Anh A đã nhận số tiền mà tôi viết giấy nợ của tôi với chị B là của anh nợ chứ không phải tôi nợ. Sau một thời gian, chị B đem giấy tờ nợ của tôi ra uỷ quyền cho anh C (có công chứng tư nhân nào đó) nhưng giấy tờ uỷ quyền này tôi không hề biết và anh C tìm mọi cách để ép tôi phải trả số nợ đó cho anh C. Bây giờ anh C liên tục nhắn tin gọi điện ép tôi, nhờ luật sư giải thích hay giúp tôi hướng giải quyết ?

 Tôi xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi ngày 14-07-2015: Ủy quyền giấy vay nợ ?

Luật sư tư vấn Luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

 

Trả lời

Công ty Luật Minh Khuê xin chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới bộ phận tư vấn pháp luật của công ty chúng tôi. Vấn đề của bạn chúng tôi xin tư vấn như sau.

1. Cơ sở pháp lý

Luật dân sự năm 2005

Luật dân sự năm 2015

2. Nội dung tư vấn

Căn cứ theo Điều 124 Luật dân sự 2005 về hình thức giao dịch dân sự quy định:

"Điều 124. Hình thức giao dịch dân sự  

1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.

Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó."

Điều này có nghĩa là, giao dịch giữa bạn và anh A bản chất là giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, việc ủy quyền giấy vay nợ của chị B với anh C (có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự) là giao dịch dân sự được thể hiện bằng văn bản và không vi phạm pháp luật.Theo đó, bên được ủy quyền (anh C) được thực hiện công việc nhân danh bên được ủy quyền mà không được thực hiện quá phạm vi được bên ủy quyền (chị B) giao.  Hoạt động vay tiền giữa bạn và chị B thông qua giấy vay nợ chính là Hợp đồng vay tài sản và bạn có nghĩa vụ trả số nợ với chị B cho anh C căn cứ theo Điều 471, Điều 474 Luật dân sự 2005:

"Điều 471. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.

Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ."

Như bạn chia sẻ, anh A đã nhận số tiền nợ đó là anh A nợ,không phải bạn nợ nhưng chỉ được thực hiện thông qua lời nói,điều này gây ra những rủi ro nhất định và tính đảm bảo không cao. Bạn cần có những chứng cứ chứng minh việc thực hiện giao dịch giữa bạn và anh A, ví dụ người làm chứng...hoặc có thể thỏa thuận với anh A viết một văn bản xác nhận việc trao đổi giữa anh A và bạn, có chữ ký xác nhận của cả hai bên. Và anh A sẽ có trách nhiệm trả số nợ đó theo quy định của pháp luật.

Trên đây là phần tư vấn của chúng tôi. Rất mong bạn cẩn trọng hơn trong các giao dịch tương tự nên thể hiện dưới dạng văn bản, tránh các phát sinh ngoài mong muốn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê