác khắc phục hậu quả của tội phạm.

– Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn (Điểm h Khoản 1 Điều 51 BLHS): Trường hợp phạm tội có tình tiết này giống trường hợp phạm tội có tình tiết ngăn chặn, làm bớt tác hại của tội phạm ở chỗ thiệt hại của tội phạm không xảy ra hoặc xảy ra không lớn nhưng khác nhau ở nguyên nhân dẫn đến việc không xảy ra thiệt hại hoặc xảy ra thiệt hại không lớn. Trường hợp chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn có nguyên nhân là nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người phạm tội; còn trong trường hợp ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm, người phạm tội đã có hành động tích cực để có được kết quả đó.

>> Xem thêm: Nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội ?

– Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng (Điểm i Khoản 1 Điều 51 BLHS): Đây là trường hợp lần đầu tiên phạm tội và tội phạm đã được thực hiện phải là loại tội phạm ít nghiêm trọng hoặc là tội phạm nghiêm trọng nhưng phải thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

– Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điểm c Khoản 1 Điều 51 BLHS): Đây là trường hợp phạm tội có động cơ là phòng vệ. Hành vi phạm tội xảy ra là do người phòng vệ đã vượt quá giới hạn luật cho phép.

– Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết (Điểm d Khoản 1 Điều 51 BLHS): Đây là trường hợp phạm tội có tính chất tương tự như trường hợp trên.

– Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (Điểm đ Khoản 1 Điều 51 BLHS): Người phạm tội trong trường hợp này có động cơ bắt giữ người phạm tội nhưng khi thực hiện việc này họ đã dùng vũ lực gây thiệt hại cho người bị bắt giữ vượt quá mức cần thiết.

– Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra (Điểm e Khoản 1 Điều 51 BLHS): Đây là trường hợp người phạm tội thực hiện tội phạm trong tình trạng bị hạn chế về khả năng kiểm soát và khả năng điều khiển hành vi do tác động của hành vi trái pháp luật của nạn nhân.

– Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra (Điểm g Khoản 1 Điều 51 BLHS): Đây là trường hợp người phạm tội thực hiện tội phạm vì bị chi phối bởi hoàn cảnh đặc biệt khó khăn do khách quan đưa lại. Trong đó, hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được hiểu là hoàn cảnh khó khăn hơn nhiều so với mức bình thường, có thể do thiên tại, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn hoặc do nguyên nhân khách quan khác.

– Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức (Điểm k Khoản 1 Điều BLHS): Đây là trường hợp phạm tội do bị chi phối bởi ý chí của người khác thông qua hành vi đe dọa hoặc cưỡng bức. Do bị đe dọa hoặc cưỡng bức nên người phạm tội không hoàn toàn tự do lựa chọn, điều khiển hành vi của mình mà bị buộc phải thực hiện tội phạm theo ý chí của người có hành vi đe dọa hoặc cưỡng bức. Đe dọa trong trường hợp này được hiểu là đe dọa sẽ gây thiệt hại như dọa sẽ gây thương tích, dọa sẽ hủy hoại tài sản… nếu người bị đe dọa không thực hiện tội phạm theo ý muốn của mình. Cưỡng bức là hành vi dùng vũ lực uy hiếp tinh thần người khác để buộc họ phải thực hiện tội phạm theo ý muốn của mình như đánh đập hoặc giam giữ người bị cưỡng bức…

– Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra (Điểm l Khoản 1 Điều 51 BLHS): Người phạm tội trong trường hợp này đã thực hiện tội phạm trong tình trạng bị hạn chế khả năng nhận thức hành vi và tình trạng này không phải do lỗi của chủ thể như do bị lừa dối nên đã sử dụng nhầm chất kích thích mạnh.

– Phạm tội do lạc hậu (Điểm m Khoản 1 Điều 51 BLHS): Đây là trường hợp phạm tội trong đó người phạm tội do trình độ nhận thức lạc hậu nên có sự nhận thức hạn chế tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi và do vậy đã thực hiện tội phạm.

– Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình (Điểm q Khoản 1 Điều 51 BLHS): Đây là trường hợp phạm tội mà chủ thể đã phạm tội khi đang trong tình trạng bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc bị hạn chế khả năng điều khiển hành vi do mắc bệnh.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác của quý khách.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hành chính - Công ty luật Minh Khuê

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Trách nhiệm phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạ ?

Trả lời:

1. Cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và các cơ quan hữu quan khác có trách nhiệm thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, đồng thời hướng dẫn, giúp đỡ các cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức, cá nhân phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, giám sát và giáo dục người phạm tội tại cộng đồng.

2. Cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ giáo dục những người thuộc quyền quản lý của mình nâng cao cảnh giác, ý thức bảo vệ và tuân theo pháp luật, tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa; kịp thời có biện pháp loại trừ nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm trong cơ quan, tổ chức của mình.

3. Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực tham gia phòng, chống tội phạm.

Câu hỏi: Cơ sở của trách nhiệm hình sự

Trả lời:

1. Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

2. Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

Câu hỏi: Nguyên tắc xử lý trong bộ luật Hình sự ?

Trả lời:

1. Đối với người phạm tội:

a) Mọi hành vi phạm tội do người thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật;

b) Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội;

c) Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

d) Nghiêm trị người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn, hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra;

đ) Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục;

e) Đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt tại các cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ có đủ điều kiện do Bộ luật này quy định, thì có thể được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện;

g) Người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì được xóa án tích.

2. Đối với pháp nhân thương mại phạm tội:

a) Mọi hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật;

b) Mọi pháp nhân thương mại phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế;

c) Nghiêm trị pháp nhân thương mại phạm tội dùng thủ đoạn tinh vi, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;

d) Khoan hồng đối với pháp nhân thương mại tích cực hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra, chủ động ngăn chặn hoặc khắc phục hậu quả xảy ra.