THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
******

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
*******

Số: 317-TTg

Hà Nội, ngày 24 tháng 08 năm 1977

CHỈ THỊ

VỀĐẨY MẠNH SẢN XUẤT VÔI PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, NHẤT LÀ Ở PHÍA NAM

Sản xuất vôi, nhất là vôi bón ruộngđể phục vụ cho mục tiêu nông nghiệp do Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IV đã đềra cho kế hoạch 5 năm 1976 - 1980, là một nhiệm vụ lớn và cấp bách.

Hiện nay, các cơ sở sản xuất vôitrên cả nước có công suất gần 2 triệu tấn/năm, nhưng phần lớn tập trung ở các tỉnhphía Bắc là nơi có nhiều mỏ đá vôi, trong khi đó ở các tỉnh phía Nam, diện tíchđất đai cần được cải tạo nhiều hơn, thì sản lượng vôi lại rất ít.

Để bảo đảm kế hoạch sản xuất trên2 triệu tấn vôi năm 1978 trong đó có 1,6 triệu tấn vôi bón ruộng (riêng cáctỉnh phía Nam cần 62 vạn tấn vôi bón ruộng) và kế hoạch sản xuất 3 triệu tấnvôi vào năm 1980 trong đó có 2 triệu tấn vôi bón ruộng (riêng các tỉnh phía Namcần 85 vạn tấn vôi bón ruộng), Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, các địa phươngquán triệt và khẩn trương tổ chức thực hiện những việc sau đây:

1. Cần làm cho cán bộ và nhândân nhận thức rõ vị trí quan trọng của việc sản xuất vôi, đặc biệt là ý nghĩakinh tế của vôi bón ruộng, chống chua mặn cho đất canh tác, nhất là cho cáctỉnh phía Nam. Cần làm cho mọi người thấy rõ ta hoàn toàn có khả năng tự giảiquyết các vấn đề nguyên liệu, thiết bị, vật tư và kỹ thuật sản xuất vôi, việc pháttriển sản xuất vôi nhanh hay chậm chỉ còn phụ thuộc vào kế hoạch và biện phápthực hiện.

2. Nhanh chóng phát triểnmạng lưới sản xuất vôi rộng khắp trên cả nước, nhất là ở các tỉnh phía Nam. Cả4 cấp: trung ương, tỉnh, huyện và hợp tác xã đều sản xuất vôi. Nói chung, cáctỉnh và huyện phải phát động phong trào sản xuất đủ vôi bón ruộng cho địaphương mình, cố gắng tự túc được yêu cầu vôi của địa phương mình. Tỉnh, huyệnnào có điều kiện sản xuất thuận tiện cần sản xuất nhiều hơn, để vừa đáp ứng yêucầu của địa phương mình vừa cung cấp cho các địa phương khác có khó khăn. Cầnchú ý tổ chức sản xuất vôi gần nơi tiêu thụ, vì vận chuyển vôi bón ruộng đi xathường gặp nhiều khó khăn và không kịp thời vụ cây trồng. Phải tận dụng các cơsở sản xuất vôi hiện có, nếu có yêu cầu và điều kiện cần tích cực mở rộng côngsuất các cơ sở này. Phải quan tâm xây dựng mới các xí nghiệp sản xuất vôi, quymô vừa và nhỏ với công suất từ 3000 tấn/năm đến 20 000 tấn/năm là chủ yếu, kếthợp thủ công với bán cơ giới, tiến dần lên cơ giới hóa với các thiết bị chế tạotrong nước.

Bộ Xây dựng phải có kế hoạch pháttriển sản xuất vôi ở các xí nghiệp do Bộ đang quản lý và cần chú ý xây dựng mớinhững xí nghiệp có công suất lớn và dây chuyền hoàn chỉnh để vừa đáp ứng choyêu cầu xây dựng cơ bản vừa chi việc cho yêu cầu cải tạo đất của các tỉnh khôngcó điều kiện sản xuất vôi.

3. Song song với việc pháttriển sản xuất vôi nung, cần phát triển mạnh đá vôi nghiền bón ruộng, ở nhữngnơi có điều kiện cung cấp điện và chế tạo thiết bị, nhất là ở các tỉnh phíaNam. Nơi có điều kiện nên xây dựng các xí nghiệp nghiền đá vôi này cạnh các mỏđá để tận dụng nguồn đá mạt và nâng cao công suất nghiền.

4. Tận dụng mọi nguồn nguyênliệu và chất đốt tại chỗ để sản xuất vôi. Nơi nào có đá thì dùng đá, có san hôvỏ sò thì dùng san hô vỏ sò, không có nguyên liệu tại chỗ thì phải khắc phụckhó khăn vận chuyển từ xa về hoặc yêu cầu Bộ Xây dựng cung cấp. Về chất đốt,ngoài than được Nhà nước cung cấp ra, cần tận dụng các nguồn củi, bổi, than bùncủa địa phương, do đó những địa phương có kinh nghiệm và truyền thống làm vôi,có thể xây dựng các lò vôi theo kiểu của địa phương mình cho thích hợp vớinguồn nguyên, nhiên liệu tại chỗ.

5. Về xây dựng cơ bản, đểcó thể nhanh chóng đưa các cơ sở vôi vào sản xuất. Nhà nước cho phép các ngành,các địa phương dựa vào thiết kế mẫu của Bộ Xây dựng vừa thiết kế vừa thi công. Đốivới các cơ sở có công suất từ 2 vạn tấn/năm trở xuống nếu là xây dựng mới vàtrên 2 vạn tấn/năm đến 5 vạn tấn/năm nếu là cơ sở cũ mở rộng sản xuất, Thủ tướngChính phủ cho phép châm chước các thủ tục về xét duyệt nhiệm vụ thiết kế và cấpphát vốn; sau khi các cơ sở đã có bản nhiệm vụ thiết kế được Bộ chủ quản hoặcỦy ban nhân dân tỉnh xét duyệt và được Bộ Xây dựng chấp nhận, Ngân hàng kiếnthiết trung ương và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần kịp thời cấp phát và chovay vốn.

6. Về phân công tổ chức thựchiện, Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ cho các ngành, các Bộ và Ủy ban nhândân các tỉnh, thành phố như sau:

Bộ Xây dựng với chức năngquản lý toàn ngành vật liệu xây dựng, chịu trách nhiệm quy hoạch mạng lưới sản xuấtvôi và đá vôi nghiền, tổng hợp kế hoạch phát triển sản xuất vôi và đá vôi nghiềntrong từng thời kỳ, tổng hợp mọi yêu cầu về vật tư, thiết bị, nguyên, nhiênliệu và vận chuyển, v.v… để cùng Ủy ban Kế hoạch Nhà nước và các Bộ liên quanbàn bạc giải quyết cho các địa phương; cung cấp cho địa phương các loại thiếtkế mẫu, nhiệm vụ thiết kế mẫu, dự toán mẫu và các bản vẽ chế tạo thiết bị; quảnlý về mặt kỹ thuật, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất cho các địa phương; tổ chứccung cấp đá cho những tỉnh không có đá, ngành xây dựng chịu trách nhiệm tổ chứccung cấp vôi xây dựng trong khu vực Nhà nước và bán cho dân.

Bộ Nông nghiệp có nhiệm vụhướng dẫn và vận động nhân dân tích cực sử dụng vôi bón ruộng, bảo đảm việc thựchiện kế hoạch cải tạo đất bằng vôi và đá vôi nghiền, đảm nhận toàn bộ khâu lưuthông, phâb phối vôi và đá vôi nghiền cho nông nghiệp, tổ chức bộ máy quản lýthu mua và phân phối, cùng các tỉnh xây dựng hệ thống kho tàng dự trữ thích hợp,bảo đảm dự trữ vôi cho từng thời kỳ.

Tổng cục Hóa chất chịu tráchnhiệm nghiền đá vôi theo chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước để cung cấp cho nông nghiệpcải tạo đất; giúp các địa phương và các ngành thiết kế các xí nghiệp nghiền đávôi công suất từ 2 đến 4 vạn tấn/năm, đồng thời cung cấp thiết bị và hướng dẫnkỹ thuật sản xuất đá vôi nghiền.

Bộ Điện và than chịu tráchnhiệm cung cấp đủ điện cho các cơ sở sản xuất tập trung và bảo đảm cung cấp kịpthời than cho các cơ sở sản xuất vôi.

Bộ Cơ khí và luyện kim chịutrách nhiệm giúp đỡ các Bộ, các địa phương trong việc chế tạo một số thiết bịlẻ của các lò nung vôi; cung cấp máy biến thế, máy phát điện và động cơ theo yêucầu của kế hoạch Nhà nước.

Bộ Giao thông vận tải đảmnhận việc vận tải đá, vôi cho kế hoạch phát triển sản xuất vôi trong toàn quốc;giúp đỡ các địa phương tăng cường lực lượng vận tải để bảo đảm kế hoạch vận chuyểnvôi trong từng địa phương.

Tổng cục Địa chất chịu tráchnhiệm điều tra, kiểm soát nguồn đá vôi, đá san hô và than nhất là ở phía Nam đểđầu tư khai thác phục vụ cho nhu cầu nguyên, nhiên liệu làm vôi các loại.

Ủy ban Kế hoạch Nhà nước chịutrách nhiệm giải quyết kịp thời việc ghi kế hoạch cho các tỉnh khi nhiệm vụthiết kế được Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố duyệt và Bộ Xây dựng thông qua;cân đối và bảo đảm vốn, vật tư, thiết bị, phương tiện vận chuyển cho sản xuấtvôi.

Ủy ban vật giá Nhà nước chịutrách nhiệm nghiên cứu điều chỉnh giá vôi và đá vôi nghiền nhằm khuyến khíchphát triển sản xuất vôi phục vụ mục tiêu nông nghiệp nhất là ở các tỉnh phíaNam.

Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàngkiến thiết trung ương chịu trách nhiệm giải quyết kịp thời việc cấp phát vàcho vay vốn cho sản xuất vôi và đá vôi nghiền theo tinh thần và nguyên tắc cấpphát đã nói ở trên, nhằm thúc đẩy nhanh việc xây dựng và sản xuất vôi.

Ủy ban nhân dân các tỉnh và thànhphố chịu trách nhiệm lập quy hoạch và kế hoạch sản xuất vôi và đá cho vôi;giải quyết nhanh gọn mọi thủ tục ban đầu và chỉ đạo chặt chẽ việc xây dựng cáccơ sở sản xuất vôi; huy động lực lượng chế tạo cơ khí của địa phương tự chế tạolấy thiết bị để sản xuất vôi; tổ chức khai thác đá nung vôi sau khi được Bộ Xâydựng chấp thuận; tuyên truyền và có biện pháp để nhân dân sử dụng rộng rãi vôibón ruộng.

Các tỉnh và thành phố có nguyên liệuđá vôi hoặc có khả năng chế tạo cơ khí cần tích cực hỗ trợ cho những địa phươngbạn không có đá hoặc thiếu lực lượng cơ khí, chưa chế tạo được thiết bị sảnxuất vôi.

KT. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
PHÓ THỦ TƯỚNG




Đỗ Mười