1. Quy định chung về biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú

Biện pháp này chỉ áp dụng đối với bị can bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng, có thái độ khai báo thành khẩn, trong trường hợp bị can, bị cáo không bị bắt để tạm giam hoặc đã bị tạm giam nhưng được cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà án cho tại ngoại khi có đủ cơ sở cho rằng họ sẽ không bỏ trốn, không gây cần trở cho việc điều tra, truy tố và xét xử hoặc tiếp tục phạm tội.

Khi áp dụng biện pháp này, cơ quan điều tra, viện kiểm sát hoặc toà án buộc bị can, bị cáo làm giấy cam đoan không đi khỏi nơi cư trú của mình và phải có mặt khi có giấy triệu tập. Trong trường hợp bị can, bị cáo có lí do chính đáng phải tạm thời đi khỏi nơi cư trú thì phải được sự đồng ý của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú và phải có giấy phép của cơ quan đã áp dụng biện pháp ngăn chặn.

Nếu bị can, bị cáo vi phạm cam đoan sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.

Người ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú phải thông báo về việc áp dụng biện pháp này cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can, bị cáo cư trú và giao bị can, bị cáo cho chính quyền xã, phường, thị trấn để quản lí, theo dõi.

2. Quy định về biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú hiện nay

Cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo có noi cư trú, lý lịch rõ ràng nhằm bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của cơ quan điều tra,viện kiểm sát, toà án.

Theo quy định tại Điều 123 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì:

- Đối tượng áp dụng: Biện pháp ngăn chặn này ít nghiêm khắc hơn biện pháp tạm giam, người bị áp dụng biện pháp này không bị cách li khỏi xã hội mà họ chỉ bị hạn chế quyền tự do đi lại. Do đó, đối tượng áp dụng biện pháp này thường là bị can, bị cáo có nơi cư trú, lí lịch rõ ràng, thái độ khai báo thành khẩn và có đủ cơ sở cho rằng họ sẽ không bỏ trốn, không gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục phạm tội.

- Thẩm quyền và thủ tục cấm đi khỏi nơi cư trú: Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 , thẩm phán chủ tọa phiên toà, đồn trưởng đồn biên phòng có quyền ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Lệnh này phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra lệnh, họ tên, chức vụ của người ra lệnh, họ tên, địa chỉ của người bị cấm đi khỏi nơi cư trú, nơi họ được phép cư trú và phải giao cho bị can, bị cáo một bản.

>> Xem thêm:  Mẫu đơn xin bảo lĩnh cho bị can đang bị giam giữ được áp dụng biện pháp tại ngoại

Bị can, bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú phải làm giấy cam đoan cam kết không đi khỏi nơi cư trú nếu không được cơ quan đã ra lệnh cấm cho phép; có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lí do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan; không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội; không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu huỷ, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe doạ, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.

Trong thời gian bị cấm đi khỏi nơi cư trú, bị can, bị cáo phải chịu sự quản lí, giám sát về việc đi lại của chính quyền xã, phường hoặc thị trấn nơi mình cư trú hoặc đơn vị quân đội đang quản lí họ. Trường hợp bị can, bị cáo vì lí do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan cần phải tạm thời đi khỏi noi cư trú của mình thì phải được sự đồng ý của chính quyền xã, phường hoặc thị trấn noi mình cư trú hoặc đon vị quân đội đang quản lí họ và phải có giấy phép của người đã áp dụng biện pháp ngăn chặn. Cơ quan chính quyền, đơn vị nơi bị cáo cư trú hoặc đơn vị quân đội đang quản lí bị can, bị cáo không có quyền tự ý cho bị cáo rời khỏi nơi cư trú. Nếu bị can, bị cáo vi phạm cam đoan thì chính quyền xã, phường hoặc thị trấn nơi mình cư trú hoặc đơn vị quân đội đang quản lí họ phải báo ngay cho cơ quan đã ra lệnh và bị can, bị cáo sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam.

Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú không quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 . Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực tố tụng hình sự về biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Thế nào là tạm giam, tạm giữ theo Bộ Luật hình sự mới ? Thời hạn tạm giam là bao lâu ?