Cải chính hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền chữa lại cho đúng những sai sót về hộ tịch.

Cải chính hộ tịch có thể là việc sửa lại sai sót về ngày, tháng, năm sinh; tên, họ, chữ đệm; quốc tịch...

Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi đã đăng kí khai sinh trước đây có thẩm quyền giải quyết việc cải chính hộ tịch cho người dưới 14 tuổi và bổ sung hộ tịch cho mọi trường hợp, không phân biệt độ tuổi.

Uỷ ban nhân dân cấp huyện, mà trong địa hạt của huyện đó đương sự đã đăng kí khai sinh trước đây, có thẩm quyền giải quyết việc cải chính hộ tịch cho người từ đủ 14 tuổi trở lên và xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch, điều chỉnh hộ tịch cho mọi trường hợp, không phân biệt độ tuổi.

Người xin cải chính hộ tịch phải nộp tờ khai và xuất trình bản chính giấy khai sinh, và các giấy tờ liên quan.

Cơ quan, tổ chức hiện đang quản lí hồ sơ cá nhân của đương sự căn cứ vào quyết định cải chính hộ tịch của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền và bản chính giấy khai sinh đã ghi chú sự thay đổi để điều chỉnh các giấy tờ, hồ sơ cá nhân của đương sự.

Làm cho không còn những khuyết, nhược điểm nào đó bằng biện pháp phi bạo lực để biến đổi một hiện tượng, quá trình cho phù hợp hơn với yêu cầu được đặt ra.

Cải lương hương chính là thực hiện những biến đổi trong tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền cấp làng, xã người Việt dựa trên văn bản "việc tổ chức lại bộ máy hành chính cấp xã” do thực dân Pháp và Nam Triều tiến hành ở Nam Kỳ vào những năm 1904, 1927, 1944, ở Bắc Kỳ những năm 1921, 1927, 1941; ở Trung Kỳ vào năm 1942 nhằm củng cố chính quyền cấp xã theo ý đồ của chính quyền thực dân phong kiến với nội dung gồm các điểm chính sau: 1) Đặt viên chức người Pháp đứng đầu mỗi tỉnh (Khâm sứ ở Trung Kỳ, Công sứ ở Bắc Kỳ, Quan chủ tỉnh ở Nam Kỳ) nắm quyền giám sát, kiểm soát và lựa chọn nhân sự cấp xã; 2) Lập chức lí trưởng (đối với các xã ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ) hoặc xã trưởng (đối với các xã ở Nam Kỳ) có quyền bàn trong hội đồng kì mục và quyết định việc làng xã theo quy định; 3) Quy định rõ nhiệm vụ, các hoạt động, khen thưởng, kỉ luật đối với từng thành viên bộ máy quản trị xã và đối với từng bộ phận cấu thành ban quản trị xã; 4) Quy định “điền sản” là tiêu chuẩn hàng đầu trong việc lựa chọn người vào bộ máy quản lí cấp xã.

Về tổ chức, cải lương hương chính là một quá trình được thực hiện trong nhiều năm cả ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ từ những năm 1920 - 1921 đến những năm 1944 - 1945,

Ở Bắc Kỳ, theo quy định của Thống sứ Bắc Kỳ, năm 1921 lập hội đồng tộc biểu thay cho hội đồng kì mục (còn gọi là kì dịch) là tổ chức truyền thống có tính chất tự trị ở làng xã. Hội đồng tộc biểu gồm những người có tài sản do các họ tộc hoặc giáp cử ra, do chánh, phó hương hội đứng đầu. Đến năm 1927, hội đồng kì mục được lập lại. Bên cạnh hội đồng tộc biểu, có thêm chức hộ lại (giữ sổ sách hộ tịch) và chưởng bạ (giữ số sách địa bạ). Đến năm 1941, hội đồng kì mục được củng cố, đứng đầu là tiên chỉ, thứ chỉ với hội viên là những người có tài sản, có học vấn (nho học, tây học, quan lại...).

Ở Trung Kỳ, theo quy định của vua Bảo Đại, năm 1942 hội đồng hào mục ở làng xã được thành lập, gồm những hội viên có tài sản, có học vấn, do tiên chỉ làm trưởng ban thường trực, lí trưởng là chức dịch và một số chức danh khác như hương hội, hộ lại, hương bản (thủ quỹ), hương kiểm (trương tuần), hương mục (trông giữ cầu cống, đường sá).

Ở Nam Kỳ, năm 1927 và năm 1944, hội đồng kì mục do hương cả, hương sư, hương chủ đứng đầu, có hương thân giữ liên hệ với chính quyền cấp trên, hương hào lo việc tuần phòng, xã trưởng giữ dấu, thu thuế má.