Chỉ thị

CHỈ THỊ

CỦA BỘTRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO SỐ 34/2002/CT-BGD &ĐT NGÀY 1 THÁNG 8 NĂM 2002VỀ NHỮNG NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM
CỦA TOÀN NGÀNH TRONG NĂM HỌC 2002 - 2003

Trong năm học 2001 - 2002, với tinh thần thi đua chào mừngĐại hội Đảng lần thứ IX, toàn ngành giáo dục đã phấn dấu thực hiện tốt nhữngnhiệm vụ nêu trong Chỉ thị số 32/2001/CT-BGD &ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo đụcvà Đào tạo. Nền nếp, kỷ cương được chấn chỉnh và có chuyển biến theo chiềuhướng tích cực hơn. Việc chuẩn bị triển khai đại trà chương trình, sách giáo khoa mới ở phổ thông đã được tiến hànhkhẩn trương, nghiêm túc, tạo cơ sở quan trọng để từng bước nâng cao chất lượnggiáo dục trong những năm tới. Những cải tiến về thi cử, đặc biệt là việc đổimới tuyển sinh đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp đã được thực hiện vớimột kế hoạch chặt chẽ và bước đầu đã đạt kết quả tốt đẹp. Công tác giáo dục ởvùng dân tộc và đào tạo cán bộ người dân tộc được quan tâm thoả đáng hơn. Hệthống văn bản quy phạm pháp luận tiếp tục được hoàn thiện. Công tác thanh tra,kiểm tra được tăng cương. Trong quá trình thực hiện chủ trương xã hội hoá giáodục, các cấp uỷ đảng, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và toàn xã hội ngàycàng chăm lo phát triển giáo dục và thực hiện công bằng trong giáo dục.

Mặc dù toàn ngành đã có nhiều cố gắng và đạt kết quả tốt đẹptrên một số mặt, song chất lượng và hiệu quả giáo dục nhìn chung còn thấp sovới yêu cầu đào tạo nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.Nhiều vấn đề về đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; về cơ sở vật chất,trường lớp, thiết bị; về công tác quản lý vẫn chưa được giải quyết dứt điểm.Theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX và kết luận của Hội nghị lầnthứ 6 BCH Trung ương Đảng khoá IX, toàn ngành giáo dục còn phải cố gắng nhiềuhơn nữa để khắc phục khó khăn, yếu kém, vượt qua thách thức nhằm tạo ra chuyểnbiến rõ nét hơn trong phát triển giáo dục.

Xuất phát từ tình hình và yêu cầu thực tế, Bộ trưởng Bộ Giáodục và Đào tạo chỉ thị toàn ngành giáo dục trong năm học 2002 - 2003 tập trungthực hiện thật tốt những nhiệm vụ sau đây:

I. NHIỆM VỤ CHUNG

Trên cơ sở quántriệt tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX và kết luận của Hội nghị lầnthứ 6 BCH Trung ương Đảng khoá IX, tiếp tục chấn chỉnh nền nếp, kỷ cương; xâydựng môi trường giáo dục lành mạnh; mở rộng quy mô giáo dục trên cơ sở bảo đảmchất lượng và hiệu quả đào tạo; Thực hiện đổi mới mạnh mẽ về nội dung, phươngpháp giáo dục ở các cấp học, bậc học từ giáo dục mầm non, phồ thông trung họcchuyên nghiệp, đến đẳng, đại học và sau đại học; Tiếp tục cải tiến thi cử vàcách đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của học sinh, sinh viên; Chăm lophát triển giáo dục mầm non; củng cố thành quả xoá mù chữ và phổ cập giáo dụctiểu học, đẩy mạnh phổ cập trung học cơ sở; Triển khai thực hiện quy hoạch mạnglưới đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp; Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dụcvà thực hiện công bằng trong giáo dục; Phát triển giáo dục ở vùng đồng bào dântộc và các địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Tăng cường hợp tác và tranhthủ sự giúp đỡ của các nước, các tổ chức quốc tế về giáo dục; Tạo thêm cơ hộihọc tập cho thế hệ trẻ, đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của nhân dân, góp phầnxây dựng xã hội học tập.

II. NHỮNG NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM

1. Tập trung mọi điều kiện để thực hiện thật tốt việc dạy vàhọc chương trình, sách giáo khoa mới ở lớp 1, lớp 6; chuẩn bị triển khai đạitrà ở lớp 2, lớp 7; Chuẩn bị thí điểm ở lớp 10. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng vàban hành chương trình khung ở đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp. Nâng caochất lượng giáo dục toàn diện ở tất cả các cấp học, bậc học. Tiếp tục đổi mớitổ chức thi cử, tuyển sinh, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của học sinh,sinh viên.

Các giáo viên dạy lớp 1, lớp 6 phải nghiên cứu, nắm vữngchương trình, sách giáo khoa mới; nghiêm túc thực hiện các yêu cầu về chuyênmôn, nghiệp vụ. Các cơ quan quản lý giáo dục, các trường tiểu học, trung học cơsở có trách nhiệm kiểm tra, theo dõi, kịp thời giải quyết các vấn đề nẩy sinh,tạo điều kiện thuận 1ợi cho việc giảng dạy và học tập ở 1ớp 1, lớp 6. Ban Chỉđạo đổi mới Chương trình giáo dục phổ thông có trách nhiệm bảo đảm việc triểnkhai chương trình, sách giáo khoa mới đạt kết quả tốt đẹp ngay từ năm học đầutiên.

Các cán bộ, giáo viên, nhà khoa học được giao nhiệm vụ soạnthảo, dạy thí điểm, thẩrn định, xuất bản sách giáo khoa phổ thông cần thực hiệnđúng quy trình, bảo đảm chất lượng và tiến độ, chuẩn bị thật tốt cho việc triểnkhai đại trà đối với lớp 2, lớp 7 và các lớp tiếp theo ở tiểu học, trung học cơsở và trung học phổ thông.

Căn cứ vào chương trình khung các nhóm ngành đào tạo đã đượcban hành, các trường có trách nhiệm tổ chức xây dựng chương trình đào tạo cụthể và giáo trình, thực hiện đổi mới, hiện đại hoá và thường xuyên cập nhật nộidung, phương pháp đào tạo, bảo đảm yêu cầu "cơ bản, hiện đại và ViệtNam", phù hợp với hoàn cảnh và đáp ứng những đòi hỏi của sự nghiệp pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước. Gắn đổi mới nội dung với đổi mới phươngpháp đào tạo; phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, sinh viên; ứngdụng mạnh mẽ công nghệ thông tin; tổ chức tốt việc thực hành, thực tập; kết hợpđào tạo với nghiên cứu khoa học.

Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức ởtất cả các cấp học, bậc học. Khắc phục khó khăn để bảo đảm các yêu cầu về giáo dụcthể chất, giáo dục thẩm mỹ và giáo dục quốc phòng. Nâng cao chất lượng nuôidưỡng, chăm sóc, giáo dục ở các cơ sở giáo đục mầm non. Thực hiện hài hoà giữa học tập, rèn luyện và vui chơi; chútrọng bồi dưỡng khả năng tự học, giáo dục hướng nghiệp, sinh hoạt tập thể, côngtác xã hội ở các bậc học phổ thông. Khuyến khích học sinh, sinh viên đại học,cao đẳng, trung học chuyên nghiệp tham gia Nghiên cứu khoa học, chuyển giaocông nghệ, phục vụ xã hội; ngăn chặn và khắc phục các hiện tượng tiêu cực tronghọc sinh, sinh viên.

Cải tiến phương pháp đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của học sinh, sinh viên. Tiếp tục đổi mới mộtcách cơ bản, mạnh mẽ công tác thi cử, tuyển sinh, từng bước áp dụng phương pháptrắc nghiệm, theo hướng đảm bảo chất lượng; giảm bớt khó khăn, tốn kém cho thísinh, gia đình và xã hội; thực hiện nghiêm túc, khách quan, công bằng, minhbạch; từng bước khắc phục tệ nạn dạy thêm, học thêm tràn lan.

2. Phát triển giáo dục mầm non ở mọi địa bàn dân cư. Củng cốvững chắc thành quả xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học; đẩy mạnh phổ cậptrung học cơ sở; chăm lo việc học tập cho con em đồng bào dân tộc thiểu số vàcác đối tượng thuộc diện chính sách.

Đẩy mạnh phát triển giáo dục mầm non ở nông thôn và nhữngđịa bàn khó khăn. Tiếp tục xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học ở những xã,huyện còn chưa đạt chuẩn. Đẩy mạnh phổ cập trung học cơ sở, phấn đấu để trongnăm học có trên 10 tỉnh được kiểm tra, công nhận đạt chuẩn quốc gia. Mở rộngqui mô giáo dục trên cơ sở bảo đảm chất lượng, hiệu quả và cơ cấu trình độ đàotạo; thực hiện phân luồng hợp lý giữa các cấp học, bậc học, ngành nghề đào tạo;bảo đảm gắn kết giữa đào tạo và sử dụng. Thực hiện công bằng xã hội, từng bướckhắc phục khó khăn, cố gắng thu hẹp khoảng cách về giáo dục giữa các vùng, miền.Chăm lo việc học tập của học sinh, sinh viên thuộc các đối tượng hưởng chínhsách xã hội và con em dân tộc thiểu sổ. Quan tâm thoả đáng đối với giáo dụckhuyết tật, khuyến khích thực hiện chương trình can thiệp sớm và giáo dục hoànhập. Nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục của các trường phổ thông dân tộcnội trú, trung tâm kỹ thuật tổng hợp-- hướng nghiệp, trung tâm giáo dục quốc phòng; phát biển mạnh mẽ các trườngtrung học chuyên nghiệp, hoàn thành việc xây dựng mô hình trường trung học phổthông kỹ thuật, tiếp tục phát triển các trung tâm giáo dục cộng đồng, đáp ứngnhu cầu học tập của nhân dân và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

3. Xây dưng đội ngũ giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lýgiáo dục đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, chuẩn hoá về trình độ đào tạo, đápứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, chương trình giáo dụcchuyên nghiệp, đại học và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

Các cơ quan quản lý giáo dục các cấp nhà trường, các cơ sởgiáo dục tiến hành ngay việc rà soát đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáodục; xây dựng quy hoạch, kế hoạch củng cố, kiện toàn, phát triển đội ngũ theohướng kết hợp giũa bồi dưỡng, đào tạo với điều chỉnh, sắp xếp và tuyển dụng.Khẩn trương triển khai thực hiện Chỉ thị 18/2001/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủvề một số biện pháp cấp bách xây dựng đội ngũ nhà giáo của hệ thống giáo dụcquốc dân; quan tâm giải quyết các vấn đề bức xúc về chính sách đối với đội ngũgiáo viên mầm non nông thôn, miền núi ngoài công lập.

Đáp ứng yêu cầu về chất lượng và cơ cấu bộ môn trong việc bốtrí giáo viên cho lớp 1, lớp 6; chuẩn bị ngay việc bố trí giáo viên các lớptiếp theo; bảo đảm quy trình đồng bộ gắn triển khai đại trà chương trình, sáchgiáo khoa với củng cố, kiện toàn đội ngũ giáo viên ở các cấp học, bậc học phổthông. Đẩy mạnh việc xây dựng đội ngũ giáo viên trung học chuyên nghiệp vàgiảng viên đại học, cao đẳng. Tăng số lượng giảng viên đại học, cao đẳng đểgiảm dần tỷ lệ sinh viên/giảng viên đồng thời nâng dần tỷ lệ giảng viên, đặcbiệt là giảng viên trẻ, đạt trình độ thạc sĩ, tiến sĩ và có chức danh giáo sư,phó giáo sư ở các trường đại học, cao đẳng.

4. Thực hiện chủ trương kiên cố hoá trường học; kiên quyết,chấm dứt tình trạng học ca 3 và khẩn trương xây dựng phòng học kiên cố thay thếphòng học tranh tre nứa lá; tăng cường các điều kiện về thiết bị, đồ dùng dạyhọc, phòng thí nghiệm, phòng bộ môn, thư viện và tủ sách dùng chung đáp ứng yêucầu nâng cao chất lượng trong quá trình thực hiện đổi mới nội dung, phương phápgiáo dục.

Các Sở giáo dục và đào tạo khẩn trương xây dựng kế hoạchkiên cố hoá trường học mầm non và phổ thông, xoá lớp học ca 3 và phòng họctranh tre nứa 1á, trình Uỷ ban nhân dân phê duyệt, tổ chức triển khai thực hiệnngay từ năm học này. Dành ít nhất 6 - 10% ngân sách giáo dục hàng năm của địaphương cho việc tăng cường thiết bị dạy học. Việc mua sắm thiết bị nhất thiếtphải căn cứ vào danh mục tối thiểu do Bộ ban hành và bảo đảm đồng bộ với việctriển khai đại trà chương trình, sách giáokhoa mới, trước mắt ở lớp 1, lớp 6; chuẩn bị cho lớp 2, lớp 7 và những lớp tiếp theo vào các năm học sau. Đồngthời, các nhà trường phổ thông cần phát triển phòng học bộ môn, phòng thínghiệm, thư viện; có cơ chế thoả đáng khuyến khích giáo viên sử dụng và tự làm đồ dùng dạy học.

Các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp căn cứvào Nghị định 10/2002/NĐ-CP của Chính phủ về chế độ tài chính áp dụng cho đơnvị sự nghiệp có thu, chủ động xây dựng cơ chế, kết hợp các nguồn vốn, tăngcường cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học. Đồngthời, xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển, đáp ứng yêu cầu trước mắt và tạođiều kiện phát triển trong tương lai.

5. Tiếp tục chấn chỉnh và tăng cường nề nếp, kỷ cương; kiệntoàn về cơ bản cơ quan quản lý giáo dục các cấp; tăng cường công tác thanh tra,kiểm tra; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục.

Tất cả cán bộ, công chức và người làm hợp đồng trong các cơquan của ngành giáo dục, các nhà giáo, học sinh, sinh viên của các nhà trườngvà cơ sở giáo dục khác phải nghiêm chỉnh thực hiện luật pháp của Nhà nước, cácquy định của ngành, của cơ quan và nhà trường; kiên quyết đấu tranh ngăn chặnvà khắc phục mọi biểu hiện thiếu kỷ cương, nền nếp và các hành vi vi phạm phápluật trong cơ quan giáo dục và nhà trường; xây dựng môi trường giáo dục lànhmạnh.

Các cơ quan quản lý giáo dục, các nhà trường và cơ sở giáodục khác phải tiến hành rà soát, bổ sung, hoàn chỉnh quy trình, quy phạm quảnlý hành chính và quản lý chuyên môn; chấn chỉnh, ngăn ngừa và xử lý nghiêm minhđối với các sai phạm trong việc thực hiện các quy định về chuyên môn; về quảnlý tài chính, về thực hiện chỉ tiêu kế hoạch; báo cáo cấp trên, xin ý kiến chỉđạo để giải quyết các vụ việc còn tồn đọng.

Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trong ngành phải tranh thủ sựlãnh đạo của cấp uỷ Đảng, phối hợp chặt chẽ với các đoàn thể quần chúng, pháthuy dân chủ ở cơ sở, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, quản lýchuyên môn, nghiệp vụ; tăng cường kiểm tra, phát hiện, uốn nắn và ngăn chặn cácbiểu hiện tiêu cực trong cơ quan, đơn vị; chịu trách nhiệm về những thiếu sót,yếu kém trong phạm vi, lĩnh vực được phân công; kiên quyết không để các biểuhiện tiêu cực phát triển thành vụ việc mang tính nghiêm trọng.

Các cơ quan quản lý giáo dục phải kiện toàn tổ chức thanhtra, bảo đảm để các cán bộ, công chức làm công tác thanh tra đều có đủ phẩmchất, năng lực và bản lĩnh, thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Thanh tra giáodục các cấp phải tăng cường hoạt động, giúp lãnh đạo kết luận và xử lý nghiêmminh, kịp thời đối với các vụ, việc trong phạm vi quyền hạn; Đề xuất các giảipháp ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật trong ngành.

Việc kiện toàn cơ quan quản lý giáo dục các cấp, trước hếtlà cơ quan Bộ, cần được tiến hành khẩn trương trên cơ sở xác định rõ chức năng,nhiệm vụ, tăng cường chức năng quản lý nhà nước. Xác định rõ mô hình tổ chứcquản lý giáo dục ở địa phương; các Sở giáo dục và đào tạo cần chủ động phối hợpvới ban tổ chức chính quyền và các sở, ngành liên quan tiến hành việc kiện toànbộ máy của Sở, Phòng giáo dục và đào tạo, giải quyết dứt điểm những vướng mắcvề chức năng nhiệm vụ, tổ chức và biên chế.

Năm học 2002 - 2003 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trongviệc thực hiện các nhiệm vụ chính trị. Toàn ngành giáo dục cần tiếp tục đẩymạnh phong trào thi đua hai tốt, phấnđấu tạo sự chuyển biến rõ nét trong phát triển giáo dục theo yêu cầu Nghị quyếtĐại hội Đảng lần thể IX và kết luận của Hội nghị lần thứ 6 BCH Trung ương Đảngkhoá IX, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đề nghị các bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷban nhân dân các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo, kiểm tra, đônđốc các cơ quan, ban ngành cấp dưới phối hợp tháo gỡ những vướng mắc trong việcthực hiện chính sách đối với giáo dục, tạo điều kiện cho cơ quan quản lý giáodục, các trường và cơ sở giáo đục thực hiện tốt những nhiệm vụ nêu trên.

Các Giám đốc Sở giáo dục và đào tạo có trách nhiệm tổ chứctriển khai, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc các cấp quản lý giáo dục, các trường họcvà cơ sở giáo dục khác ở địa phương tập trung thực hiện nhiệm vụ năm học; thammưu với Tỉnh ủy, Thành uỷ, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thànhphố, phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể tạo điều kiện thuận lợi để phát triển giáo dục.

Các giám đốc đại học, học viện, hiệu trưởng trường đại học,cao đẳng và trung nọc chuyên nghiệp có trách nhiệm cụ thể hoá và tổ chức cácnhiệm vụ nêu trên trong phạm vi trách nhiệm được giao, đồng thời chủ động thamgia tháo gỡ những vướng mắc của ngành, góp phần thúc đẩy sự nghiệp giáo dụcphát triển mạnh mẽ.

Các thủ trưởng đơn vị trong cơ quan Bộ có trách nhiệm giúplãnh đạo Bộ hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các cấp quản lý giáo dục địa phương vàcác nhà trường thực hiện nhiệm vụ năm học; kịp thời báo cáo, phản ánh tìnhhình, đề xuất các giải pháp chỉ đạo để giải quyết những vấn đề nảy sinh trongquá trình thực hiện.

Chỉ thị này được phổ biến tới tất cả cán bộ, công chức ở cáccơ quan giáo dục và các nhà giáo ở cáccấp học, bậc học thuộc mọi loại hình công lập và ngoài công lập trong toànngành để quán triệt và thực hiện.