1. Căn cứ giành quyền nuôi con của vợ chồng sau khi ly hôn?

Thưa luật sư, xin hỏi: Vợ chồng tôi có với nhau 2 con chung, hiện tại cháu lớn đã được 6 tuổi và con thứ hai được tròn 03 tuổi. Luật sư cho tôi xin được hỏi khi chúng tôi ly hôn, tôi là mẹ có được quyền nuôi hai con. Tôi có đầy đủ điều kiện để có thể chăm sóc và giáo dục con nên người?
Tôi xin cảm ơn luật sư!

Các yếu tố để Tòa án xem xét quyết định giành quyền nuôi con của vợ chồng sau khi ly hôn

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900.0159

Trả lời:

Về nguyên tắc, việc nuôi con khi ly hôn do hai bên thỏa thuận, nếu không có thể yêu cầu tòa án giải quyết. Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và Gia đình 2014 quy định:

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Như vậy, nếu bạn có nguyện vọng được nuôi cả hai con thì bạn phải đưa ra các chứng cứ chứng minh với tòa án rằng bạn có đủ điều kiện tốt hơn chồng về mọi mặt để nuôi con giúp con phát triển tốt cả về thể chất lẫn tinh thần.

Các điều kiện đó bạn có thể tham khảo cụ thể như sau:

Chứng minh về tài chính:

Tòa án sẽ xem xét mức thu nhập bình quân hàng tháng của bạn, sự ổn định trong nghề nghiệp, nguồn thu nhập đó được tạo ra có hợp pháp hay không?…

Chứng minh về mặt đạo đức, nhân phẩm:

Tòa án sẽ xem xét cách giáo dục con cái của bạn qua lối sống, cũng như quan hệ của bạn đối với gia đình, đối với xã hội, đối với đồng nghiệp. Tình yêu thương của bạn dành cho con cũng là một yếu tố để xem xét.

Chứng minh về thời gian chăm sóc, giáo dục con

Tòa án sẽ xem xét điều kiện công việc của bạn có thường xuyên đi sớm, về muộn, bạn có đảm bảo để chăm sóc con khi cần thiết hay không?

Các điều kiện khác

- Các yếu tố về vật chất: Bạn cần chứng minh với tòa án rằng bạn sẽ đảm bảo cho con về nơi ăn, ở, đi lại học tập của con.

- Các yếu tố về tinh thần: Đó là điều kiện vui chơi giải trí giúp con phát triển lành mạnh, trong sáng.

Bạn cũng có quyền yêu cầu chồng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nếu yêu cầu nuôi con của bạn được tòa án chấp thuận. Điều này được quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và Gia đình 2014 như sau:

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

Như vậy, nếu bạn chứng minh được các điều kiện nêu ở trên thì việc bạn yêu cầu tòa án xem xét để chấp nhận quyền được nuôi con hoàn toàn có căn cứ để tòa án xem xét, giải quyết.

Đối với câu hỏi của bạn thì việc chứng minh được các điều kiện nêu ở trên là có đầy đủ điều kiện để nuôi dưỡng và chăm sóc con nên người có thể là yếu tố Tòa án xem xét quyết định trao quyền nuôi hai con cho bạn. Ngoài quyền nuôi con, bạn có quyền yêu cầu bên chồng hoặc vợ thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Theo đó:

Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau:

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Bên cạnh đó, theo Điều 110 Luật này quy định: “Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con”.

Về quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng: Điều 119 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về người có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

>> Xem thêm:  Khi ly hôn người vợ được hưởng quyền lợi gì không ? Ly hôn phải đóng những khoản phí gì ?

2. Tư vấn về việc chia tài sản sau khi ly hôn?

Thưa luật sư tôi có một thắc mắc như sau:Vợ chồng tôi lấy nhau được hơn hai năm. Trong quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn nên đã quyết định ly hôn. Chồng tôi ở Thanh Hoá còn tôi ở Hà Nội. Khi mới kết hôn vợ chồng tôi sống tại nhà tôi ở Hà Nội vì nhà ở Thanh Hoá đang xây dựng. Khi xây dựng xong vợ chồng tôi đã về sinh sống tại Thanh Hóa. Quyền sử dụng đất mang tên bố chồng tôi nhưng ngôi nhà là do vợ chồng tôi góp sức xây nên. Rồi những vật dụng trong nhà đều là do vợ chồng tôi sắm sửa từ bàn ghế, tivi... đều rất giá trị.
Vậy tôi muốn hỏi khi ly hôn tôi có được phân chia tài sản không?
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: N.H

Mẹ có được chia phần lớn tài sản khi ly hôn khi Ba thường xuyên cờ bạc ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân về ly hôn, gọi: 1900.0159

Trả lời:

Theo như điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng:

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Theo như thông tin bạn đưa ra thì bạn có nói là căn nhà đứng tên bố bạn nhưng vợ chồng bạn có công sức xây nên và hiện tại đồ đạc tài sản gắn liền với ngồi nhà đều do vợ chồng bạn sắm sửa.Việc bạn có được chia tài sản sau khi ly hôn trong trường hợp này hay không thì phải căn cứ vào quy định tại điều 61 Luật này:

Điều 61. Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình

1. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Mặt khác theo như điều 59 Luật này thì:

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn:

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Như vậy từ những phân tích trên thì sau khi bạn ly hôn thì bạn sẽ được chia một phần tài sản trong khối tài sản chung của gia đình bằng đúng phần giá trị tài sản mà bạn đóng góp vào khối tài sản chung này.

>> Xem thêm:  Chưa ly hôn đã tổ chức đám cưới với người khác thì xử lý thế nào ? Quyền nuôi con sau khi ly hôn ?

3. Ba thường xuyên cờ bạc, Mẹ có được chia phần lớn tài sản khi ly hôn?

Thưa luật sư, Xin hỏi: Phân chia tài sản Khi ly hôn Gia đình em có 4 người, Ba, mẹ em 21 tuổi và em gái 16 tuổi vẫn còn đi học Ba em đứng tên 2 chiếc xe máy, sổ đỏ ngôi nhà mọi người đang ở, và một chiếc xe tải.

Mẹ em đứng tên một mảnh đất. Và mẹ cho em đứng tên hoàn toàn một sổ tiết kiệm trị giá khoảng 1tỷ đồng. Nếu khi ly hôn, tài sản sẽ được chia như thế nào ạ? sổ tiết kiệm em đứng tên có phải chia cho ba mẹ em hay không? Nếu em và em gái đều theo mẹ thì mẹ em có được chia tài sản nhiều hơn không? Trong gia đình mẹ em là lao đông chính, Ba em vì bài bạc khuyên hoài không được nhiều lần về mắng chửi vợ con.

Xin luật sư tư vấn giúp em về việc chia tài sản. Em xin cám ơn

Tư vấn xin li hôn, chia tài sản và nuôi con?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.0159

Trả lời:

Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Theo quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì nguyên tắc phân chia tài sản chung như sau:

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng....."

Như vậy, xét trường hợp của bạn: bạn cần đối chiếu Điều 33 nêu trên để xác định đâu là tài sản chung, đâu là tài sản riêng. Từ đó, áp dụng theo nguyên tắc tại Điều 59 để chia tài sản. Đối với tài sản chung, nguyên tắc là chia đôi có xem xét đến các yếu tố tại khoản 2 điều này. Đối với tài sản riêng, thuộc quyền sở hữu riêng của từng người và không phải phân chia.

>> Bạn có thể tham khảo bài viết liên quan sau: Hướng dẫn phân chia tài sản khi ly hôn ?

>> Xem thêm:  Hạn chế quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn ? Chia tài sản khi ly hôn ?

4. Giải quyết vấn đề tranh chấp con cái sau khi ly hôn?

Thưa luật sư, Tôi và chồng tôi ở mỗi người một nơi. Thời gian gần đây chồng tôi thường sang gây sự đòi đánh hai mẹ con tôi. Tôi phải làm thế nào để sau khi ly hôn chông tôi không đến quậy hai mẹ con tôi?

Mọi người nói tôi phải làm đơn trình báo sự việc trên để có căn cứ giải quyết ly hôn - Liệu có đúng không? Tôi thì không biết viết đơn trình báo như thế nào. Hai vợ chồng tôi hộ khẩu khác nhau. Tôi có hộ khẩu ở Thanh Trì còn chồng tôi ở Thường Tín. Vậy tôi phải làm đơn trình báo như thế nào và nộp ở đâu?

Rất mong luật sư trợ giúp!

Người gửi: TT

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.0159

Trả lời:

Trường hợp chị và chồng chị chưa ly hôn và chồng chị thường xuyên sang gây sự đòi đánh đập mẹ con chị thì chị cần phải báo cho cơ quan công an địa phương nơi chị ở, để họ có các biện pháp ngăn chặn, giáo dục chồng chị.

Đồng thời, chị cũng phải làm các thủ tục ly hôn để Tòa án sớm giải quyết tình trạng này cho chị. Hồ sơ ly hôn bao gồm:

- Đơn xin ly hôn;

- Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

- Bản sao Hộ khẩu thường trú, tạm trú của vợ và chồng;

- Bản sao Chứng minh thư nhân dân hoặc bản sao hộ chiếu của vợ và chồng;

- Các giấy tờ chứng minh về tài sản: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở (nếu có)…

- Bản sao giấy khai sinh của con;

Trong đơn ly hôn chị nên yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung như: quyền nuôi con thuộc về ai? Nghĩa vụ cấp dưỡng đối với con của người không trực tiếp nuôi con… Và chị cũng nêu rõ những hành vi gây sự đánh đập của chồng chị đối với hai mẹ con chị vì đây cũng là một căn cứ để Tòa án giải quyết ly hôn cho chị.

Nơi giải quyết:

- Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn của chị là tòa án nhân dân cấp huyện nơi chị đang cư trú hoặc nơi cư trú, làm việc của chồng chị theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39, Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.Trong trường hợp này, chị hãy gửi đơn, hồ sơ đến Tòa nơi chồng của chị cư trú, làm việc.

Tham khảo một số biểu mẫu liên quan:

1. Mẫu đơn xin ly hôn;

2. Mẫu đơn thuận tình ly hôn;

3. Mẫu đơn xin đơn phương ly hôn;

4. Mẫu giấy xác nhận mâu thuẫn vợ chồng;

5. Dịch vụ tư vấn pháp luật lĩnh vực Hôn nhân gia đình;

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

5. Ly hôn khi chồng ham chơi bỏ mặc vợ con?

Xin chào Luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi sau xin được giải đáp: Tôi chung sống với anh H gần 3 năm, trong khoảng thời gian chung sống với nhau đã gặp nhiều mâu thuẫn nảy sinh, cụ thể là trước khi có thai cháu đầu lòng 2 vợ chồng đã không hòa hợp hay cãi nhau và anh có đánh tôi, trong thời gian mang thai anh cũng đánh và chửi tôi rất nhiều lần, còn đuổi tôi ra khỏi nhà.

Sau đó, vợ chồng hòa hợp lại, tôi sinh cháu đầu lòng được vài tháng thì anh lại ăn chơi suốt ngày. Ngày ngủ, đêm chơi điện tử, không giúp mẹ con tôi và cũng không đi làm. Khi con tôi được 6 tháng thì tôi trở lại công ty làm việc, anh ấy ở nhà chăm sóc con, do chán và tính ham chơi nên anh ấy đã bỏ nhà đi vài tuần cắm cả chiếc xe máy. Tôi có ý định ly hôn thì anh ấy xin lỗi và hứa sẽ thay đổi nhưng chỉ được một thời gian, anh ấy chán vì tôi sinh con gái. Đến khi tôi sinh cháu thứ hai thì anh ấy cũng không quan tâm, suốt ngày chửi bới, đánh tôi. Giờ tôi muốn ly hôn, vậy tôi muốn hỏi luật sư là thủ tục thế nào, tôi có quyền nuôi cả hai con hay không, con gái lớn 2 tuổi, cháu thứ hai mới 2 tháng tuổi. Chồng tôi bị bệnh động kinh, anh ấy vẫn nhận trợ cấp hàng tháng của Nhà nước là 270.000 đồng.

Rất mong nhận được câu trả lời từ phía luật sư. Xin cám ơn.

Người gửi: Hung

>> Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến gọi:1900.0159

Trả lời:

* Về ly hôn đơn phương:

Theo quy định tại điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì:"Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn."

Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Trong trường hợp này chồng bạn đã có hành vi bạo lực gia đình, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được vì vậy bạn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn cho mình.

* Thủ tục ly hôn đơn phương được tiến hành như sau:

Bạn cần chuẩn bị một bộ hồ sơ với đầy đủ các giấy tờ sau:

- Giấy đăng ký kết hôn

- Sổ hộ khẩu ( bản sao công chứng)

- Chứng minh thư ( bản sao công chứng)

- Giấy khai sinh của các con (nếu có)

- Giấy tờ về tài sản (nếu có tranh chấp)

- Giấy tờ khác có liên quan.

Sau khi chuẩn bị đầy đủ hồ sơ bạn đem nộp tại Tòa án cấp quận/huyện nơi chồng bạn đăng ký cư trú.

Sau 5 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ Tòa án sẽ ra quyết định thụ lý yêu cầu ly hôn của bạn. Tùy từng vụ án có tính chất phức tạp hay không mà Tòa án sẽ giải quyết vụ án của bạn trong vòng 4 tháng đến 6 tháng.

Trong thời hạn này, tùy từng trường hợp, tòa án ra một trong các quyết định sau đây: công nhận sự thỏa thuận của các đương sự hoặc tạm đình chỉ giải quyết vụ án hoặc đình chỉ giải quyết vụ án hoặc đưa vụ án ra xét xử.

Trong một tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là hai tháng.

Như vậy, thời hạn tối đa để giải quyết vụ án (ở cấp sơ thẩm) là 8 tháng.

*Về nuôi con sau ly hôn:

Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Như vậy, theo nguyên tắc thì con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Lienhe@luatminhkhue.vn hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.0159.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn ly hôn khi hai vợ chồng không có chung sổ hộ khẩu ? Quyền chăm sóc con sau ly hôn ?