1. Chi phí ly hôn trọn gói để ly hôn hết bao nhiêu tiền ?

Xin kính chào công ty luật Minh Khuê, tôi muốn hỏi chi phí trọn gói để ly hôn hết bao nhiêu? Thủ tục có nhanh gọn không?
Xin cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến, gọi 1900.6162

Trả lời:

Vì bạn không nêu rõ là bạn muốn ly hôn đơn phương hay thuận tình ly hôn nên chúng tôi xin đưa ra các bài viết về thủ tục, trình tự ly hôn đơn phương và thuận tình ly hôn để bạn tham khảo.

Về thời gian: Nếu thuận tình ly hôn là 3-4 tháng. Nếu ly hôn đơn phương thì thủ tục kéo dài 4-6 tháng.

Về án phí ly hôn:

- Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng

- Án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án dân sự có giá ngạch thì thực hiện theo hướng dẫn tại phụ lục Pháp lệnh án phí 10/2009/UBTVQH12:

"2.Mức án phí sơ thẩm đối với các vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch:

Giá trị tài sản có tranh chấp

Mức án phí

a) từ 4.000.000 đồng trở xuống

300.000 đồng

b) Từ trên 4.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng

5% giá trị tài sản có tranh chấp

c) Từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng

20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng

d) Từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng

36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng

đ) Từ trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng

72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng

e) Từ trên 4.000.000.000 đồng

112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 4.000.000.000 đồng.

Mức giá dịch vụ của chúng tôi là 50 triệu đến 80 triệu tùy từng vụ việc, nếu có nhu cầu sử dụng dịch vụ bạn có thể liên hệ lại.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Ly hôn khi vợ mới mang thai được 03 tháng ?

Xin chào luật sư, em muốn hỏi: Hai vợ chồng em kết hôn được 07 năm rồi. Chúng em đã có được một cháu 05 tuổi và vợ em thì đang mang thai cháu thứ hai mới được 03 tháng. Nhưng do đời sống vợ chồng không được hòa hợp nên em muốn ly hôn. Em biết thời gian này không thể đơn phương ly hôn nếu không có sự đồng ý của cả hai vợ chồng. Nhưng nếu cả hai cùng đồng ý thì em có thể giành được quyền nuôi đứa con 05 tuổi không? Cô ấy thì ở nhà không đi làm và cô ấy có khoản thu cho thuê nhà hàng tháng là 3 triệu đồng, trình độ học vấn là 9/12. Còn em thì đi làm thu nhập hàng tháng với mức lương 7 triệu đồng/tháng, trình độ học vấn là 12/12. Em thì muốn ly hôn, nhưng em sợ em muốn quyền được nuôi con 05 tuổi cô ấy không đồng ý.
Nên em muốn hỏi hoàn cảnh em như vậy thì Tòa án sẽ giải quyết như thế nào?
Mong sớm nhận được câu trả lời của luật sư. Em xin cảm ơn.

Ly hôn khi vợ mới mang thai được 03 tháng?

Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến, gọi ngay: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ theo Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn như sau:

"1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi."

Theo đó, bạn hoặc vợ bạn hoặc cả hai vợ chồng bạn đều có thể yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề ly hôn cho vợ chồng bạn. Thậm chí, cha, mẹ hoặc người thân thích khác của vợ chồng bạn có thể yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề ly hôn của hai vợ chồng bạn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ. Tuy nhiên, trường hợp này của bạn thì vợ bạn mới mang thai được 03 tháng, chính vì vậy, bạn không được phép ly hôn đơn phương khi vợ bạn đang mang thai, vì ở thời điểm này vợ bạn cần có người để chăm sóc, quan tâm để đảm bảo quyền lợi chính đáng và hợp pháp nhất cho vợ bạn cũng như con bạn. Nếu bạn muốn ly hôn thì bạn cần phải có sự đồng ý của vợ bạn hoặc ít nhất bạn phải đợi vợ bạn sinh con xong và con bạn đã đủ 12 tháng tuổi, khi đó, bạn mới có thể nộp đơn ly hôn đơn phương.

Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn:

"1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Như vậy, con của bạn bây giờ đã được 05 tuổi, nằm trong độ tuổi từ đủ 36 tháng tuổi đến dưới 07 tuổi thì giữa bạn và vợ bạn có quyền ngang nhau trong việc giành quyền nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn. Lúc này, nếu bạn muốn giành được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn thì bạn cần thỏa thuận với vợ bạn và vợ bạn đồng ý chấp nhận giao con cho bạn nuôi dưỡng. Hoặc, kể cả trong trường hợp vợ bạn không đồng ý giao con cho bạn nuôi dưỡng thì bạn cần chứng minh được bạn có thu nhập ổn định với mức lương 07 triệu đồng/tháng cao hơn nhiều so với vợ bạn (03 triệu đồng/tháng thông qua việc cho thuê nhà). Bên cạnh đó, bạn cần chứng minh bạn có nhiều thời gian để chăm sóc con, có điều kiện tài chính thông qua những tài sản khác như đất đai, nhà cửa, ô tô, xe máy, sổ tiết kiệm,... gia đình bên nội cũng có đủ điều kiện để chăm sóc con bạn trong thời gian bạn đi làm việc, còn vợ bạn không đáp ứng được những điều kiện trên như bạn. Khi đó, Tòa án sẽ căn cứ vào những bằng chứng bạn nêu ra thì Tòa án sẽ xem xét bạn hoặc vợ bạn đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp nhất, tốt nhất cho con thì Tòa án sẽ giao con cho người đó trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc sau khi ly hôn.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về yêu cầu của bạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

Xin chào Luật sư Minh Khuê tôi có câu hỏi này về làm sổ Đỏ mong Luật sư giải đáp xin cám ơn! Nhà tôi có 4 người gồm Bố, Mẹ, Chị Gái và Tôi, Bố Mẹ tôi đã ly hôn nhưng tự phân chia tài sản, sổ Đổ đứng tên Bố tôi. Sau 1 thời gian Bố tôi vào Nam lấy vợ hai có đăng ký kết hôn nhưng không sinh con, và đã mất được 3 năm, nhưng không có di chúc để lại tài sản cho tôi, hiện giờ cũng không còn giấy chứng tử, chứng minh thư, hay bất kỳ giấy tờ nào liên quan đến Bố tôi,Bố mẹ ( Ông Bà ) của bố tôi vẫn còn sống. Vậy tôi muốn đổi tên bìa đỏ sang tôi phải làm gì, có những cách nào?
Xin cám ớn luật sư Minh Khuê.

Trả lời:

THứ nhất là vấn đề bố bạn ly hôn trước đây thì quyền sử dụng đất sẽ được chia đôi bố mẹ bạn mỗi người một nửa theo quy định tại khoản 2 Điều 59 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 :

Điều 59 Nguyên tắc chai tài sản khi ly hôn

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

Như vậy nếu như bố bạn mất sau khi lấy vợ hai mà không có di chức thì tài sản này sẽ được chia cho vợ con thứ hai của ba bạn nên bạn không thể đổi tên bìa đỏ cho tất cả mảnh đất đó.

Em chào luật sư ạ . E muốn hỏi luật sư là hiện 2 vợ chồng em cùng đang ở nước ngoài nhưng sắp tới em về Việt Nam. Em muốn khi về Việt Nam sẽ ly hôn nhưng chồng em không ký đơn cho em. Và em chỉ có 1 bản giấy đăng ký kết hôn. Vậy muốn hoàn tất thủ tục ly hôn thì em cần làm như thế nào ạ ? Em mong luật sư tư vấn giúp em ạ . E cảm ơn.

Khi hai vợ chồng bạ vè Việt NAm ly hôn thì bạn sẽ gửi đơn xin ly hôn đến tòa án nơi chồng bạn cư trú để được giải quyết. theo quy định tại Điều 39 khoản 1 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

về hồ sơ bạn cần chuẩn bị:

  • Đơn yêu cầu/đơn khởi kiện (Theo mẫu);
  • Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;
  • CMND và hộ khẩu;
  • Giấy khai sinh các con;
  • Các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh tài sản chung như: GCNQSDĐ (sổ đỏ); Đăng ký xe; Sổ tiết kiệm…
Sổ đỏ chỉ đứng tên chồng và tôi có cam kết đó là tài sản riền của chồng vậy khi ly hôn tôi có được quyền chia tài sản đó không

Như vậy bạn nói sổ đỏ đứng tên chồng bạn, và bạn đã làm bản cam kết đó là tài sản riêng của chồng bạn thì theo quy định của Luật hôn nhân gia đình trong thời kỳ hô nhân bạn và chồng bạn được quyền thảo thuận chia tài sản chung theo quy định tại khoản 1 Điều 39 Luật hôn nhân gia đình

Điều 39 Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng là thời điểm do vợ chồng thỏa thuận và được ghi trong văn bản; nếu trong văn bản không xác định thời điểm có hiệu lực thì thờiđiểm có hiệu lực được tính từ ngày lập văn bản.

>> NHƯ vậy thì khi ly hôn đây là tài sản riêng của chồng chị và chị không có quyền được yêu cầu chia tài sản

Thưa luật sư, xin hỏi: Cụ thể tôi và vợ tôi lấy nhau đã được hơn 10 năm đã có 02 con một trai và một gái. Vào năm 2009 tôi có bán một mảnh đất đứng tên tôi ở nơi khác để mua đất và làm một căn nhà cấp 4 hiện tại tôi đang ở. Gia đình tôi có xảy ra một số mâu thuẫn dẫn tới việc ly hôn giữa vợ chồng tôi. Vợ chồng tôi bây giờ đã ly hôn nhưng chưa chia tài sản. Vợ tôi và con gái ra thuê nhà ở ngoài còn tôi và con trai vẫn ở căn nhà đứng tên tôi. Gần đây vợ tôi có viết đơn ra tòa đòi quyền phân chia tài sản. Vậy cho tôi hỏi: mảnh đất và nhà hiện tại của tôi có phải tài sản chung hay không. Và nếu là tài sản riêng của tôi thì tôi phải có những giấy tờ gì để chứng minh. Tôi xin cảm ơn!

Theo quy định của luật hôn nhân gia đình

Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Tài sản riêng của vợ chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.

NHư vậy theo quy định trên thì bạn phải chứng minh được đâu là tài sản chung và tài sản riêng . và theo quy định của pháp luật tài sản chung sẽ được chia đôi có căn cứ đến yếu tố lỗi và mức độ đóng góp của mỗi bên

>> các giấy tờ để bạn chứng minh đây là tài sản riêng phải là các giấy tờ về quyền sử dung đất đã được cấp cho anh trước ngày hai vợ chồng anh đăng ký kết hôn và không có văn bản thỏa thuận sap nhập tài sảnriêng này vào tài sản chung

Thưa luật sư, xin hỏi: Sau khi ly hôn cháu nội của tôi ở với mẹ ,tiền cấp dưỡng bố cháu vãn cung cấp. Do mắc bệnh hiểm nghèo con trai tôi chết, sau khi chết công ty bảo hiểm nhân thọ chi trả quyền lợi cho cháu nội tôi theo chỉ định ghi trong hợp đồng . sau khi con tôi chết tôi vẫn đưa tiền cấp dưỡng thay bố cháu và chăm sóc và nuôi dạy cháu vì cháu là dòng dõi duy nhất của gia đình tôi. nhưng mẹ cháu còn trẻ sẽ đi lấy chồng mà cháu còn chưa thành niên trong trường hợp này ông nội có thể là người đại diện cho cháu được không, nếu được thủ tục như thế nào. Tôi rất mong nhận được tư vấn của luật sư, xin chân thành cảm ơn.

Như vậy trường hợp này mẹ của cháu bé là người trực tiếp nuôi dưỡng con sau khi ly hôn. Nay nếu mẹ cháu có đi lấy chồng khác thì mẹ cháu có thể để cháu cho gia đình nhà nội nuôi dưỡng chăm sóc

Trong trường hợp này thì mẹ cháu có thể ủy quyền cho ông nội cháu là người đại diện cho cháu theo quy định tại

Điều 136. Đại diện theo pháp luật của cá nhân

1. Cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

2. Người giám hộ đối với người được giám hộ. Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đại diện theo pháp luật nếu được Tòa án chỉ định.

3. Người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đại diện quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.

4. Người do Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

>> Như vậy, thì mẹ cháu có thể ra ủy ban nhân dân xã để làm thủ tục thay đổi người đại diện cho con và ông của cháu sẽ làm thủ tục để trở thành người đại diện cho cháu

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc gì về ý kiến tư vấn xin hãy liên hệ với tổng đài 1900.6162 để được tư vấn trực tiếp.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

4. Thời gian giải quyết việc ly hôn là bao lâu và mức phí như thế nào ?

Thưa luật sư, Tôi và chồng tôi kết hôn từ tháng 3 năm 2014, tới tháng 1 năm 2015 thì làm đăng ký kết hôn tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của chồng. Trong quá trình chung sống giữa chúng tôi nảy sinh nhiều mâu thuẫn khó hàn gắn, không còn tôn trọng và chia sẻ cùng nhau.Tôi muốn nhờ luật sư tư vấn về thủ tục ly hôn đơn phương cho nhanh gọn nhất.

Cụ thể trường hợp của tôi như sau:

- Tôi hộ khẩu thường trú tại Quảng Ninh, chồng tôi hộ khẩu thường trú tại Bắc Kạn, cả hai cùng có sổ tạm trú tại Thanh Xuân Hà Nội cấp vào tháng 11/2015.

- Con chung: tôi hiện đang mang cháu đầu lòng được 7 tháng, dự sinh cuối tháng 11/2016. Theo tôi biết con dưới 3 tuổi sẽ được mẹ nuôi, tôi cũng không đòi hỏi chồng tôi phải chu cấp gì.

- Nợ chung: không có

- Tài sản chung: tự thỏa thuận Tôi xin được hỏi trường hơp của tôi có thể nộp đơn tại đâu, thủ tục cần những gì, các giấy tờ có cần bản công chứng không, vì hiện tôi không giữ bản gốc sổ hộ khẩu và chứng minh nhân dân của chồng.

Thời gian giải quyết việc ly hôn là bao lâu và mức phí như thế nào? Trường hợp ly hôn khi mang thai có gì cần lưu ý và việc ly hôn có thể hoàn tất trước khi tôi sinh con được không? Trường hợp việc ly hôn chưa hoàn tất tới thời điểm tôi sinh con, tôi có thể làm giấy khai sinh cho con mang họ của tôi được hay không? Tôi xin chân thành cảm ơn luật sư.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thời gian giải quyết việc ly hôn là bao lâu và mức phí như thế nào ?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, lưu ý về việc ly hôn khi phụ nữa đang mang thai:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình mới năm 2014 số 52/2014/QH13:

"3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi."

Trong trường hợp của chị thì chồng chị không có quyền yêu cầu ly hôn. Tuy nhiên, nếu như việc không ly hôn gây ảnh hưởng không tốt cho cuộc sống và sức khỏe của chị thì chị vẫn có quyền yêu cầu ly hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014.

Thứ hai, về thẩm quyền giải quyết yêu cầu ly hôn:

Căn cứ vào Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 số 92/2015/QH13 , thẩm quyền giải quyết các vụ án ly hôn được quy định như sau:

Điều 35: Thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp huyện:

1. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này;

b) Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật này;

c) Tranh chấp về lao động quy định tại Điều 32 của Bộ luật này.

Như vậy, trường hợp của bạn thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân dân cấp huyện nơi cơ trú của một/hai bên

Thứ ba, về thủ tục ly hôn cần:

Hồ sơ yêu cầu ly hôn bao gồm:

+ Đơn xin ly hôn thuận tình (theo mẫu: Đơn ly hôn thuận tình);

+ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính/ bản sao công chứng);

+ CMND và hộ khẩu; Nếu chồng bạn đã mất chứng minh nhân dân và không có sổ hộ khẩu thì chồng bạn cần xin xác nhận từ phía công an xã, phường nơi chồng bạn cư trú về việc mất giấy tờ và xin xác nhận chồng bạn có cư trú tại địa phương.

+ Giấy khai sinh các con (nếu đã có con);

-Thủ tục tiến hành ly hôn như sau:

+ Bước 1: Nộp hồ sơ yêu cầu/khởi kiện về việc xin ly hôn tại TAND có thẩm quyền;

+ Bước 2: Sau khi nhận đơn khởi kiện cùng hồ sơ hợp lệ, Tòa án kiểm tra đơn và nếu đầy đủ thì Tòa thông báo nộp tiền tạm ứng án phí;

+ Bước 3: Nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền và nộp lại biên lai tiền tạm ứng án phí cho Tòa án;

+ Bước 4: Tòa án sẽ triệu tập và tiến hành thủ tục theo quy định pháp luật để xem xét ra Quyết định công nhận ly hôn.

- Thời gian tòa án giải quyết yêu cầu ly hôn thuận tình: Từ 1 đến 2 tháng.

- Án phí: 300.000 đồng

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

5. Tư vấn chia tài sản thừa kế sau khi ly hôn ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Anh Cường và chị Hà kết hôn năm 1989, có 2 con gái là Ngọc sinh năm 1990 (đi làm tại một công ty nước ngoài) và Hạnh sinh nắm 1996. Năm 2008, Cường đi tu nghiệp sinh ở Nhật Bản và chung sống như vợ chồng với Chi, hai người đã có một con chung là Hiệp sinh năm 2010. Tháng 11/2013 Cường về nước và yêu cầu Hà ly hôn, Chị Hà đồng ý, Tòa án đã thụ lý đơn. Ngày 8/1/2014, Cường bị nhồi máu cơ tim, trước khi chết Cường di chúc để lại cho Chi, Hiệp, Ngọc mỗi người một phần đều nhau. Chi đến đòi tài sản thừa kế của anh Cường nhưng gia đình anh Cường không đồng ý. Vì vậy Chi đã làm đơn kiện yêu cầu Tòa án giải quyết. Biết rằng: - Cường và Chi cùng kinh doanh và có khối tài sản chung là 4 tỷ đồng.
- Tài sản chung của Cường và Hà là 880 triệu đồng.
- Tháng 8/2013, Cường được hưởng di sản thừa kế từ ông nội 300tr, chị Hà giữ, khi về nước Cường đã đòi lại khoản tiền đó từ vợ.
1. Chia thừa kế trong trường hợp này ?
2. Giả sử Ngọc vì giận bố phản bội mẹ, làm tan vỡ hạnh phúc gia đình nên đã thuê người đánh Cường và Chi gây thương tích và bị tòa án kết an hành vi này. Hãy chia di sản anh Cường trong trường hợp anh Cường không để lại di chúc ?
Em cảm ơn

Trả lời:

1. Chia tài sản thừa kế:

Tài sản riêng của anh Cường là : 300 triệu.

Tài sản chung của anh Cường và chị Hà: 880 triệu đồng.

Tài sản chung của Anh Cường và chị Chi là: 4 tỷ đồng

Căn cứ quy định tại Bộ luật dân sự 2015 như sau:

Điều 213. Sở hữu chung của vợ chồng

1. Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia.

2. Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

3. Vợ chồng thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

4. Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án.

5. Trường hợp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình thì tài sản chung của vợ chồng được áp dụng theo chế độ tài sản này.

Theo quy định trên thì tài sản chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất, do đó, cả người đều có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng định đoạt. Phần tài sản chung này nếu hai bên không có thỏa thuận khác thì mỗi người sẽ được hưởng là 440 triệu đồng.

Như vậy, số tài sản riêng của anh Cường trong số tài sản chung với chị Hà là 440 triệu đồng.

Số tài sản chung của anh Cường và chị Chi nếu như không có thỏa thuận khác thì mỗi người sẽ được chia đều là mỗi người 2 tỷ.

Do đó, tổng số tài sản riêng của anh Cường là: 300 triệu đồng ( tài sản riêng ) + 440 triệu đồng ( tài sản riêng trong khối tài sản chung với chị Hà ) + 2 tỷ ( tài sản riêng trong khối tài sản chung với chị Chi)= 2 tỷ 740 triệu.

Di chúc của anh Cường chỉ để lại tài sản cho Chi, Hiệp, Ngọc mỗi người một phần đều nhau.

Tuy nhiên, căn cứ quy định tại điều 644, Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:

Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.

Theo quy định trên thì số tài sản của anh Cường khi chia theo pháp luật thì người được hưởng là: Chị Hà, Ngọc, Hạnh và Hiệp. Chị Chi không được hưởng vì chị Chi không phải là vợ hợp pháp của anh Cường. Khi đó, phần tài sản 2 tỷ 740 triệu chia cho 4 phần thì mỗi người sẽ được hưởng số di sản là 685 triệu.

Do đó, căn cứ quy định trên thì:

- Chị Hà vẫn được hưởng phần si sản 2/3 bằng với di sản của người thừa kế thoe pháp luật. Theo đó, chị Hà sẽ được hưởng 456 triệu đồng.

- Đối với Hạnh, con chung của chị Hà và Anh Cường thì nếu Hạnh không còn khả năng lao động thì vẫn được hưởng di sản thừa kế mà không phụ thuộc vào nội dung di chúc, trường hợp Hạnh có khả năng lao động bình thường thì sẽ không được hưởng di sản thừa kế theo quy định trên. Trường hợp Hạnh được hưởng thì số di sản được hưởng là 456 triệu đồng.

Mà theo di chúc anh Cường chỉ để lại di sản cho chị Chi, Ngọc, Hiệp. Khi đó, mỗi người sẽ được hưởng số di sản là:

- Thứ nhất, trường hợp: Chị Hà và Hạnh đều được hưởng di sản không phụ thuộc vào di chúc thì Chi, Hiệp, Ngọc được hưởng là: 2 tỷ 740 - ( 456+456) : 3 = 609 triệu đồng/ người.

- Thứ hai, trường hợp: Hạnh không được hưởng di sản mà chỉ có chị Hà mới được hưởng thì số tài sản mà Chi, Hiệp, Ngọc được hưởng là: 2 tỷ 740 - 456 :3 = 761 triệu đồng / người.

- Thứ ba, trường hợp: Cả Hạnh và Chị Hà từ chối nhận di sản thừa kế thì Chi, Hiệp, Ngọc được hưởng số di sản là: 2 tỷ 740 : 3 = 913 triệu/ người.

2. Chia di sản thừa kế khi không có di chúc

Căn cứ quy định tại Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:

Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Trường hợp này anh Cường không để lại di chúc, thì những người được hưởng thừa kế gồm: Chị Hà, Ngọc, Hiệp và Hạnh. Những người này cùng hàng thừa kế nên cùng được hưởng phần di sản bằng nhau. Chị Chi không phải là vợ hợp pháp của anh Cường nên không thuộc trường hợp được hưởng di sản thừa kế. Như vậy, mỗi người sẽ được số di sản thừa kế là: 2 tỷ 740 : 4 = 685 triệu đồng/ người.

Tuy nhiên, Ngọc không được hưởng di sản thừa kế vì thuộc trường hợp không đuộc quyền hưởng di sản theo quy định tại điều 621, Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:

Điều 621. Người không được quyền hưởng di sản

1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.

Do đó, người được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật sẽ là: Chị Hà, Hiệp, Hạnh mỗi người là 913 triệu/ người.

Thưa luật sư, xin hỏi: Anh rể em và chị gái đã li hôn. Nhưng tòa chỉ giải quyết li hôn và con gái do chị em nuôi. Chị gái em muốn đựơc chồng trợ cấp nuôi con cho đến năm 18 tuổi thì làm đơn theo, mẫu nào ạ?

Trường hợp này, căn cứ quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

" Điều 110. Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con

Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.

Điều 116. Mức cấp dưỡng

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Điều 117. Phương thức cấp dưỡng

Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần.

Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết".

Như vậy, trường hợp này, việc cấp dưỡng là nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chưa thành niên dưới 18 tuổi. Do đó, dù người mẹ không làm đơn yêu cầu thì người cha cũng phải cấp dưỡng cho con đến khi con đủ 18 tuổi. Vấn đề cấp dưỡng này hai bên có thể thỏa thuận với nhau, trường hợp không thỏa thuận được thì hai bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận luật sư hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Hướng dẫn viết đơn xin ly hôn như thế nào ? Giải quyết tranh chấp tài sản sau ly hôn ?