1.Căn cứ quyết định hình phạt đối với người phạm tội

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về căn cứ quyết định hình phạt đối với người phạm tội như sau:

Điều 50. Căn cứ quyết định hình phạt

“1. Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.

2. Khi quyết định áp dụng hình phạt tiền, ngoài căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án căn cứ vào tình hình tài sản, khả năng thi hành của người phạm tội.”

Theo quy định này, các căn cứ quyết định hình phạt đối với người phạm tội bao gồm:

  • Các quy định của Bộ luật hình sự năm 2015
  • Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội;
  • Nhân thân người phạm tội;
  • Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bên cạnh đó, khi áp dụng hình phạt tiền, ngoài các căn cứ trên, Toà án căn cứ vào tình hình tài sản, khả năng thi hành của người phạm tội.

>> Xem thêm: Bị công an giữ bằng lái xe sau 1 năm có lấy lại được không ?

* Quy định của pháp luật

Các quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 chính là cơ sở pháp lý đầu tiên và quan trọng được sử dụng làm căn cứ quyết định hình phạt đối với người phạm tội. Các căn cứ theo quy định của Bộ luật hình sự bao gồm 02 phần:

– Phần thứ nhất: Những quy định chung của Bộ luật hình sự như:

+ Nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội ( khoản 1điều 3);

+ Các quy định liên quan đến hình phạt (điều 30 đến điều 45);

+ Các quy định về các biện pháp tư pháp (điều 46 đến điều 49);

+ Các quy định về căn cứ quyết định hình phạt (điều 50); các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (điều 51); các tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự (điều 52); các quy định về tái phạm, tái phạm nguy hiểm (điều 53);

+ Quy định về án treo (điều 65);

– Phần thứ hai: Các tội phạm của Bộ luật hình sự về khung hình phạt chính và về hình phạt bổ sung đối với từng loại tội.

Khi quyết định hình phạt, Toà án bắt buộc phải căn cứ vào các quy định nêu trên, tức là:

Thứ nhất, trên cơ sở định tội, dựa vào các quy định về khung chế tài cho từng loại tội phạm, cho phép toà án xác định được khung hình phạt,cho phép Toà án xác định được khung hình phạt cụ thể cần áp dụng cho người phạm tội

Thứ hai, dựa vào các quy định của phần chung, Toà án quyết định loại và mức hình phạt cụ thể trong khung quy định hoặc quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của BLHS (điều 54). Trong nhiều trường hợp, tòa án còn phải áp dụng các hình phạt bổ sung hoặc án treo hoặc biện pháp tư pháp đối với người phạm tội.

2.Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm

>> Xem thêm: Đối tượng tác động của tội phạm ? Phân biệt với khách thể của tội phạm ?

Tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là đặc tính về chất, đặc trưng cho một loại tội phạm, thể hiện sự khác biệt giữa tội phạm này với tội phạm khác ở các điều luật khác nhau (tội danh khác nhau) và ở khoản này với khoản khác trong cùng một điều luật (khung hình phạt khác nhau) quy định ở phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.

Mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là đặc tính về lượng của mỗi tội phạm cụ thể, thể hiện trong phạm vi một khung hình phạt của điều luật quy định về tội phạm cụ thể.

Thực chất, trước khi quyết định hình phạt, Toà án sẽ phải xác định được người phạm tội phạm tội gì, theo điều khoản nào của Bộ luật hình sự, nghĩa là xác định được tình chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Khi quyết định hình phạt, Tòa án chủ yếu căn cứ vào mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của người phạm tội trong phạm vi một khung hình phạt (một khoản của điều luật) đã lựa chọn.

3.Nhân thân người phạm tội được quy định trong Bộ luật Hình sự

Nhân thân người phạm tội trong khoa học luật hình sự được hiểu là tổng hợp những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội, có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vấn đề trách nhiệm hình sự của họ.

Đây cũng là căn cứ quan trọng trong việc quyết định hình phạt đối với người phạm tội vì nhiều đặc điểm về nhân thân người phạm tội có ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Đó là những đặc điểm về nhân thân sau đây:

Những đặc điểm về nhân thân người phạm tội liên quan trực tiếp đến việc thực hiện tội phạm, thể hiện mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, của người phạm tội và khả năng tiếp thu giáo dục, cải tạo của họ như phạm tội lần đầu, tái phạm, tái phạm nguy hiểm, phạm tội do trình độ lạc hậu,…

>> Xem thêm: Trách nhiệm hình sự là gì ? Phân tích đặc điểm của trách nhiệm hình sự ?

Những đặc điểm liên quan đến thái độ của người phạm tội sau khi thực hiện hành vi phạm tội như tự thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, lập công chuộc tội,…

Những đặc điểm nhân thân liên quan đến các chính sách của Đảng và Nhà nước (chẳng hạn chính sách tôn giáo, dân tộc, chính sách đối với người có công…) như Người phạm tội thuộc dân tộc thiểu số, những người có chức sắc tôn giáo,…

Những đặc điểm về nhân thân người phạm tội phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của họ: Người phạm tội bị mắc bệnh hiểm nghèo, là người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, là người già yếu, phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ,…

4.Căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội

Đối với hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, hình phạt được quyết định theo các điều luật của Bộ luật này về các tội phạm tương ứng đồng thời phải theo qui định của Điều 57 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cụ thể, điều luật này quy định:

- Đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, hình phạt được quyết định ttong phạm vi khung hình phạt được quy định cho chuẩn bị phạm tội trong các điều luật cụ thể (nếu có) (khoản 2 Điều 57 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).

- Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì áp dụng hình phạt tù không quá 20 năm; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định (khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

Việc quy định khung hình phạt nhẹ và riêng cho trường hợp chuẩn bị phạm tội trong điều luật cụ thể và quy định áp dụng hình phạt tù không quá 20 năm đối với trường hợp phạm tội chưa đạt mà điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình là những điểm mới về sự phân hoá trách nhiệm hình sự giữa hành vi phạm tội hoàn thành và hành vi phạm tội chưa hoàn thành trong BLHS năm 2015 so với BLHS đã cũ

+ Quy định bổ sung cho căn cứ thứ hai (tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi)

Theo khoản 1 Điều 57 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, khi quyết định hình phạt cho hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm tội chưa đạt, toà án phải căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, vào mức độ thực hiện ý định phạm tội và những tình tiết khác khiến cho tội phạm không thực hiện được đến cùng. Quy định này thực chất Ịà quy định cụ thể về căn cứ thứ hai của quyết định hình phạt đổi với hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt. Nó bao gồm cả nội dung chung và cả nội dung bổ sung. Giữa hành vi chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và trường hợp tội phạm hoàn thành của tội phạm nhất định cũng như giữa các trường hợp chuẩn bị phạm tội, giữa các trường họp phạm tội chưa đạt với nhau có sự khác nhau về mức độ nguy hiểm cho xã hội do có sự khác nhau về mức độ thực hiện tội phạm cũng như do có sự khác nhau về các tình tiết khiến tội phạm không thực hiện được đến cùng. Do đó, mức độ thực hiện ý định phạm tội và những tình tiết khác khiến tội phạm không thực hiện được đến cùng được coi là hai căn cứ bổ sung bên cạnh căn .cứ chung là tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.

5. Căn cứ xác định khung hình phạt cho đồng phạm

Khi quyết định hình phạt cho những người đồng phạm, ngoài việc áp dụng các quy định chung nêu trên, toà án còn phải tuân theo quy định bổ sung được quy định tại Điều 58 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đây thực chất là quy định bổ sung cho căn cứ quyết định hình phạt thứ hai và thứ tư. Cụ thể:

- Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, toà án phải xết đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia của từng người đồng phạm vì tính chất của đồng phạm có ảnh hưởng đến tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm được cùng thực hiện còn tính chất và mức độ tham gia của mỗi người đồng phạm là yếu tố ảnh hưởng đến tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi của mỗi người đồng phạm.

Tính chất tham gia được quyết định bởi vai trò của người đồng phạm, tác dụng của họ đến hoạt động chung của vụ đồng phạm. Thông thường, người tổ chức và người xúi giục có vai ưò nguy hiểm hơn cả hoặc có trường hợp người thực hành cũng bị coi là có vai trò nguy hiểm nếu đã có những hoạt động đắc lực.

Mức độ tham gia chỉ sự đóng góp thực tế của những người đồng phạm vào việc gây ra tội phạm cũng như hậu quả của tội phạm.

- Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự thuộc người đồng phạm nào thì chỉ áp dụng đối với người đó. Đó là những tình tiết thuộc về nhân thân người phạm tội như tái phạm nguy hiểm, là người chưa đủ 18 tuổi phạm tội... hoặc là những tình tiết khác liên quan đến cá nhân từng người đồng phạm như phạm tội với động cơ đê hèn hay phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra...

Các quy định bổ sung trên đây là những biểu hiện cụ thể của các nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự trong đồng phạm.

>> Xem thêm: Phòng ngừa nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm như thế nào ?

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực hình sự về trách nhiệm hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt ?

Trả lời:

Căn cứ theo điều 57 Bộ luật Hình sự 2015 quy định :

1. Đối với hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm tội chưa đạt, hình phạt được quyết định theo các điều của Bộ luật này về các tội phạm tương ứng tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội và những tình tiết khác khiến cho tội phạm không thực hiện được đến cùng.

2. Đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, hình phạt được quyết định trong phạm vi khung hình phạt được quy định trong các điều luật cụ thể.

3. Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì áp dụng hình phạt tù không quá 20 năm; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định.

Câu hỏi: Bộ luật Hình sự quy định về tổng hợp bản án ?

Trả lời:

Căn cứ vào điều 56 quy định :

1. Trong trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này, thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này.

Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung.

2. Khi xét xử một người đang phải chấp hành một bản án mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này.

3. Trong trường hợp một người phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp, thì Chánh án Tòa án có thẩm quyền ra quyết định tổng hợp hình phạt của các bản án theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.

Câu hỏi: Quyếđịnh hình phạt trong trường hợp đồng phạm ?

Trả lời:

căn cứ theo điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 quy định :

Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Tòa án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm.

Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự thuộc người đồng phạm nào, thì chỉ áp dụng đối với người đó.