ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH ĐIỆN BIÊN

_________

Số: 06/2006/CT-UBND

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

________________________

Điện Biên, ngày 20 tháng 04 năm 2006

CHỈ THỊ

Về việc tăng cường công tác bảo vệ bí mật nhà nước trên địa ban tỉnh Điện Biên 

__________________

Qua hơn 5 năm thực hiện Pháp lệnh bảo vệ Bí mật Nhà nước sửa đổi, bổ sung năm 2000, công tác bảo vệ Bí mật Nhà nước trên địa bàn tỉnh Điện Biên đã được củng cố, tăng cường, các cơ quan từ tỉnh đến các huyện, thị xã, thành phố đã nghiêm túc triển khai thực hiện đạt hiệu quả, chưa để xảy ra vụ mất tài liệu mật nào; góp phần giữ vững ANCT, TTATXH trên địa bàn tỉnh.

Tuy nhiên việc quán triệt tổ chức thực hiện Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư hướng dẫn và các quy định của Chính phủ về bảo vệ Bí mật Nhà nước chưa thực sự sâu rộng tới toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Một số cơ quan, đơn vị trong công tác quản lý, khai thác sử dụng tài liệu mật có mặt thiếu chặt chẽ, còn bộc lộ sơ hở mất cảnh giác nhất là việc cung cấp trao đổi thông tin cho người nước ngoài. Một số cơ quan đơn vị chưa xây dựng quy chế, chưa phân công cụ thể cho tổ chức, cá nhân trong công tác bảo vệ Bí mật Nhà nước, các phương tiện cần thiết cho công tác bảo mật ở nhiều cơ quan đơn vị chưa được đảm bảo. Sự phối hợp giữa các lực lượng, cơ quan, ban, ngành từ tỉnh đến các cơ sở chưa đồng bộ, thường xuyên - thiếu chặt chẽ, dẫn đến phát huy sức mạnh tổng hợp trong việc thực hiện Pháp lệnh và Quy chế bảo mật có phần còn hạn chế.

Để khắc phục tình trạng trên, UBND tỉnh chỉ thị các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, các lực lượng vũ trang tỉnh ức UBND các huyện, thị xã, thành phố thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau:

1 Tổ chức kiểm điểm, đánh giá nghiêm túc công tác bảo vệ Bí mật Nhà nước ở cơ quan, đơn vị mình trong thời gian qua, rút ra những nguyên nhân kết quả đạt được và những mặt còn hạn chế để có biện pháp khắc phục sơ hở, thiếu sót, không để lộ lọt Bí mật Nhà nước.

2. Tiếp tục quán triệt Pháp lệnh bảo vệ Bí mật Nhà nước năm 2000, Nghị định số 33/2002/NĐ-CP ngày 28/3/2002 của Chính phủ về quy định chi tiết thỉ hành Pháp lệnh bảo vệ Bí mật Nhà nước, Thông tư số 12/2002/TT-BCA (A11) ngày 13/9/2002 của Bộ Công an hướng dẫn thực hiện Nghị định số 33/2002/NĐ- CP, Quyết định số 181/2004/QĐ-TTg ngày 15/10/2004 của Thủ tướng Chính phủ về danh mục Bí mật Nhà nước độ tuyệt mật, tối mật đối với cấp tỉnh, Quyết định 1279/2004/QĐ-BCA (A11) ngày 10/11/2004 của Bộ trưởng Bộ Công an về danh mục bảo vệ Bí mật Nhà nước đối với cấp tỉnh, Chỉ thị số 48-CT/TW ngày 14/02/2005 của Bộ chính trị về "bảo vệ Bí mật của Đảng trong phát ngôn và bảo quản thông tin tài liệu trong tình hình mới" tới toàn thể cán bộ, công chức và nhân dân trong toàn tỉnh nhằm nâng cao tinh thần cảnh giác, ý thức trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên, chiến sỹ lực lượng vũ trang và nhân dân trong công tác bảo vệ Bí mật Nhà nước.

3. Đối với những cơ quan, đơn vị chưa có quy chế bảo mật, yêu cầu phải xây dựng quy chế ngay. Những cơ quan đơn vị đã xây dựng quy chế, thì sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình và chức năng, nhiệm vụ của đơn vị mình.

4- Nghiêm chỉnh chấp hành quy định bảo mật trong các khâu từ soạn thảo, in sao, vận chuyển, giao nhận, lưu trữ, bảo quản, phổ biến, cung cấp... Tài liệu, vật mang Bí mật Nhà nước. Tất cả các loại tài liệu mật khi phát hành, phải đóng dấu độ mật (Tuyệt mật, tối mật, mật) theo hướng dẫn của Bộ Công an tại Thông tư số 12/2002/TT-BCA (A11) ngày 13/9/2002.

5. Các cơ quan đơn vị căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ đề bố trí đủ cán bộ có năng lực và trình độ chuyên môn làm công tác bảo mật tại cơ quan, đơn vị mình. Trang bị đầy đủ phương tiện và tạo điều kiện cần thiết phục vụ công tác bảo vệ Bí mật Nhà nước. Tăng cường quản lý, giáo dục cán bộ nắm giữ Bí mật Nhà nước, cán bộ đi công tác nước ngoài, hoặc làm việc với người nước ngoài; quản lý chặt chẽ hoạt động của người nước ngoài trên địa bàn tỉnh; quản lý chặt chẽ các hoạt động thông tin liên lạc, nhất là qua mạng viễn thông. Cơ quan, đơn vị và cá nhân nào mang tài liệu ra nước ngoài, cung cấp tin, tài liệu, vật mang Bí mật Nhà nước cho người nước ngoài chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt, làm lộ bí mật, mất tài liệu mật thì Thủ trưởng cơ quan đơn vị đó phải chịu trách nhiệm liên đới trước cấp trên về mọi hậu quả xảy ra. Khi phát hiện dấu hiệu lộ lọt, mất tài liệu Bí mật Nhà nước phải phối hợp cơ quan chức năng tổ chức truy xét làm rõ vụ việc, xử lý nghiêm người vi phạm.

6. Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị phải thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo về công tác bảo vệ Bí mật Nhà nước trong phạm vi quản lý của mình .

- Các vụ việc lộ lọt mất Bí mật Nhà nước xảy ra hoạt các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ Bí mật Nhà nước, gây phương hại đến an ninh Quốc gia hoặc lợi ích của Nhà nước phải báo cáo kịp thời đến cơ quan Công an để phối hợp làm rõ.

- Định kỳ hàng năm các sở, ban, ngành, cơ quan, đơn vị; UBND các huyện, thị xã, thành phố, lực lượng vũ trang gửi báo cáo sơ kết về UBND tỉnh trước ngày 30/10, thông qua Công an tỉnh để tổng hợp báo cáo UBND Tỉnh nắm chỉ đạo.

7. Giao cho Công an tỉnh thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về bảo vệ Bí mật Nhà nước trên phạm vi toàn tỉnh, có nhiệm vụ sau:

- Tiến hành thanh tra, kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất trong lĩnh vực bảo vệ bí mật Nhà nước đối các cơ quan, tổ chức ở địa phương; tham mưu cho UBND tỉnh ra quyết định trưng tập cán bộ một số cơ quan để thành lập đoàn thanh tra, kiểm tra định kỳ theo quy định.

Giúp UBND tỉnh tổng hợp báo cáo sơ kết công tác bảo vệ Bí mật Nhà nước của địa phương theo quy định của Pháp lệnh để báo cáo Chính phủ, Bộ Công an.

Nhận được Chỉ thị này, các Sở, ban, ngành đoàn thể tỉnh, các lực lượng vũ trang tỉnh và UBND các huyện, thị xã, thành phố nghiêm túc triển khai thực hiện./.

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN

KT.CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

 (Đã ký)

Bùi Viết Bính