ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
-------------

Số: 37/CT-UB

TP. Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 08 năm 1985

CHỈ THỊ

VỀVIỆC BẢO HIỂM TAI NẠN LAO ĐỘNG TRONG PHẠM VI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phố Hồ Chí Minh là một trungtâm kinh tế văn hóa và khoa học kỹ thuật, một trung tâm công nghiệp có nhiều xínghiệp, nhà máy lớn, nhiều cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp – thủ công nghiệpvà dịch vụ; quy tụ nhiều ngành nghề và công nhân lao động. Theo đà cải tạo vàxây dựng thành phố, số lượng công nhân viên chức và thợ thủ công tăng lên khôngngừng. Riêng số công nhân viên chức tăng từ 200 ngàn những năm đầu giải phóngđến nay đã tăng lên gần 400 ngàn.

Mặc dù công tác bảo hộ lao động luônluôn được Nhà nước ta quan tâm tăng cường chỉ đạo thực hiện nhưng trong quátrình lao động vẫn không tránh khỏi xảy ra những tai nạn rủi ro bất ngờ làm chongười công nhân, viên chức bị thiệt mạng hoặc mất sức lao động hoàn toàn, haymột phần, do đó phát sinh ra nhiều vấn đề xã hội. Tuy đã có bảo đảm của chế độbảo hiểm xã hội theo Nghị định số 218/CP ngày 27-12-1961 của Chính phủ nhưng thựctế của bảo hiểm xã hội cũng chưa đủ đáp ứng được yêu cầu của người lao động.

Trong tình hình trên, Ủy ban Nhândân Thành phố thấy cần triển khai công tác bảo hiểm tai nạn lao động để bổ sungcho chế độ bảo hiểm xã hội nhằm giúp cho người lao động và gia đình vượt quađược khó khăn khi chẳng may gặp tai nạn.

Để tổ chức thực hiện tốt công tácbảo hiểm tai nạn lao động, Ủy ban Nhân dân Thành phố chỉ thị:

1. Tất cả các cơ quan, xí nghiệp,hợp tác xã, tổ hợp sản xuất… nói chung là những tổ chức có tư cách pháp nhân cósử dụng người lao động, hoạt động trên địa bàn thành phố phải vận động tập thểcông nhân, viên chức, xã viên tham gia bảo hiểm tai nạn lao động.

Phí bảo hiểm tai nạn lao động docác cơ quan, xí nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp… bàn bạc thống nhất trong tập thể ngườilao động để sử dụng một phần của quỹ phúc lợi hoặc tự mỗi người đóng góp.

Các cơ quan, xí nghiệp, hợp tác xã,tổ hợp… có nhiệm vụ lập thủ tục ký kết hợp đồng bảo hiểm tai nạn lao động, thuphí và chuyển nộp cho Chi nhánh bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh.

2. Chi nhánh bảo hiểm, thành phốHồ Chí Minh là cơ quan được Nhà nước giao nhiệm vụ bảo hiểm phải tổ chức tốt côngtác bảo hiểm, tai nạn lao động. Khi triển khai cần tích cực phối hợp chặt chẽvới các ngành có liên quan đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các quy tắc,giá biểu phí bảo hiểm, hướng dẫn các cơ quan đơn vị ký kết hợp đồng bảo hiểm vàkhi có tai nạn lao động phải kịp thời giải quyết bồi thường cho phía người bịtai nạn theo nội dung của hợp đồng bảo hiểm đã ký kết.

Chi nhánh bảo hiểm thành phố phảitrích 5% phí thu về bảo hiểm tai nạn lao động để đóng góp với các cơ quan đơnvị tham gia bảo hiểm trong công tác phòng ngừa và hạn chế tai nạn lao động, khenthưởng kịp thời những đơn vị, cá nhân có thành tích trong bảo vệ an toàn laođộng.

3. Sở Lao động, Sở Y tế, Công anthành phố Liên hiệp Công đoàn thành phố và Ủy ban Nhân dân các quận huyện kết hợpchặt chẽ, hỗ trợ chi nhánh bảo hiểm thành phố trong công tác tuyên truyền vậnđộng, trong công tác kiểm tra an toàn lao động và đề phòng hạn chế tai nạn cũngnhư trong công tác điều tra lập hồ sơ khi xảy ra tai nạn.

4. Sở Tài chánh, Ngân hàng các cấptạo mọi điều kiện dễ dàng giúp Chi nhánh bảo hiểm thành phố thu đầy đủ chi phíbảo hiểm và giải quyết bồi thường đầy đủ kịp thời cho người tai nạn mỗi khi xảyra tai nạn lao động.

5. Đài phát thanh, truyền hình, cáccơ quan báo chí hỗ trợ Chi nhánh bảo hiểm thành phố làm tốt công tác tuyên truyềnphổ biến các chế độ, quy tắc bảo hiểm và công tác đề phòng tai nạn hạn chế tổnthất.

6. Chỉ thị này có hiệu lực từ ngàyký. Chi nhánh bảo hiểm thành phố có trách nhiệm cùng các cơ quan hữu quan hướngdẫn triển khai thi hành chỉ thị này và mỗi sáu tháng báo cáo tình hình bảo hiểmtai nạn lao động và những ý kiến đề xuất về Thường trực Ủy ban Nhân dân thànhphố.

TM.ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH





Lê Văn Triết

QUYTẮC

BẢOHIỂM TAI NẠN LAO ĐỘNG
(Ban hành kèm theo Chỉ thị số 37/CT-UB ngày 01.8.1985 của UBND Thành phố)

I. PHẠM VI BẢO HIỂM:

Quy tắc bảo hiểm này bảo đảm chocông nhân viên chức các cơ quan, đơn vị sản xuất kinh doanh, xã viên hợp tác xãvà những người lao động tập thể khác về tổn hại thân thể (thương tật vĩnh viễn hoặcthiệt mạng) do tai nạn lao động gây ra.

Các cơ quan đơn vị kinh doanh sảnxuất, hợp tác xã… ở đây được gọi chung là đơn vị tham gia bảo hiểm.

“Tai nạn lao động” theo quy tắc nàycó nghĩa là tai nạn xảy ra trong thời hạn hợp đồng bảo hiểm cho người lao độngđược bảo hiểm trong khi đang làm việc tại đơn vị hay trong khi đi công tác;hoặc trong khi từ nhà tới đơn vị hay từ đơn vị trở về nhà trên lộ trình hợp lýtheo đúng với nội dung về tai nạn lao động quy định trong chế độ bảo hiểm xãhội.

II. KHÔNG THUỘC PHẠM VI BẢO HIỂM

Quy tắc bảo hiểm này không áp dụngcho những trường hợp và nguyên nhân sau đây:

1. Tổn hại thân thể trực tiếp hoặcgián tiếp gây ra do:

Hành động cố ý phạm tội hoặc là hậuquả của tội phạm kể cả hành động tự tử hay định tự tử của người được bảo hiểmdù trong lúc tỉnh trí hay loạn trí.

Tai nạn xảy ra khi người được bảohiểm bị ảnh hưởng của rượu, và các loại chất tương đương; hoặc người được bảohiểm vi phạm nghiêm trọng nội quy, kỹ thuật an toàn lao động.

2. Tổn hại thân thể do bịnh tật,kể cả bịnh nghề nghiệp.

III. SỐ TIỀN BẢO HIỂM

Số tiền bảo hiểm do người được bảohiểm tự nguyện yêu cầu thông qua cơ quan, đơn vị sản xuất kinh doanh, và đượccơ quan bảo hiểm chấp thuận; cụ thể có hai cách tính số tiền bảo hiểm.

Tiền bảo hiểm tai nạn lao động đượctính trên cơ sở: số tiền bảo hiểm và tỷ lệ phí bảo hiểm.

Thí dụ: Nhà máy dệt T (thuộc ngànhcông nghiệp nhẹ) có 1.200 công nhân, viên chức; trong đó có 200 lao động giántiếp sản xuất và 1.000 lao động trực tiếp sản xuất.

Trường hợp 1 : Tập thể côngnhân viên chức của nhà máy đều nhất trí muốn được bảo hiểm tai nạn lao động tớimức nhất định là 10.000 đồng mỗi người. Phí bảo hiểm hàng năm được tính nhưsau:

10.000 x 200 lao động

gián tiếp x 0,15% = 3.000 đ

10.000 x 1.000 lao động

trực tiếp x 0,25% = 25.000 đ

Tổng số bảo hiểm … 28.000 đ

Như vậy khi xảy ra tai nạn lao động,người bị tai nạn có thể được bồi thường tới mức 10.000 đồng.

Trường hợp 2: Để bảo đảm đúng mứcquyền lợi của người lao động theo nguyên tắc phân phối xã hội chủ nghĩa, tậpthể công nhân viên chức nhà máy đều muốn được bảo hiểm đủ 12 tháng lương (giảdụ lương tháng bình quân của lao động gián tiếp sản xuất là 1.000đ và trực tiếpsản xuất là 1.500 đồng). Phí bảo hiểm hàng năm được tính như sau:

1.000đ x 12 x 200 lao động

gián tiếp x 0,15 = 3.600đ

1.500đ x 12 x 1.000 lao động

trực tiếp x 0,25 = 45.000đ

Tổng số phí bảo hiểm….……48.600đ

Như vậy khi xảy ra tai nạn lao động,người bị tai nạn có thể được bồi thường tới mức 12 tháng lương.

IV. HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM:

1. Đơn vị tham gia bảo hiểm gởi chocơ quan bảo hiểm giấy yêu cầu bảo hiểm tai nạn lao động, trong đó kê khai đầyđủ mọi chi tiết và kèm theo danh sách những người được bảo hiểm cùng các số tiềnbảo hiểm.

Trên cơ sở giấy yêu cầu này, cơ quanbảo hiểm lập hợp đồng bảo hiểm tai nạn lao động chung cho tất cả mọi người cótên trong danh sách của đơn vị tham gia bảo hiểm và hợp đồng bảo hiểm có giá trịkể từ ngày nộp phí bảo hiểm.

2. Mọi sự điều chỉnh thay đổi hợpđồng sau khi ký kết phải được đơn vị tham gia bảo hiểm thông báo cho cơ quanbảo hiểm biết trước ít nhất một tháng.

3. Hợp đồng bảo hiểm tai nạn laođộng có thể được tiếp tục hàng năm theo yêu cầu của đơn vị tham gia bảo hiểm.

4. Một trong hai bên ký kết muốnhủy bỏ hợp đồng bảo hiểm tai nạn lao động phải thông báo cho bên kia biết trướcít nhất là ba tháng. Phí bảo hiểm của thời gian còn lại sẽ được hoàn trả đơn vịtham gia bảo hiểm.

V. NGUYÊN TẮC BỒI THƯỜNG

1. Khi bị tai nạn lao động theo quyđịnh của quy tắc bảo hiểm này, người được bảo hiểm hoặc người thừa kế hay thânquyến hợp pháp sẽ được cơ quan bảo hiểm bồi thường như sau:

a) Bồi thường thiệt mạng: Khi thươngtích trong 1 tai nạn lao động làm cho người được bảo hiểm thiệt mạng, ngay hoặctrong vòng 12 tháng kể từ ngày bị tai nạn, người thừa kế hoặc thân quyến hợppháp sẽ được bồi thường toàn bộ số tiền bảo hiểm đã ghi trong hợp đồng bảo hiểmvề phần người ấy.

b) Bồi thường tàn tật vĩnh viễn toànphần: Khi thương tích trong một tai nạn lao động không làm thiệt mạng ngườiđược bảo hiểm nhưng qua Hội đồng giám định y khoa xác nhận người được bảo hiểmbị tàn tật hoặc mất năng lực vĩnh viễn toàn phần tới 100%; cơ quan bảo hiểm sẽbồi thường như trường hợp thiệt mạng.

c) Bồi thường thương tật vĩnh viễnbộ phận: nếu thương tích trong tai nạn lao động, chỉ làm người được bảo hiểm bịthương tật hoặc mất năng lực vĩnh viễn bộ phận, cơ quan bảo hiểm sẽ bồi thườngmột phần số tiền bảo hiểm tương ứng với tỷ lệ thương tật do Hội đồng giám địnhy khoa xác nhận. Trường hợp thương tật dưới 5% cơ quan bảo hiểm không có tráchnhiệm bồi thường.

2. Trong bất cứ trường hợp nào cơquan bảo hiểm chỉ phải trả bồi thường cho một tai nạn lao động không vượt quásố tiền bảo hiểm. Nếu tai nạn lao động dẫn đến thiệt mạng sau khi một phần tiềnđã được trả cho trường hợp thương tật vĩnh viễn bộ phận thì tiền bồi thường nàysẽ tính trừ vào tiền bồi thường trường hợp thiệt mạng.

3. Nếu vì lý do gì mà tỷ lệ thươngtật chưa xác định được, cơ quan bảo hiểm có quyền hoãn việc bồi thường hoặc chỉứng trước phần tiền bồi thường nếu theo cơ quan y tế Nhà nước ước định là cómột thương tật vĩnh viễn ít nhất là 5% do tai nạn lao động gây ra. Tuy nhiênchậm nhất là hai năm sau ngày xảy ra tai nạn lao động tỷ lệ thương tật phảiđược xác định dứt khoát.

VII. NGHĨA VỤ NGƯỜI ĐƯỢC BẢO HIỂM

1. Người được bảo hiểm phải triệtđể chấp hành nghiêm chỉnh các nội quy, quy tắc an toàn lao động của đơn vị vàcác yêu cầu phòng hộ lao động khác.

2. Khi xảy ra tai nạn, người đượcbảo hiểm và thân quyến phải thực hiện tất cả những quy định của cơ quan y tếNhà nước trong việc cứu chữa và phục hồi sức khỏe.

3. Người được bảo hiểm và đơn vịtham gia bảo hiểm phải khai báo trung thực tình hình và nguyên nhân tai nạn.

VIII. TRÁCH NHIỆM CỦA ĐƠN VỊ THAMGIA BẢO HIỂM

1. Thủ trưởng đơn vị thay mặt tậpthể người lao động trong đơn vị mình khai báo đầy đủ mọi chi tiết trên giấy yêucầu bảo hiểm và ký kết hợp đồng bảo hiểm tai nạn lao động.

2. Đơn vị tham gia bảo hiểm phảicó biện pháp cải thiện điều kiện làm việc, trang bị phòng hộ lao động, nghiêm chỉnhchấp hành các chế độ vệ sinh an toàn lao động, chế độ khám tuyển, khám định kỳcho người lao động nhằm đề phòng tai nạn xảy ra.

3. Khi xảy ra tai nạn lao động, ngườiđại diện có thẩm quyền của đơn vị phải có mặt ngay nơi xảy ra tai nạn.

Thi hành mọi biện pháp cần thiếtđể chăm sóc cứu chữa kịp thời người bị nạn.

Thông báo ngay cho cơ quan bảo hiểmgần nhất cử người đến xem xét hiện trường để phối hợp cùng với đơn vị và các cơquan hữu quan khác lập biên bản tai nạn giải quyết hậu quả.

4. Mỗi một tai nạn lao động, đơnvị tham gia bảo hiểm phải tập trung hồ sơ khai báo bằng văn bản cho cơ quan bảohiểm biết trong vòng bảy (7) ngày kể từ ngày xảy ra tai nạn.

5. Nếu cơ quan bảo hiểm yêu cầu đơnvị hoặc người được bảo hiểm phải có trách nhiệm chứng minh tổn hại thân thể phátsinh từ tai nạn không phải do những trường hợp hoặc nguyên nhân nêu tại phần IIcủa quy tắc này (không thuộc phạm vi bảo hiểm)

Đơn vị tham gia bảo hiểm làm tốtcông tác bảo hộ lao động, hàng năm sẽ được cơ quan bảo hiểm xét khen thưởng đúngmức.

IX. THỦ TỤC BỒI THƯỜNG

1. Khi yêu cầu bồi thường, phía ngườiđược bảo hiểm cần phải tập trung gởi cho cơ quan bảo hiểm các giấy tờ sau:

Đơn yêu cầu bồi thường tai nạn laođộng có nêu rõ số tiền đòi.

Bản sao giấy chứng minh nhân dânhoặc hộ khẩu thường trú của người được bảo hiểm bị nạn.

Biên bản tai nạn lao động.

Bản kết luận xếp hạng thương tậtcủa Hội đồng giám định y khoa hoặc giấy chứng tử.

2. Cơ quan bảo hiểm có trách nhiệmxem xét giải quyết và thanh toán tiền bồi thường trong vòng ba mươi (30) ngàykể tư ngày nhận được đầy đủ các giấy tờ nói trên.

3. Trong thời hạn một (1) năm kểtừ ngày xảy ra tai nạn lao động nếu phía người được bảo hiểm không lập thủ tục đòicơ quan bảo hiểm bồi thường thì mọi khiếu nại về sau cơ quan bảo hiểm sẽ khôngcòn trách nhiệm giải quyết.

X. QUY ĐỊNH CHUNG

1. Hợp đồng bảo hiểm tai nạn laođộng có đầy đủ hiệu lực dù người bị tai nạn đã được hưởng dụng những trợ cấp củabảo hiểm xã hội hoặc những bồi thường của các loại hình bảo hiểm khác.

2. Các tranh chấp liên quan đến hợpđồng bảo hiểm tai nạn lao động sẽ do cơ quan bảo hiểm và đơn vị tham gia bảohiểm hiệp thương giải quyết và xét cần, thì sẽ mời đại diện Liên hiệp Công đoànvà Sở Lao động cùng tham dự. Nếu không có kết quả có thể đưa ra cơ quan Trọngtài xét xử.