1. Các trường hợp được hoãn phiên tòa khi ly hôn đơn phương ?

Thưa Luật sư. Tôi và vợ tôi hiện đang giải quyết ly hôn ở Tòa án. Tòa án đã hòa giải 3 lần, hiện đã có quyết định xét xử. Đến ngày xét xử thì vợ tôi không đến và Tòa án hoãn phiên Tòa. Vậy Luật sư cho tôi hỏi Tòa án sẽ được hoãn phiên Tòa trong những trường hợp nào?
Xin cảm ơn Luật sư.

Luật sư tư vấn:

1.1 Các trường hợp được hoãn phiên Tòa xét xử sơ thẩm:

Căn cứ theo khoản 1, điều 233, Bộ Luật tố tụng dân sự 2015 quy định:

Điều 233. Thời hạn hoãn phiên tòa và quyết định hoãn phiên tòa

1. Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 56, khoản 2 Điều 62, khoản 2 Điều 84, Điều 227, khoản 2 Điều 229, khoản 2 Điều 230, khoản 2 Điều 231 và Điều 241 của Bộ luật này...

Cụ thể thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa trong các trường hợp sau:
- Trường hợp phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa (theo quy định tại khoản 2 Điều 56, Bộ Luật tố tụng dân sự 2015).
- Trường hợp phải thay đổi Kiểm sát viên thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa (theo quy định tại khoản 2 Điều 62, Bộ Luật tố tụng dân sự 2015).
- Trường hợp phải thay đổi người giám định, người phiên dịch thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Hội đồng giải quyết việc dân sự ra quyết định hoãn phiên tòa, phiên họp (theo quy định tại khoản 2 Điều 84, Bộ Luật tố tụng dân sự 2015).
- Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa; nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt (khoản 1 Điều 227, Bộ Luật tố tụng dân sự 2015).
- Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; nếu vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (khoản 2 Điều 227, Bộ Luật tố tụng dân sự 2015).
- Trường hợp người làm chứng vắng mặt thì Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử hoặc hoãn phiên tòa… Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa nếu việc vắng mặt của người làm chứng tại phiên tòa gây khó khăn, ảnh hưởng đến việc giải quyết khách quan, toàn diện vụ án (khoản 2 Điều 229, Bộ Luật tố tụng dân sự 2015).
- Trường hợp người giám định vắng mặt thì Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử hoặc hoãn phiên tòa (khoản 2 Điều 230, Bộ Luật tố tụng dân sự 2015).
- Trường hợp người phiên dịch vắng mặt mà không có người khác thay thế thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa (khoản 2 Điều 231, Bộ Luật tố tụng dân sự 2015).
- Khi có người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa mà không thuộc trường hợp Tòa án phải hoãn phiên tòa thì chủ toạ phiên tòa phải hỏi xem có ai đề nghị hoãn phiên tòa hay không; nếu có người đề nghị thì Hội đồng xét xử xem xét, quyết định theo thủ tục do Bộ luật này quy định và có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận; trường hợp không chấp nhận thì phải nêu rõ lý do (khoản 2 Điều 241, Bộ Luật tố tụng dân sự 2015).

1.2 Hoãn phiên Tòa xét xử phúc thẩm:

Tại Điều 296 BLTTDS năm 2015 quy định Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa trong các trường hợp sau:
- Kiểm sát viên được phân công tham gia phiên tòa phúc thẩm vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, không hoãn phiên tòa, trừ trường hợp Viện kiểm sát có kháng nghị phúc thẩm.
- Người kháng cáo, người không kháng cáo nhưng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa. Trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì Tòa án tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt họ.
- Trường hợp người kháng cáo vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì phải hoãn phiên tòa.

1.3 Thời hạn hoãn phiên Tòa xét xử:

- Thời hạn hoãn phiên tòa là không quá 01 tháng, đối với phiên tòa xét xử vụ án theo thủ tục rút gọn là không quá 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa.

- Việc hoãn phiên Tòa phải lập thành văn bản và Quyết định hoãn phiên tòa phải được chủ tọa phiên tòa thay mặt Hội đồng xét xử ký tên và thông báo công khai tại phiên tòa; đối với người vắng mặt thì Tòa án gửi ngay cho họ quyết định đó, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp

>> Xem thêm:  Tư vấn quyền nuôi con khi ly hôn theo quy định mới năm 2020 ?

2. Ly hôn đơn phương khi chồng cá độ bóng đá, lô đề, cờ bạc ?

Thưa luật sư, Vừa qua đội tuyển bóng đá Việt Nam thi đấu trận AFF CUP, chồng em là một trong số những tên cá độ bóng đá khét tiếng ở địa phương em, rồi anh ấy thua cá cược, tài sản của gia đình cũng từ đó mà theo hết. Em rất chán, chúng em có mâu thuẫn và em muốn ly hôn đơn phương. Em không chịu đựng được nữa.
Cho em hỏi em có thể ly hôn theo yêu cầu của một bên không? Con em hiện tại 20 tháng tuổi thì em có được giành quyền nuôi con hay không?

Luật sư tư vấn:

Thứ nhất, Về quyền yêu cầu ly hôn:

Theo quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn như sau:

1. Vợ, chồng hoặc cẩ hai người yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Như vậy, trong trường hợp của bạn, bạn có quyền đưa đơn ra tòa án để yêu cầu tòa án giải quyết việc ly hôn.

Thứ hai, Căn cứ để tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bạn:

Tòa án căn cứ theo quy định và yêu cầu ly hôn của bạn (ly hôn đơn phương) để giải quyết theo thủ tục chung, cụ thể tại Điều 55 và 56 của Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

Điều 55. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trong nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần người kia.

Trong trường hợp của bạn thì người chồng đã có hành vi cá độ bóng đá, làm tài sản của gia đình bị thiệt hại,chồng bạn thường xuyên cơ bạc, lô đề khiến cho bạn không thể chịu đựng được nữa. Như vậy, đời sống chung vợ chồng đã xảy ra những mâu thuẫn trầm trọng khiến đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, cần có sự quyết định của tòa án để giải quyết vấn đề và khi bạn ra tòa nên đưa ra những chứng cứ cho những sự việc đó để tòa có cơ sở pháp lý giải quyết việc ly hôn của bạn.

Thứ ba, Về quyền trực tiếp nuôi con khi ly hôn:

Căn cứ quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con khi ly hôn:

" 1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghịa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ Luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì òa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ dduer 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Khi ly hôn, nếu hai bên vợ chồng thỏa thuận được về vấn đề nuôi con thì tòa án sẽ công nhận thỏa thuận đó. Nếu hai bên không tự thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết. Theo nguyên tắc, con dưới 36 tháng do người mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con.

Trường hợp này, theo thông tin mà bạn cung cấp thì ly hôn con của bạn dưới 36 tháng tuổi vì vậy theo quy định thì bạn sẽ là người trực tiếp nuôi con ( căn cứ khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014). Tuy nhiên, Tòa án sẽ xem xét và quyết định về vấn đề trực tiếp nuôi con dựa trên lợi ích của người con.

Trường hợp này, theo thông tin mà bạn đã cung cấp thì khi ly hôn con của bạn dưới 36 tháng tuổi vì vậy theo quy định thì bạn sẽ là người trực tiếp nuôi con ( căn cứ Khoản 3, Điều 81, Luật hôn nhân và gia đình 2014). Tuy nhiên, Tòa án sẽ xem xét và quyết định về vấn dề trực tiếp nuôi con dưa trên lợi ích của con.

Nếu bạn mong muốn trực tiếp nuôi con thì bạn phải chúng minh rằng mình đáp ứng được các điều kiện cơ bản phục vụ nhu cầu thiết yếu để có thể trực tiếp nuôi con: thu nhập ổn định, chỗ ở hợp pháp, thời gian chăm con....

Như vậy, muốn giành quyền nuôi con, bạn phải chứng minh mình có điều kiện nuôi con hơn chồng của bạn.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

3. Thủ tục Ly hôn đơn phương có phải hòa giải hay không ?

Tôi và chồng tôi chung sống vơi nhau đã được 10 năm, có 2 con chung một đứa 10 tuổi và một đứa 2 tuổi. Tuy nhiên chỉ có mình tôi ly hôn và chồng thôi hông đồng ý. Bây giời tôi có các nào ly hôn được không ?
Cảm ơn luật sư

Luật sư tư vấn:

Luật hôn nhân gia đình 2014 định nghĩa ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Như vậy, việc ly hôn giữa vợ và chồng được phát sịnh kể từ ngày có bản ns, quyết định có hiệu lực của tòa án. Đồng thời luật hôn nhân gia đình 2014 chưa công nhân việc ly thân của vợ và chồng.

Khi nào thì vợ, hoặc chồng được ly hôn?

Căn cứ Nghị địn 126/2014/NĐ-CP hướng dẫn luật hôn nhân gia đình vợ hoặc chồng đều có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp sau:

- Khi hai vợ chồng cùng yêu cầu thuận tình ly hôn, các bên đã thỏa thuân được với nhau về các vấn đề của đời sống hôn nhân như việc chia tài sản, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cái dựa trên cơ sở đảm bảo lợi ích chính đáng của các con thì tòa sẽ giải quyết việc ly hôn theo yêu cầu của vợ và chồng. nếu vợ và chồng thuận tình ly hôn nhưng chưa thỏa thuận được về các vấn đề liên quan đến tài sản và con cái thì có thể yêu cầu tòa giải quyết theo quy định của pháp luật

- Khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu tòa án giải quyết cho ly hôn (Ly hôn đơn phương) thì tòa sẽ xem xét giả quyết cho ly hôn nếu như vợ hoặc chồng có những hành vi bạo lực gia đình hoặc có những vi phạm nghiêm trọng vè quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Việc hòa giải khi ly hôn được thực hiện thế nào?

Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc ly hôn trước khi đưa ra xét xử. Việc hòa giải này pháp luật về tố tụng không quy định về thời gian cũng như số lần hòa giải nhưng thông thường tòa án sẽ triệu tập đương sự hòa giải hai lần mỗi lần thường cách nhau 15 ngày. Với mỗi lần hòa giải, thẩm phán sẽ lập biên bản và kết quả hòa giải sẽ là một trong những căn cứ để tòa xem xét có đưa vụ việc ra xét xử hay không

Tài sản của vợ chồng được phân chia thế nào khi ly hôn?

Pháp luật tôn trọng sự thỏa thuận của các bên nên nếu trong trường hợp vợ chông thuận tình ly hôn và thỏa thuận được với nhau về việc phân chia tài sản khi ly hôn, tòa án sẽ công nhận sự thỏa thuận của vợ chồng. Tuy nhiên nếu vợ chồng không thể thỏa thuận được việc phân chia tài sản này thì việc phân chia tài sản được tòa án phân chia như sau:

Về nguyên tắc: tài sản của vợ chồng phát sinh trong thời kỳ hôn nhân (nếu không có thỏa thuận khác) sẽ là tài sản chung của vợ chồng được chia đôi khi ly hôn và có tính đến một số yếu tố sau:

- Hoàn cảnh của gia đinh, của vợ, của chồng

- Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập

- Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

- Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Như vậy, với tài sản chung của vợ và chồng, tòa án sé dựa và những yếu tố thực tế để phân chia tài sản chung của vợ hoặc chồng.

Cách xác định tài sản chung hay riêng của vợ và chồng

Tài sản chung của vợ và chồng bao gồm các tài sản sau:

- Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

- Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng

- Tài sản riêng của vợ và chồng nhưng đã được sáp nhập vào tài sản chung

Tài sản riêng của vợ và chồng bao gồm các tài sản sau:

- Tài sản mà vợ chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng (kể cả quyền sử dụng đất)

- Tài sản của vợ, chồng có được từ trước khi đăng ký kết hôn và không có thỏa thuận nhập vào khối tài sản chung của vợ, chồng

Tuy nhiên trong trường hợp vợ chồng không có chứng cứ chứng minh đó là tài sản chung hay riềng thì tài sản đó được tính là tài sản chung của vợ và chồng.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

4. Thủ tục ly hôn đơn phương và Mẫu đơn xin ly hôn đơn phương ?

Thưa luật sư. Tôi có thắc mắc muốn được luật sư giải đáp và tư vấn: Vợ của anh trai tôi đã làm đơn xin ly hôn. Nhưng lại không có đưa đơn viết tay để anh trai tôi ký. Mà toà án nhân dân huyện tôi đã gửi giấy triệu tập. Luật sư cho tôi biết như vậy có đúng với trình tự pháp luật không? Anh trai tôi có nên xuống theo giấy triệu tập của tòa án không? Và trong quá trình xét xử việc ly hôn đó tôi là em trai có thể đại diện biện hộ anh trai tôi không ?
Cảm ơn!

Trả lời:

Trong trường hợp này nếu vợ của anh bạn đã làm đơn xin ly hôn mà không có kí của anh trai bạn thì có thể hiểu đây là trường hợp chị ấy xin ly hôn đơn phương và theo quy định thì tòa án vẫn được thụ lý đơn ly hôn theo yêu cầu của một bên nếu có đủ căn cứ cho thấy cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài được nữa:

4.1 Thủ tục xin ly hôn đơn phương.

Khi mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét cho ly hôn. Nếu không đồng thuận tất cả các vấn đề liên quan (quan hệ hôn nhân, quyền nuôi con, cấp dưỡng, tài sản) thì thực hiện theo thủ tục đơn phương ly hôn, là việc ly hôn theo yêu cầu của một bên vợ hoặc chồng.

Pháp luật ly hôn đơn phương quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

+ Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

+ Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

+ Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Như vậy, để được Tòa án giải quyết cho ly hôn thì cần phải có căn cứ ly hôn.

Xác định Tình trạng hôn nhân trầm trọng không thể kéo dài:

+ Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

+ Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

+ Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;

Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt.

4.2 Thẩm quyền, hồ sơ và các bước thực hiện thủ tục đơn phương ly hôn

Cơ quan tiến hành thủ tục giải quyết ly hôn đơn phương

Về nguyên tắc, thẩm quyền của Tòa án giải quyết vụ án ly hôn sẽ được xác định trên cơ sở thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án đối với các vụ án dân sự.

+ Tòa án cấp quận/huyện nơi cư trú của bị đơn (người bị khởi kiện);

+ Trong trường hợp có yếu tố nước ngoài thì Tòa án cấp tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương.

Hồ sơ đơn phương ly hôn cần chuẩn bị như sau:

+ Đơn yêu cầu/đơn khởi kiện (Theo mẫu);

+ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

+ CMND và hộ khẩu;

+ Giấy khai sinh các con;

+ Các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh tài sản chung như: GCNQSDĐ (sổ đỏ); Đăng ký xe; Sổ tiết kiệm…

Các bước tiến hành thủ tục ly hôn đơn phương

Bước 1: Nộp hồ sơ khởi kiện về việc xin ly hôn tại TAND có thẩm quyền;

Bước 2: Nhận kết quả xử lý đơn;

Bước 3: Nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền và nộp lại biên lai tiền tạm ứng án phí đơn phương cho Tòa án;

Bước 4: Tòa án sẽ triệu tập lấy lời khai, hòa giải và tiến hành thủ tục theo quy định pháp luật Tố tụng dân sự;

Bước 5: Trong trường hợp, Tòa án không chấp nhận yêu cầu ly hôn, người yêu cầu ly hôn có quyền kháng cáo để Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Do đó việc Tòa án triệu tập người anh của anh là hoàn toàn đúng theo quy định của pháp luật.

4.3. Thủ tục đăng kí người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

+ Những người có thể trở thành người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Nội dung liên quan tới người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (Có hiệu lực từ ngày 01/07/2016).

Theo đó, những người sau đây được làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự khi có yêu cầu của đương sự và được Tòa án làm thủ tục đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự:

a) Luật sư tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật về luật sư;

b) Trợ giúp viên pháp lý hoặc người tham gia trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý;

c) Đại diện của tổ chức đại diện tập thể lao động là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong vụ việc lao động theo quy định của pháp luật về lao động, công đoàn;

d) Công dân Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không có án tích hoặc đã được xóa án tích, không thuộc trường hợp đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; không phải là cán bộ, công chức trong các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát và công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan trong ngành Công an.

Do đó anh có thể trở thành người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh trai mình nếu anh đủ điều kiện theo quy định tại điểm d khoản 2 điều 75 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

+ Thủ tục đăng kí trở thành người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Theo đó, khi đề nghị Tòa án làm thủ tục đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người đề nghị phải xuất trình các giấy tờ sau đây:

a) Luật sư xuất trình các giấy tờ theo quy định của Luật luật sư;

b) Trợ giúp viên pháp lý hoặc người tham gia trợ giúp pháp lý xuất trình văn bản cử người thực hiện trợ giúp pháp lý của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc thẻ luật sư;

c) Đại diện của tổ chức đại diện tập thể lao động xuất trình văn bản của tổ chức đó cử mình tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động, tập thể người lao động;

d) Công dân Việt Nam có đủ điều kiện quy định tại điểm d khoản 2 Điều này xuất trình giấy yêu cầu của đương sự và giấy tờ tùy thân.

Sau khi kiểm tra giấy tờ và thấy người đề nghị có đủ điều kiện làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 75 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị, Tòa án phải vào sổ đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và xác nhận vào giấy yêu cầu người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Trường hợp từ chối đăng ký thì Tòa án phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người đề nghị.

Theo đó trong trường hợp này thì anh bạn không thể ủy quyền cho bạn tham gia tố tụng trong trường hợp này được mà trực tiếp anh bạn phải tham gia.

>> Xem thêm:  Hướng dẫn viết đơn xin ly hôn như thế nào ? Giải quyết tranh chấp tài sản sau ly hôn ?

5. Vợ đang nuôi con dưới 12 tháng chồng có được ly hôn đơn phương ?

Chào luật sư, tôi kết hôn với vợ được 12 tháng vì bác sĩ bảo cưới. Tuy nhiên, khi con đẻ ra được 3 tháng thì tôi phạt hiện thằng bé không phải là con ruột của tôi., hiện nay bé được 4 tháng. Hai bên đã có sự to tiếng qua lại với nhau. Hiện nay, cuộc sống trong gia đình luôn căng thẳng mà tôi cũng không muốn tiếp tục kéo dài khoảng thời gian này nữa nên đã đề nghị với vợ để có thể tiến hành ly hôn nhưng cô ấy không đồng ý.
Vậy tôi có quyền được yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đơn phương cho tôi được không và khi ly hôn tôi có phải cấp dưỡng cho đứa bé không ?
Mong luật sư giải đáp giùm tôi!

Trả lời:

Ly hôn là việc chấm dứt mối quan hệ vợ chồng, loại bỏ các trách nhiệm trong hôn nhân giữa vợ và chồng căn cứ theo bản án, quyết định của Tóa án. Điều 51 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn:

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Theo đó, vợ và chồng đều có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Tuy nhiên, pháp luật có hạn chế quyền ly hôn của người chồng khi người vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng để bảo vệ quyền, lợi ích của người mẹ và đứa trẻ. Bên cạnh đó, luật không quy định người vợ có thai, sinh con và đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi phải là con ruột của người cha. Do đó, hiện nay bé mới được 4 tháng và bạn không có quyền yêu cầu ly hôn đơn phương với vợ.

Điều 88 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định về xác định cha, mẹ:

1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.

Như vậy, theo nguyên tắc, hiện nay đứa trẻ đang được xác định là con chung của vợ chồng, khi bạn không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định. Quy định của pháp luật chỉ hạn chế quyền ly hôn của người chồng nhưng không hạn chế quyền ly hôn của người vợ, vậy nên bạn có thể thỏa thuận với người vợ về việc ly hôn, nếu không, bạn sẽ phải đợi đến khi đứa bé đủ 12 tháng trở lên thì bạn mới có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn đơn phương. Việc ly hôn sẽ phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng cho con khi vợ chồng ly hôn theo quy định tại Điều 110 Luật hôn nhân gia đình năm 2014:

Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sông chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.

Mà mối quan hệ cha - con ở đây là con ruột hoặc con nuôi, cho nên, khi bạn không muốn thực hiện nghĩa vụ này, bạn cần có những chứng cứ để yêu cầu Tòa án xác nhận không có quan hệ cha con giữa bạn và đứa trẻ:

Hồ sơ khởi kiện bao gồm:

+ Đơn yêu cầu xác nhận không có quan hệ cha con;

+ Bản sao Giấy khai sinh của trẻ;

+ Bản sao CMND/CCCD/hộ chiếu của bạn;

+ Bản sao Sổ hộ khẩu;

+ Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

+ Các tài liệu, chứng cứ chứng minh không có quan hệ cha, con (Giấy xét nhiệm ADN,...)

Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của người mẹ.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền lợi của vợ và con khi vợ chồng ly hôn ? Ly hôn khi mắc bệnh lây nhiễm từ chồng ?