CHỉ THị

CHỈ THỊ

CỦA BỘ VĂN HOÁ THÔNG TIN SỐ 18/VHTT NGÀY 20THÁNG 3 NĂM 1996 VỀ ỨNG DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNGNGÀNH VĂN HOÁ THÔNG TIN

Mục đích của việc phát triển công nghệ thông tin (CNTT) trong ngànhVHTT là sử dụng CNTT nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tintrong nước cũng như trên thế giới phục vụ công tác quản lý nhà nước, nâng caonăng suất và chất lượng sản phẩm của các đơn vị sự nghiệp và sản xuất kinhdoanh, tích hợp nguồn tài nguyên thông tin phục vụ nhu cầu nghiên cứu khoa họcvà khai thác thông tin của các đơn vị trong và ngoài ngành, trong và ngoàinước.

I. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CNTTTRONG NGÀNH VHTT

1. Căn cứ pháp lý về phát triểnCNTT

Ngày 04/08/1993. Thủ tướng Chínhphủ đã ký ban hành Nghị quyết số 49/CP của Chính phủ về việc phát triển CNTT ởnước ta trong những năm 90.

Ngày 11/4/1994, Bộ Khoa học Côngnghệ và Môi trường ban hành Thông tư hướng dẫn triển khai Nghị quyết 49/CP củaChính phủ.

Ngày 7/4/1995, Thủ tướng Chínhphủ có Quyết định số 211/TTg phê duyệt chương trình CNTT Kế hoạch tổng thể đếnnăm 2000.

Ngày 12/6/1995, Bộ trưởng Bộ Vănhoá Thông tin ra Quyết định số 2142/TC-QĐ thành lập Ban chỉ đạo phát triển CNTTthuộc Bộ Văn hoá Thông tin.

Ngày 22/6/1995, Ban chỉ đạochương trình quốc gia về CNTT đã ban hành Thông tư hướng dẫn số 83/BCĐ-KHTC triển khai chương trình quốc gia về CNTT.

2. Tình hình phát triển CNTTtrong ngành VHTT.

Do yêu cầu của công tác quản lý,nghiên cứu, sản xuất, tuỳ theo đặc thù của các đơn vị trong ngành, việc áp dụngCNTT đã được đưa vào dưới nhiều hình thức khác nhau và đã đạt được một số thànhquả đáng kể, song do phát triển có tính tự phát nên còn tồn tại nhiều hạn chế.Các vấn đề trên có thể tóm tắt như sau:

a. Một số kết quả đã đạt được

Bộ đã trang bị máy vi tính, thiếtlập mạng truyền thông e-mail tới tất cả các Sở. Một phần công tác quản lý và xửlý văn bản tại Bộ và các Sở đã sử dụng máy vi tính. Thông qua mạng điện thư,các văn bản, báo cáo, tin tức của Bộ gửi tới các Sở, giữa các Sở với Bộ và giữacác Sở với nhau đã đáp ứng được một phần nhu cầu truyền thông hiện đại.

Thư viện Quốc gia được tài trợcủa nước ngoài và ngân sách của Bộ đã tiến hành trang bị máy tính và nối mạngvới các Thư viện tỉnh. Qua hệ thống mạng thư viện có thể nối mạng với thư việnquốc tế do có sự hoà nhập, sử dụng chuẩn mạng và phần mềm thư viện quốc tế. Cácthư viện tỉnh đang tiến hành lập thư mục điện tử giúp cho việc tra cứu của bạnđọc nhanh chóng. Điển hình trong công tác này là thư viện TPHCM.

Tại một số đơn vị sản xuất kinhdoanh đã đầu tư CNTT vào quy trình công nghiệp, làm tăng một phần năng suất vàchất lượng sản phẩm. Đặc biệt là ngành in, do chuyển giao CNTT hiện đại nêm mộtsố sản phẩm ngành in đã có thể cạnh tranh với sản phẩm nước ngoài.

Một số thông tin kinh tế xã hộiđang được tích hợp và khai thác phục vụ nhu cầu của các doanh nghiệp, tổ chứcxã hội và cá nhân. Tiêu biểu là trung tâm DATABANK thuộc sở VHTT TPHCM.

b. Những hạn chế cần phải khắcphục

Việc ứng dụng CNTT tập trung ởcác thành phố, các đơn vị lớn, các đơn vị sản xuất kinh doanh và một phần tạicơ quan Bộ. Phần lớn các đơn vị tại các Sở VHTT, các đơn vị sự nghiệp hầu nhưchưa ứng dụng có hiệu quả CNTT

Cán bộ hoạt động về CNTT trongtoàn ngành, đặc biệt là các Sở VHTT, còn quá ít, không đồng đều về trình độ vàchưa được ưu tiên, chú ý bồi dưỡng, đào tạo.

Do chưa có mạng máy tính nên hiệuquả sử dụng của các máy tính đơn lẻ còn rất thấp, không ứng dụng được các phầnmềm lớn có vai trò thúc đẩy sự phát triển như các phần mềm tự động hoá, các hệthống thông tin quản lý, khả năng chia xẻ, khai thác thông tin, dẫn đến tìnhtrạng thất thoát và tái phân tán thông tin.

Bộ chưa có trung tâm nghiên cứuphát triển, tiếp thu kinh nghiệm của các ngành trong nước cũng như nước ngoàinên trong quá trình phát triển vẫn còn mang tính kinh nghiệm. Bộ chưa có cáccông trình nghiên cứu, đề tài khoa học, hội thảo khoa học bàn về phát triểnCNTT cho những vấn đề đặc thù của ngành Văn hoá Thông tin. Đây cũng là nguyênnhân dẫn đến tình trạng phát triển tự phát, thiếu nhất quán của các đơn vị trongcả nước.

Trước tình hình trên, đòi hỏitoàn ngành phải chú ý đẩy mạnh phát triển CNTT trên tất cả các phương diện:Quản lý, Sản xuất, Dịch vụ, NCKH... tránh tình trạng tụt hậu so với các ngànhkhác, giúp cho việc quản lý khai thác tài nguyên thông tin hiệu quả hơn và hoàchung vào tiến trình "xã hội hoá thông tin" trong cả nước.

II.PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂNCNTT TRONG NGÀNH VHTT

1. Phương hướng chung

Phát triển CNTT trong ngành VHTTphải xác định rõ vai trò quản lý, sản xuất của ngành mang tính chất đặc thù rõrệt. Việc ứng dụng CNTT vào ngành VHTT nhằm nâng cao năng suất, chất lượng côngtác quản lý, sản phẩm văn hoá, nghệ thuật. CNTT phục vụ cho việc phổ biến, giaolưu văn hoá thuận lợi và nhanh chóng hơn, với mục đích là xoá "vùngtrắng" văn hoá trên các thiết bị truyền thông đa phương tiện.

Trong nước ta hiện nay đã cónhiều ngành phát triển trước, do đó việc phát triển CNTT ở các đơn vị trongngành phải tiếp thu công nghệ, kinh nghiệm từ các đơn vị đó để tránh tình trạng"sa lầy" về công nghệ. Việc chuyển giao công nghệ phải đảm bảo làcông nghệ hiện đại và phù hợp cho công tác chuyên môn của từng đơn vị.

Việc phát triển CNTT trong ngànhphải tiến kịp và vượt lên nắm khâu then chốt, đặc biệt là vấn đề dịch vụ mạngtin học. Trên cơ sở đó Bộ mới đủ sức để quản lý các loại thông tin trên mạng,nhất là quản lý các nguồn thông tin quốc tế khi Internet cũng như các mạng Quốctế khác xâm nhập vào Việt Nam.

2. Mục tiêu xây dựng và pháttriển CNTT 1996-2000

Xây dựng hệ thống mạng cấp ngành,trong đó các đơn vị tự xây dựng mạng của mình. Bộ sẽ tiến hành tích hợp liênmạng, liên kết các mạng của các đơn vị để trở thành mạng phủ khắp cả nước.

Nhanh chóng đưa các hệ thốngthông tin quản lý vào hoạt động quản lý ngành góp phần làm tăng năng lực quảnlý của Bộ cũng như các đơn vị trong ngành. Tích hợp các thông tin mới sản sinh,làm tươi các thông tin lưu trữ, xây dựng ngân hàng dữ liệu chuyên ngành, đưathông tin lên mạng và tạo ra các sản phẩm thông tin khác để phục vụ nhu cầukhai thác và nghiên cứu của các đơn vị và cá nhân trong và ngoài ngành.

Hoà nhập với mạng quốc gia phụcvụ công tác quản lý nhà nước của Chính phủ cũng như tất cả các ngành liên quan.

Ghép nối với đầu nguồn mạng thôngtin quốc tế với mục đích là quản lý, kiểm soát thông tin trên mạng, truyền tảinối tiếp một phần thông tin về văn hoá. Sử dụng mạng quốc tế để truyền bá vănhoá Việt Nam tới các nước trên thế giới và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa vănhoá, khoa học kỹ thuật của các nước.

Xây dựng mạng dịch vụ về khaithác dữ liệu, tra cứu, truyền tin góp phần đẩy mạnh sự nghiệp thông tin của Bộ.

III. NỘI DUNG PHÁT TRIỂNCNTT NGÀNH VHTT

1. CNTT phục vụ công tác quản lý

CNTT phục vụ công tác quản lý nhànước nhằm cung cấp đầy đủ các thông tin đáp ứng yêu cầu quản lý trong ngành.Cần chú trọng đến công tác quản lý văn bản, tài liệu, nhân sự, tài chính, vậttư... cũng như công tác triển khai kế hoạch trong ngành. CNTT phục vụ công tácnày bao gồm: Mạng tin học, các phần mềm tự động hoá Văn phòng, các Hệ thốngthông tin quản lý hành chính, Hệ thống thông tin quản lý kinh tế tổng hợp...

2. CNTT phục vụ các đơn vị sựnghiệp

Các đơn vị sự nghiệp bao gồmnhiều khối. Mỗi khối có yêu cầu ứng dụng CNTT khác nhau do đó việc ứng dụngCNTT là hoàn toàn khác nhau, trừ công tác quản lý. Phải chú ý áp dụng công nghệthông tin vào việc bảo vệ và phát huy di sản văn hoá dân tộc.

Khối Bảo tàng và Thư viện hiệntại đang lưu trữ một khối lượng thông tin rất lớn, do đó việc ứng dụng CNTT cầnchú trọng tới việc xây dựng những ngân hành dữ liệu, các chương trình tiện íchvà các sản phẩm thông tin phục vụ công tác tra cứu và truyền tải thông tin.

Khối nhà hát, đoàn nghệ thuật cầnáp dụng cho việc điều khiển các trang thiết bị ánh sáng, âm thanh, thiết kế xâydựng chương trình biểu diễn, thiết kế sân khấu...

Ngoài việc sử dụng CNTT vào côngtác nghiên cứu khoa học, khối các viện cần nghiên cứu đề xuất các phương phápkhoa học giúp cho việc áp dụng tin học vào các đề tài một cách chuẩn mực vàhiệu quả, đồng thời ứng dụng CNTT vào công tác điều tra sưu tầm, lưu trữ lâudài và khai thác phát huy vốn tài sản văn hoá nghệ thuật dân tộc.

3. CNTT phục vụ các đơn vị sảnxuất

Nâng cao năng xuất, chất lượng vàhạ giá thành sản phẩm là mục đích chính của việc áp dụng CNTT trong các đơn vịsản xuất kinh doanh. Các đơn vị sản xuất cần đề ra các phương án tối ưu choviệc chọn phương hướng đầu tư, nhập công nghệ, CNTT được áp dụng cho từng đơnvị là khác nhau.

Ngành in cần áp dụng cho việc dàntrang, xử lý ảnh, chế bản, lưu trữ, điều khiển quy trình sản xuất.

Ngành nhiếp ảnh cần áp dụng CNTTvào khâu chụp ảnh, xử lý ảnh.

Ngành Báo chí, Xuất bản cần CNTTcho công tác biên tập, truy vấn tin, kiểm tra, phát hành... Cần chú trọng tớicông tác quản lý việc phát hành tin tức, báo, tạp chí, sách cũng như các dạngthông tin khác trên mạng tin học đang trên đà phát triển hiện nay.

Ngành Điện ảnh cần nhanh chóng ápdụng CNTT trong việc sản xuất phim hoạt hình, các kỹ thuật lồng ghép hình ảnh,âm thanh, áp dụng trong việc xây dựng các rạp chiếu phim lập thể...

4. CNTT phục vụ công tác nghệthuật

CNTT hiện nay đã đáp ứng đầy đủnhu cầu nghiên cứu, sáng tác nghệ thuật. Để CNTT có thể phục vụ tốt cho côngtác sáng tác nghệ thuật, trước hết phải xây dựng các ngân hàng dữ liệu về —mnhạc, Sân khấu, Điện ảnh, các tác phẩm Nghệ thuật, các phương pháp và quy trìnhsáng tạo nghệ thuật sử dụng CNTT.

CNTT ứng dụng trong việc truyềnbá tinh hoa văn hoá dân tộc, nghệ thuật Việt Nam ra bên ngoài và nghiên cứugiới thiệu có chọn lọc các trường phái nghệ thuật khác trên thế giới.

5. CNTT trong công tác đào tạo

Đối với khối các trường thuộc Bộcần nhanh chóng trang bị và nhanh chóng đưa CNTT vào chương trình đào tạo đểbảo đảm các cán bộ tương lai của ngành văn hoá thông tin có đầy đủ khả năng ứngdụng CNTT. Chấn chỉnh và xây dựng quy trình đạo tạo CNTT trong các trườngchuyên ngành văn hoá trên cơ sở trang bị mới thiết bị CNTT trong các trường học(tránh tình trạng các thiết bị CNTT trong khối đào tạo luôn bị lạc hậu), đàotạo huấn luyện sử dụng phần mềm theo hướng ứng dụng.

Tăng cường đào tạo CNTT, đối vớitrình độ đại học chương trình đào tạo phải đảm bảo các yêu cầu: sử dụng đượcphầm mềm Văn phòng, khai thác phần mềm phục vụ chuyên ngành...

6. CNTT trong dịch vụ thông tinxã hội

Xây dựng mạng dịch vụ về văn hoágiúp cho việc quảng bá nền văn hoá Việt Nam tới các tổ chức, cá nhân trong vàngoài nước. Qua mạng tin học dịch vụ giới thiệu nền văn hoá của các quốc giatrên thế giới. Việc thành lập mạng dịch vụ dựa trên cơ sở mạng của ngành sẽgiúp cho tiến trình phổ cập "văn hoá thông tin" nhanh chóng hơn.

Tạo ra các sản phẩm thông tintrên đĩa CD-ROM cũng như trên các phương tiện kỹ thuật khác để phát hành rộngrãi trong nước và ra nước ngoài.

7. CNTT trong chính sách trao đổivà bảo vệ thông tin Quốc gia

Bộ VHTT phối hợp với Bộ Nội vụ,Bộ Tư pháp nghiên cứu ban hành chính sách trao đổi và bảo vệ thông tin. Việcgiao lưu thông tin trong nước với các tổ chức quốc tế một mặt phải tuân theothông lệ quốc tế nhưng mặt khác trước hết phải xuất phát từ yêu cầu thực tế.Thể chế hoá bằng pháp luật về quyền sở hữu và bí mật thông tin của các tổ chứcxã hội cũng như cá nhân.

8. CNTT trong nghiên cứu, triểnkhai

Công tác nghiên cứu CNTT nhằmtiếp thu kiến thức về công nghệ, kinh nghiệm triển khai của các nước trên thếgiới về quản lý văn hoá và các ngành khác về quản lý cấp ngành. Tiếp nhận côngnghệ, xây dựng quy trình, đào tạo nhân viên trong Bộ và trong toàn ngành.

Tổ chức các hội thảo khoa họcnhằm đánh giá và rút kinh nghiệm chuyển giao CNTT ở các đơn vị đã ứng dựng côngnghệ thông tin thành công.

Phối hợp với Bộ Khoa học Côngnghệ và môi trường và Ban chỉ đạo phát triển CNTT trong quá trình nghiên cứu,xây dựng và triển khai các dự án phát triển.

IV. CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂNCNTT NGÀNH VHTT

1. Quản lý thống nhất việc triểnkhai CNTT trong Bộ

Quản lý sự phát triển CNTT làviệc làm hết sức cần thiết và cấp bách. Tránh tình trạng tái phát triển tự phátgây khó khăn về tổ chức, lãng phí về tài chính, lạc hậu về công nghệ.

Việc phát triển CNTT trong Bộphải đặt dưới sự kiểm soát của Bộ, mà trực tiếp là Ban chỉ đạo phát triển côngnghệ thông tin của Bộ và dưới đó là Trung tâm Công nghệ thông tin thuộc Vănphòng Bộ.

Các dự án phát triển CNTT hoặc làphải được Ban Chỉ đạo công nghệ thông tin và Trung tâm công nghệ thông tin kiểmnghiệm hoặc do Trung tâm đề xuất triển khai.

2. Xác lập luồng thông tin, chuẩnhoá thông tin từ Bộ tới các đơn vị

Thiết lập lại luồng thông tin đivà đến từ Bộ. Điện tử hoá các văn bản khi truyền gửi, xử lý, lưu trữ. Phânluồng thông tin quản lý nhà nước, thông tin nội bộ ngành, thông tin kinh tế xãhội, thông tin dịch vụ...

Chuẩn hoá các phần mềm tạo thôngtin, các khuôn dạng văn bản, mẫu chứng từ, phương thức quản lý, truyền thông.

Nhanh chóng cập nhật, quản lý cácthông tin phát sinh hiện thời. Xây dựng các ngân hàng dữ liệu cho khai thácthông tin của các đơn vụ, cá nhân trong và ngoài ngành.

Các dự án phát triển tin học đềuphải được trình Bộ trước khi triển khai do phần lớn các dự án của các đơn vịtriển kkai sau đều có thể nhận được sự hỗ trợ công nghệ từ các đơn vị triểnkhai trước, như vậy sẽ giảm thiểu được vốn đầu tư và rủi ro khi ứng dụng CNTT.

Hiện nay các Sở VHTT chưa có khảnăng CNTT (trừ Sở VHTT TP Hồ Chí Minh) do đó các Sở cần sớm tự xây dựng kếhoạch về đào tạo cán bộ và đầu tư trang thiết bị cơ bản để có thể tiếp nhận sựhỗ trợ công nghệ hiện đại từ bên ngoài.

3. Bảo vệ bản quyền với các sảnphẩm CNTT trong nước và nước ngoài.

Vụ Pháp chế, Cục Bản quyền tácgiả phối hợp với Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường thể chế hoá pháp lệnhBảo vệ quyền tác giả và các văn bản pháp quy đã được Chính phủ ban hành cholĩnh vực phát triển CNTT. Phối hợp với các tổ chức đã đăng ký bản quyền để ngănchặn tình trạng sao chép phần mềm. Trước hết tất cả các phần mềm được sử dụngtrong Bộ đều phải mua bản quyền sử dụng.

Các đơn vị trong Bộ cần xây dựngkế hoạch về nhu cầu phần mềm của mình giúp cho việc mua phần mềm dễ dàng, thuậntiện. Tránh mua các phần mềm lạc hậu hoặc không thích hợp với đơn vị.

4. Tranh thủ sự giúp đỡ về vốn,kỹ thuật, công nghệ, đầu tư

Phối hợp với Ban chỉ đạo quốc giavề CNTT, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường trong quá trình chuyển giao côngnghệ, giải quyết các vấn đề về vốn do Chính phủ trợ cấp ưu tiên cho các ngành Ytế, Giáo dục, Văn hoá...

Phối hợp với các tổ chức trongnước có tiến bộ về CNTT nhằm rút ngắn quá trình phát triển CNTT của Bộ.

Nhanh chóng tiếp thu CNTT hiệnđại từ nước ngoài dưới sự giúp đỡ về kỹ thuật, đào tạo cũng như tài chính củacác tổ chức quốc tế.

V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Bộ giao cho Ban Chỉ đạo chươngtrình CNTT chủ trì, thẩm định các dự án đầu tư về CNTT theo đúng tinh thần Nghịquyết 49/CP và Kế hoạch tổng thể 1996-2000 đã được Thủ tướng phê duyệt.

Vụ Tổ chức phối hợp với các Vụ,Cục, các đơn vị trong Bộ xây dựng kế hoạch về tổ chức nhân sự phục vụ việc pháttriển công nghệ thông tin. Tại các đơn vị đều phải có cán bộ CNTT.

Vụ Kế hoạch, Tài chính bố tríngân sách phát triển CNTT hàng năm, tiếp nhận tài trợ của các tổ chức trong vàngoài nước.

Vụ pháp chế phối hợp với các đơnvị hữu quan thể chế hoá bằng pháp luật về các vấn đề về phát triển CNTT.

Trung tâm Công nghệ thông tin(TTCNTT) xây dựng kế hoạch phát triển tổng thể 1996-2000; xây dựng, quản lý,triển khai dự án về mạng tin học nền tảng của Bộ và các dự án tiếp theo; xâydựng các ngân hàng dữ liệu của ngành; phối hợp với các đơn vị trong ngành thựchiện các dự án về công nghệ thông tin.

Các Sở VHTT xây dựng kế hoạchphát triển CNTT của Sở và trình Bộ các dự án phát triển CNTT.

Các đồng chí Thủ trưởng cácđơn vị trực thuộc, các đồng chí Giám đốc Sở VHTT các tỉnh và thành phố chịutrách nhiệm chỉ đạo đơn vị thi hành Chỉ thị này.