nói chuyện với nhau: "Nghiêm trọng đấy! Cấu thành tăng nặng. Chắc phải đi vài năm". Tôi nghe loáng thoáng không hiểu thế nào là cấu thành tăng nặng, nhà cháu tôi cũng xin lỗi, trả lại túi xách và lo tiền thuốc thang các thứ rồi. Trong túi xách chỉ có các đồ lặt vặt không đáng giá và mấy chục nghìn lẻ. Hơn nữa cháu tôi lúc đó đang say rượu, tinh thần không tỉnh táo mà cũng phạm tội ạ? Mong luật sư giúp tôi giải đáp! Tôi xin cảm ơn! (Người hỏi: Nguyen Dinh - Gia Lai)

Trả lời:

Chế độ sở hữu là một trong những vấn đề trọng yếu được Nhà nước bảo vệ bằng mọi biện pháp trong đó có biện pháp hình sự. Điều này được thể hiện rõ trong việc sử dụng các quy phạm pháp luật hình sự để xử lý các hành vi xâm phạm chế độ sở hữu hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Khi thực hiện hành vi cướp giật túi xác của người công nhân, dù không biết giá trị của tài sản trong túi xách là bao nhiêu nhưng cháu bạn (anh A) đã xâm phạm quyền sở hữu của cá nhân mà pháp luật đang bảo vệ. Căn cứ theo quy định tại Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 (sau đây xin gọi tắt là Bộ luật Hình sự), chỉ cướp giật tài sản của người khác đều đã thoả mãn cấu thành cơ bản của Tội này. Vậy cướp giật là gì và cấu thành tội phạm được cơ quan công an đề cập tới hiểu như thế nào?

1. Tội cướp giật là gì? Khi nào người thực hiện hành vi cướp giật bị coi là tội phạm?

Điều 171 Bộ luật Hình sự quy định về Tội cướp giật như sau:

Điều 171. Tội cướp giật tài sản

1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Từ điển tiếng Việt có định nghĩa về hành vi cướp giật là cướp tài sản của người khác một cách ngang nhiên và trắng trợn. Xét quy định trên, bộ Luật hình sự không đề cập tới khái niệm của tội mà chỉ nêu tội danh (Tội danh có thể hiểu đơn giản là tên gọi của hành vi phạm tội - hành vi lấy tài sản của người khác một cách ngang nhiên, trắng trợn thì gọi là cướp giật). Do đó, trên thực tế có khá nhiều quan điểm về tội danh này. Ví dụ, có quan điểm cho rằng: "cướp giật là lấy tài sản một cách công khai, nhanh chóng rồi tẩu thoát". Hay quan điểm "cướp giật là hành vi chiếm đoạt công khai tài sản và nhanh chóng tẩu thoát" ... Vì không có định nghĩa cụ thể, phân tích hành vi cướp giật một cách chi tiết thì hầu như cách hiểu nào cũng đúng. Trong thực tiễn hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử cũng hình thành quan điểm khá đầy đủ về tội này: "Cướp giật tài sản là hành vi nhanh chóng, công khai giật lấy tài sản của người khác hoặc tài sản thuộc sự quản lý hợp pháp của người có trách nhiệm quản lý tài sản rồi tẩu thoát". Trong khi thực hiện hành vi này, người phạm tội không sử dụng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc bất kỳ một thủ đoạn nào khác để uy hiếp người bị hại.

Khác với một số tội như Tội công nghiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172), Tội trộm cắp tài sản (Điều 173), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174), Tội cướp giật tài sản không có mức định lượng về giá trị tài sản bị chiếm đoạt làm căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự. Điều này có nghĩa là chỉ cần người nào đó thực hiện hành vi "cướp giật", không xem xét tới giá trị tài sản là bao nhiêu sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp giật tài sản theo quy định tại Điều 171 Bộ luật Hình sự.

2. Cấu thành tội phạm là gì?

Cấu thành tội phạm là tổng hợp những dấu hiệu đặc trưng chung cho một loại tội phạm cụ thể được quy định trong luật Hình sự. Các dấu hiệu của cấu thành tội phạm bao gồm: Dấu hiệu về hành vi (mặt khách quan của tội phạm); Dấu hiệu có lỗi (mặt chủ quan của tội phạm); Dấu hiệu về năng lực trách nhiệm hình sự (mặt chủ thể của tội phạm). Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, khoa học luật hình sự chia cấu thành tội phạm làm ba loại:

- Cấu thành tội phạm cơ bản: Là cấu thành tội phạm chỉ có dấu hiệu định tội - dấu hiệu mô tả tội phạm nhằm phân biệt tội phạm này với tội phạm khác.

>> Xem thêm:  Tội cướp giật tài sản theo luật hình sự ? Mức án tội cướp giật tài sản ?

Ví dụ: Khoản 1 Điều 171 là cấu thành tội phạm cơ bản của Tội cướp giật tài sản, mặc dù điều luật không giải thích rõ là cướp giật là gì như đã phân tích ở trên. Nhưng khi nghe tới hai từ cướp giật, chúng ta đã tự động hiểu rằng đó là hành vi nhanh chóng chiếm đoạt tài sản rồi chạy mất. Không sử dụng vũ lực như Tội cướp tài sản, không lén lút bí mật như Tội trộm cắp tài sản,...

- Cấu thành tội phạm tăng nặng: Là cấu thành tội phạm ngoài dấu hiệu định tội còn có thêm những dấu hiệu thể hiện tội phạm có mức độ nguy hiểm cho xã hội tăng lên một cách đáng kể so với cấu thành cơ bản.

Ví dụ: Từ khoản 2 đến khoản 4 Điều 171 là cấu thành tội phạm tăng nặng. Vì so với khoản 1 Điều 171, khung hình phạt tại khoản 2 nhiều hơn (đến 10 năm tù), đồng thời các dấu hiệu của tội phạm tại khoản 2 cũng nguy hiểm hơn so với khoản 1. Cụ thể, nếu tại khoản 1, người thực hiện hành vi phạm tội chỉ giật tài sản rồi bỏ chạy, không gây thiệt hại về sức khoẻ, tính mạng của bị hại thì khoản 2 tính chất nguy hiểm và mức độ thiệt hại tăng lên nhiều:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

...

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;

- Cấu thành tội phạm giảm nhẹ: Loại cấu thành này gần như đối lập với cấu thành tội phạm tăng nặng. Ngoài dấu hiệu định tội, trong cấu thành tội phạm giảm nhẹ còn có thêm các dấu hiệu phản ánh mức độ nguy hiểm của tội phạm đã giảm xuống một cách đáng kể so với cấu thành cơ bản. Điều 171 không có cấu thành tội phạm giảm nhẹ. Khoản 1 là cấu thành tội phạm cơ bản. Từ khoản 2 đến khoản 4 là cấu thành tội phạm tăng nặng. Khoản 5 là hình phạt bố sung, không phải là cấu thành tội phạm.

3. Khi nào hành vi cướp giật thoả mãn cấu thành tội phạm tăng nặng ?

Theo thông tin bác cung cấp, sau hành vi cướp giật của anh A, người công nhân bị ngã gãy tay. Giá trị tài sản không đáng kể. Nên nếu là cấu thành tội phạm tăng nặng như người công an xã nói thì có khả năng rơi vào điểm e khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự: tỷ lệ tổn thương cơ thể của người công nhân từ 11% đến 30%.

Sự việc vừa mới xảy ra có lẽ chưa có kết quả giám định thương tật. Do vậy, chúng tôi xin đưa ra một vài cơ sở xác định tỉ lệ thương tật để bác tham khảo. Ngày 28/08/2019, Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Thông tư 22/2019/TT-BYT quy định về tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần. Văn bản này có hiệu lực từ ngày 01/11/2019. Điều 4 Thông tư 22/2019/TT-BYT quy định phương pháp xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể được tính theo phương pháp cộng như sau:

1. Việc xác định tỷ lệ % TTCT được tính theo phương pháp cộng như sau:

Tổng tỷ lệ % TTCT = T1 + T2 + T3 +...+ Tn;

Trong đó:

T1: là tỷ lệ % tổn thương cơ thể của tổn thương thứ nhất;

T2 = (100 - T1) x tỷ lệ % tổn thương cơ thể thứ 2 : 100;

>> Xem thêm:  Phòng ngừa nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm như thế nào ?

T3 = (100 - T1 - T2) x tỷ lệ % tổn thương cơ thể thứ 3 : 100;

Tn = (100 - T1 - T2 - T3 - ... - T(n-1))x tỷ lệ % tổng thương cơ thể thứ n : 100

Tỷ lệ % tổn thương cơ thể được xác định tại Bảng 1 chương 7 phụ lục thông tư 22/2019/TT-BYT.

Đối chiếu trường hợp anh A việc gãy xương bàn tay cần xác định mức độ nghiêm trọng của vết thương. Nếu gãy nhưng không hạn chế chức năng của bàn, ngón tay thì tỷ lệ % tổn thương từ 6 - 10% (thường là 8 %); nếu làm bàn tay biến dạng hoặc ảnh hưởng đến khả năng vận động bình thường thì tỷ lệ từ 11 - 15% (thường 13%); nếu gãy nhiều hơn hai xương bàn tay hoặc mất đoạn xương của nhiều xương bàn tay thì tỷ lệ từ 16 - 25%.

Nếu tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% thì hành vi cướp giật của anh A nằm trong cấu thành tội phạm cơ bản. Tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% trở lên thì thuộc cấu thành tội phạm tăng nặng. Như anh công an xã nói vậy chưa hẳn chính xác, có thể họ căn cữ vào kinh nghiệm thực tế. Tuy nhiên, cần có kết luận giám định tỷ lệ thương tật mới có thể kết luận rằng anh A sẽ bị truy cứu theo khoản nào của tội cướp giật tài sản.

4. Thực hiện hành vi cướp giật trong lúc say rượu có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không ?

Đối với vấn đề này, trước tiên, cần xem xét tới các yếu tố miễn trách nhiệm hình sự và trường hợp không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Điều 29 Bộ luật Hình sự quy định về các căn cứ được và có thể được miễn trách nhiệm hình sự gồm:

- Chính sách, pháp luật thay đổi làm hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội;

- Có quyết định đại xá;

>> Xem thêm:  Tình hình tội phạm là gì ? Đặc điểm, ý nghĩa khi nghiên cứu tình hình tội phạm

- Người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;

...

Trường hợp không phải chịu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 13 Bộ luật Hình sự. Cụ thể:

Điều 13. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự

1. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

Đây là một trong những căn cứ để xác định xem một người có hay không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Còn đối với trường hợp sử dụng rượu bia say đến không làm chủ được hành vi, nếu không có các căn cứ tại Điều 13 và Điều 29 nêu trên thì căn cứ theo Điều 14, vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Điều 14. Phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác

Người phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

Tình trạng thực tế của anh A, bạn có thể xem xét lại sau đó đối chiếu với tư vấn nêu trên để xác định tình hình của cháu mình. Nếu có vướng mắc, bạn có thể liên hệ tổng đài tư vấn 1900.6162 để chúng tôi hỗ trợ thêm.

5. Mở rộng trường hợp đặc biệt về cấu thành tội phạm của Tội giết người

Tội giết người là một trong một số tội được trình bày dưới dạng khá đặc biệt trong Bộ luật Hình sự qua các năm.

Điều 123. Tội giết người

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Giết 02 người trở lên;

b) Giết người dưới 16 tuổi;

c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;

...

2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

Điều đặc biệt trong cách trình bày của tội này thể hiện ở chỗ: Thông thường, trong các điều luật, cấu thành tội phạm cơ bản thường ở khoản 1. Từ khoản 2 trở đi là cấu thành tội phạm tăng nặng hoặc giảm nhẹ. Tuy nhiên, Tội giết người thì ngược lại. Khoản 1 là cấu thành tội phạm tăng nặng. Khoản 2 là cấu thành tội phạm cơ bản. Vì hành vi phạm tội tại khoản 2 là hành vi giết người thông thường.

Theo định nghĩa của cấu thành tội phạm giảm nhẹ thì phải có yếu tố phản ảnh mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội giảm xuống một cách đáng kể so với trường hợp bình thường. Nếu coi khoản 2 là cấu thành tội phạm giảm nhẹ thì chẳng nhẽ việc giết 1 người ít nguy hiểm hơn so với hai người sao? Không, điều đó hoàn toàn không đúng. Dù giết 1 người hay giết người không có thai hay giết người không phải cha mẹ thì nhìn chung hành vi này đều gây nguy hiểm cho xã hội.

>> Xem thêm:  Các chủ thể phòng ngừa tội phạm là ai ? Xã hội hóa công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm

Do đó, khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự không thể coi là cấu thành tội phạm giảm nhẹ mà phải là cấu thành tội phạm cơ bản.

Trân trọng!

>> Xem thêm:  Nguyên nhân của tội phạm là gì ? Cách phân loại, phân tích các nguyên nhân của tội phạm

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Thưa Luật sư! Trường hợp cướp giật ví nhưng trong ví không có tiền thì có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không ? Xin cảm ơn Luật sư!

Trả lời:

Trả lời:

Tội cướp giật tài sản quy định tại Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 như sau:

"Điều 171. Tội cướp giật tài sản

1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm."

Trong cấu thành tội phạm cơ bản tại khoản 1 Điều 171 không mô tả dấu hiệu định lượng giá trị tài sản cướp giật làm tính tiết định tội. Do vậy, người thực hiện hành vi cướp giật chiếc ví dù không có tiền hoặc tài sản khác có giá trị trong ví nhưng bản thân chiếc ví đó chính là tài sản của bị hại. Cho nên người cướp giật vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trừ trường hợp người có các căn cứ được miến trách nhiệm hình sự hoặc không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Trân trọng!

Câu hỏi: Thưa Luật sư! Tình tiết "hành hung để tẩu thoát" trong khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự 2017 có phải giống trường hợp cướp giật chuyển hoá thành tội cướp tài sản không ? Tôi xin cảm ơn!

Trả lời:

Trả lời:

Hành hung để tẩu thoát được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 171. Hành hung có nghĩa là dùng vũ lực chống trả lại người bị hại hoặc người khác nhằm mục đích tẩu thoát. Nghe thì có vẻ giống tình huống chuyển hoá tội cướp tài sản. Nhưng cần phân biệt rõ hai trường hợp sau:

1. Khi nào thì cướp giật tài sản không chuyển hoá thành cướp:

Nếu người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được nhưng bị phát hiện bị bắt giữ và sử dụng vũ lực chống trả lại nhằm chạy thoát chứ không phải nhằm lấy tài sản đến cùng. Trường hợp này không chuyển hoá tội khác.

2. Khi nào cướp giật chuyển hoá thành cướp tài sản

Tương tự trường hợp trên, việc sử dụng vũ lực của người phạm tội là nhằm chiếm đoạt tài sản đến cùng thì trường hợp này được coi là chuyển hoá sang tội cướp tài sản.

Trân trọng!

Câu hỏi: Thưa Luật sư! Con trai tôi năm nay 15 tuổi. Trên đường đi học về cháu có lỡ giật mũ trên bạn gái khiến cháu bé đó ngã va đầu vào vỉa hè phải khâu 4,5 mũi. Gia đình họ doạ cho con tôi đi tù. Không biết con tôi có bị gì không? Tôi cảm ơn!

Trả lời:

Trả lời:

Thứ nhất, về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 có quy định người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng tại một số điều trong đó có Điều 171 - Tội cướp giật tài sản.

Thứ hai, hành vi của cháu trai là loại tội phạm nào ? Để phân loại hành vi phạm tội, cần xác định được tỷ lệ thương tật của cháu gái bị hại. Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt là từ 07 năm tù đến 15 năm tù. Nếu tỷ lệ thương tật của cháu gái từ 11% trở lên thì căn cứ theo khoản 2 Điều 171, mức phạt cao nhất là đến 10 năm tù. Là tội phạm rất nghiêm trọng, cháu trai sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự vì đã đủ 14 tuổi. Nếu tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11%, căn cứ khoản 1 Điều 171, mức phạt cao nhất là đến 05 năm tù. Đây là tội phạm nghiêm trọng, trường hợp này cháu chưa đủ 16 tuổi nên không phải chịu trách nhiệm hình sự