ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 10/CT-UBND

Tây Ninh, ngày 22 tháng 9 năm 2014

CHỈ THỊ

VỀ MỘT SỐ BIỆNPHÁP CHẤN CHỈNH TÌNH TRẠNG LẠM DỤNG YÊU CẦU NỘP BẢN SAO CÓ CHỨNG THỰC ĐỐI VỚIGIẤY TỜ, VĂN BẢN KHI THỰC HIỆN THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

Ngày 18 tháng 5 năm 2007, Chính phủ ban hànhNghị định số 79/2007/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bảnchính, chứng thực chữ ký (sau đây gọi là Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ) Để triểnkhai thi hành Nghị định số 79/2007/NĐ-CP trong những năm qua, Ủy ban Nhân dâncấp huyện, cấp xã trên địa bàn tỉnh đã bố trí nguồn nhân lực, cơ sở vật chất đểthực hiện nhiệm vụ được giao, đáp ứng cơ bản nhu cầu của cá nhân, tổ chức trongviệc chứng thực bản sao từ bản chính giấy tờ, văn bản.

Bản sao được chứng thực từ bản chính (sau đâygọi là bản sao có chứng thực) có giá trị pháp lý sử dụng thay cho bản chính, dođó phần nào đã tạo thuận lợi cho người dân, tạo sự yên tâm cho cơ quan, tổ chứckhi tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính. Theo quy định tại Điều 6 của Nghịđịnh số 79/2007/NĐ-CP thì:

“1. Cơ quan, tổ chức tiếp nhận bản sao được cấptừ sổ gốc, bản sao được chứng thực từ bản chính không được yêu cầu xuất trìnhbản chính để đối chiếu.

2. Cơ quan, tổ chức tiếp nhận bản sao không cóchứng thực có quyền yêu cầu xuất trình bản chính để đối chiếu. Người đối chiếuphải ký xác nhận vào bản sao và chịu trách nhiệm về tính chính xác của bản saoso với bản chính”.

Thực hiện quy định này, một số cơ quan có thẩmquyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến thủ tục hành chínhđã quy định theo hướng cá nhân, tổ chức có quyền lựa chọn việc nộp bản sao từsổ gốc, bản sao có chứng thực hoặc nộp bản sao không có chứng thực xuất trìnhkèm bản chính để đối chiếu.

Tuy nhiên, trên thực tế, để đáp ứng yêu cầu thựchiện thủ tục hành chính, đa số các cá nhân, tổ chức vẫn phải nộp bản sao cóchứng thực giấy tờ, văn bản. Chính vì vậy, nhu cầu chứng thực bản sao từ bảnchính giấy tờ, văn bản của cá nhân, tổ chức ngày càng gia tăng, từ đó dẫn đếntình trạng sử dụng bản sao có chứng thực đã vượt quá sự cần thiết và trở thànhhiện tượng “Lạm dụng” bản sao có chứng thực. Việc làm này không những gây phiềnhà, tốn kém cho người dân, lãng phí cho xã hội mà còn tạo nên áp lực, quá tảiđối với Ủy ban Nhân dân cấp huyện, cấp xã trong công tác chứng thực.

Thực trạng trên xuất phát từ nhiều nguyên nhânkhác nhau, trong đó có một số nguyên nhân cơ bản sau đây:

- Một số cá nhân, tổ chức nhận thức chưa đầy đủvề việc sử dụng bản sao nói chung và bản sao có chứng thực nói riêng khi giảiquyết thủ tục hành chính theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ;

- Các văn bản quy phạm pháp luật, cá biệt có cảvăn bản hành chính do cơ quan, tổ chức trực tiếp giải quyết thủ tục hành chínhban hành (như quyết định, công văn, thông báo...) quy định về giấy tờ phải nộptrong thành phần hồ sơ bắt buộc phải là bản sao có chứng thực mà không quy địnhtheo hướng, cá nhân, tổ chức có quyền lựa chọn nộp bản sao từ sổ gốc, bản saocó chứng thực hoặc nộp bản sao xuất trình kèm bản chính để đối chiếu theo quyđịnh tại Điều 6 của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ;

- Một bộ phận công chức, viên chức khi tiếp nhậnhồ sơ giải quyết thủ tục hành chính do tâm lý “Ngại” đối chiếu, “Sợ tráchnhiệm” nên đã yêu cầu cá nhân, tổ chức nộp bản sao từ sổ gốc, bản sao có chứngthực mà không tiếp nhận bản sao để tự đối chiếu với bản chính.

Để chấn chỉnh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộpbản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản nhằm giảm chi phí cho cá nhân,tổ chức khi thực hiện thủ tục hành chính và thực hiện tốt Chỉ thị số 17/CT-TTg ngày 20/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ về một số biện pháp chấn chỉnh tìnhtrạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khithực hiện thủ tục hành chính, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh yêu cầu các sở,ban, ngành tỉnh, UBND các huyện, thành phố, UBND các xã, phường, thị trấn kịpthời triển khai các nội dung sau:

1. Tiếp tục tổ chức tuyên truyền, phổ biến nộidung quy định tại Điều 6 Nghị định số 79/2007/NĐ-CP về quyền của các cá nhân,tổ chức khi trực tiếp thực hiện thủ tục hành chính thì các giấy tờ trong thànhphần hồ sơ có thể là bản sao từ sổ gốc, bản sao có chứng thực hoặc nộp bản saoxuất trình kèm bản chính để đối chiếu;

2. Quán triệt thực hiện nghiêm túc quy định tạiĐiều 6 Nghị định số 79/2007/NĐ-CP Theo đó, khi cá nhân, tổ chức trực tiếp thựchiện thủ tục hành chính nộp bản sao từ sổ gốc, bản sao có chứng thực thì khôngđược yêu cầu xuất trình bản chính để đối chiếu; trường hợp nộp bản sao không cóchứng thực và xuất trình kèm bản chính thì công chức, viên chức tiếp nhận hồ sơcó trách nhiệm tự kiểm tra, đối chiếu bản sao với bản chính và chịu trách nhiệmvề tính chính xác của bản sao so với bản chính mà không yêu cầu cá nhân, tổchức nộp bản sao có chứng thực;

3. Tổ chức rà soát các văn bản quy phạm phápluật do Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân các cấp ban hành hoặc những văn bảndo cơ quan, tổ chức trực thuộc ban hành dưới hình thức quyết định, thông báo,công văn và các hình thức văn bản khác, phát hiện những quy định về thủ tụchành chính trái với quy định tại Điều 6 Nghị định số 79/2007/NĐ-CP để kiến nghịsửa đổi, bổ sung hoặc sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền cho phù hợp; hoàn thành trướcngày 28 tháng 02 năm 2015;

4. Tăng cường kiểm tra, giám sát cách thức thựchiện cơ chế “Một cửa”, “Một cửa liên thông” tại cơ quan, đơn vị mình nhằm chấnchỉnh kịp thời tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực giấy tờ,văn bản trái với quy định tại Điều 6 của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ;

5. Bố trí đủ nguồn nhân lực, cơ sở vật chất đápứng yêu cầu sao giấy tờ, văn bản của cá nhân, tổ chức khi thực hiện thủ tụchành chính. Thường xuyên quan tâm công tác bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyênmôn, giáo dục ý thức, trách nhiệm của công chức, viên chức trực tiếp tiếp nhậnhồ sơ, giải quyết thủ tục hành chính.

Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh yêu cầu các sở,ban, ngành tỉnh, UBND các huyện, thành phố, UBND các xã, phường, thị trấn triểnkhai có hiệu quả các nội dung trên và báo cáo kết quả thực hiện về UBND tỉnh(thông qua Sở Tư pháp để tổng hợp) trước ngày 31/3/2015 báo cáo Bộ Tư pháp./.

CHỦ TỊCH




Nguyễn Thị Thu Thủy