THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 37-TTg

Hà Nội, ngày 17 tháng 1 năm 1997

CHỈ THỊ

VỀVIỆC ĐẨY NHANH THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HOÁ GIA ĐÌNH ĐẾN NĂM 2000

Thực hiện Nghị quyết Ban chấphành Trung ương 4 (khoá VII) về chính sách dân số - kế hoạch hoá gia đình vàChiến lược dân số - kế hoạch hoá gia đình đến năm 2000 được phê duyệt tại Quyếtđịnh số 270/TTg ngày 03/6/1993 của Thủ tướng Chính phủ, mấy năm qua công tácdân số - kế hoạch hoá gia đình (DS-KHHGĐ) đã có chuyển biến rõ rệt cả về nhậnthức và tổ chức thực hiện, đạt được kết quả rất đáng khích lệ (giảm được tốc độtăng dân số so với nhiều năm trước đây). Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa thựcsự vững chắc do tâm lý muốn có nhiều con và tập quán coi trọng con trai hơn congái trong nhân dân vẫn còn nặng nề. Việc tiếp tục đạt được kết quả nhanh trongcông tác này khó hơn so với trước do đối tượng và địa bàn khó khăn hơn, trongkhi số dân nước ta đã đông, tỷ lệ sinh vẫn còn cao, ảnh hưởng không nhỏ đếnphát triển kinh tế - xã hội và cải thiện đời sống của các tầng lớp nhân dân.

Để công tác DS-KHHGĐ đạt đượckết quả tốt hơn nữa, tạo thuận lợi cho việc thực hiện thành công kế hoạch pháttriển kinh tế - xã hội đến năm 2000 và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước đã được thông qua tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Thủ tướngChính phủ chỉ thị:

1. Tập trung nỗ lực phấn đấu đạtcho bằng được phương án giảm nhanh tỷ lệ sinh, sao cho đến năm 2000 tỷ lệ pháttriển dân số nước ta là 1,5-1,6% để đạt được mức sinh thay thế (bình quân toànxã hội mỗi cặp vợ chồng có 2 con) chậm nhất vào năm 2005, tiến tới ổn định quymô dân số ở mức hợp lý.

Các ngành, các cấp phải coi việcthực hiện mục tiêu này là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành, cấpmình, tập trung chỉ đạo cơ quan DS-KHHGĐ, các cơ quan chức năng và đơn vị thuộcquyền vận động toàn dân thực hiện tốt công tác DS-KHHGĐ, coi việc thực hiệnKHHGĐ là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá, bổ nhiệm cán bộ.

2. Để đạt được mục tiêu trên,trong 4 năm 1997-2000 phải làm tốt những việc sau đây:

a) Củng cố và hoàn thiện hệthống tổ chức làm công tác DS-KHHGĐ từ Trung ương đến cơ sở. Ban Tổ chức - Cánbộ Chính phủ phối hợp với Uỷ ban quốc gia dân số - kế hoạch hoá gia đình, cácBộ, ngành, đoàn thể có liên quan và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương, nhất là các tỉnh mới tách ra củng cố và hoàn thiện hệ thốngnày, chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức hoạt động tronghệ thống. Không bố trí cán bộ vẫn tiếp tục vi phạm chính sách DS-KHHGĐ từ khicó Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương 4 (khoá VII) phụ trách công tác này.

Cần đặc biệt quan tâm đến độingũ cán bộ chuyên trách DS-KHHGĐ xã, phường và cộng tác viên DS-KHHGĐ ở thôn,xóm để làm tốt nhiệm vụ tuyên truyền, vận động, phân phối các phương tiện tránhthai phi lâm sàng (không đòi hỏi phải có sự can thiệp của y tế) và theo dõitình hình DS-KHHGĐ.

b) Thực hiện cơ chế phân bổ côngkhai toàn bộ kinh phí cho công tác DS-KHHGĐ, đưa tuyệt đại bộ phận về địaphương (96%, trong đó 68% về đến xã và người dân) và thực hiện thông qua hợpđồng trách nhiệm. Uỷ ban Quốc gia dân số - kế hoạch hoá gia đình, Bộ Tài chínhvà Uỷ ban nhân dân các cấp phải phối hợp chặt chẽ, đánh giá để hoàn thiện hơnnữa cách làm này nhằm quản lý tốt, sử dụng có hiệu quả ngân sách Nhà nước đầu tưcho công tác DS-KHHGĐ. Cố gắng tăng thêm kinh phí cho cấp cơ sở và đưa đến tậnngười dân, hoạt động DS-KHHGĐ của các ngành, các cấp phải phục vụ cho cơ sở,nhằm thúc đẩy các hoạt động này ở cơ sở; đồng thời tích cực huy động sự đónggóp của nhân dân bổ sung thêm kinh phí cho công tác này.

Đối với việc quản lý viện trợnước ngoài dành cho công tác DS-KHHGĐ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Uỷban Quốc gia dân số - kế hoạch hoá gia đình nghiên cứu trình Chính phủ về cơchế quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất và cùng hướng vào các mục tiêu củachương trình DS-KHHGĐ Quốc gia.

Đối với vốn vay, Bộ Tài chínhcùng với Uỷ ban Quốc gia dân số - kế hoạch hoá gia đình nghiên cứu xử lý tốtviệc giải ngân để sử dụng sớm và có hiệu quả nhất.

c) Đẩy mạnh công tác truyềnthông DS-KHHGĐ. Đài truyền hình Việt Nam, Đài tiếng nói Việt Nam và các cơ quan thông tin đại chúng cần duy trì và nâng cao chất lượng các chương trìnhtruyền thông về DS-KHHGĐ. Uỷ ban nhân dân các cấp chỉ đạo các cơ quan tuyêntruyền xây dựng và thực hiện kế hoạch tuyên truyền về DS-KHHGĐ của địa phương,đồng thời thực hiện tiếp sóng Chương trình Dân số và Phát triển của các Đàitrung ương.

Các cấp, ngành, đoàn thể và tổchức xã hội cần đẩy mạnh hoạt động truyền thông trực tiếp đến đối tượng, kếthợp giữa truyền thông thường xuyên với việc tổ chức các chiến dịch truyền thônglồng ghép với dịch vụ KHHGĐ, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc thực hiệnchương trình DS-KHHGĐ.

Bộ Giáo dục và Đào tạo cần phảitriển khai tốt hơn việc giáo dục DS-KHHGĐ trong nhà trường nhằm hình thành vữngchắc ở lớp trẻ ý thức về DS-KHHGĐ.

d) Bộ Y tế và Uỷ ban Quốc giadân số - kế hoạch hoá gia đình tạo mọi điều kiện để nâng cao chất lượng dịch vụKHHGĐ đối với các biện pháp tránh thai lâm sàng thực hiện tại các cơ sở y tế.

Mở rộng phương thức cấp phát cácphương tiện tránh thai phi lâm sàng (bao cao su, viên uống tránh thai...) thôngqua hệ thống cộng tác viên DS-KHHGĐ đến từng hộ gia đình. Từng bước thực hiệnchương trình tiếp thị xã hội (bán với giá thấp) một số loại phương tiện tránhthai để vừa nâng cao ý thức sử dụng phương tiện tránh thai của người dân, vừagóp phần thúc đẩy xu thế xã hội hoá công tác DS-KHHGĐ.

e) Các Bộ, ngành, đoàn thể, tổchức xã hội cần phối hợp với Uỷ ban Quốc gia dân số - kế hoạch hoá gia đình ràsoát lại các văn bản về chính sách để sửa đổi những nội dung không phù hợp vớimục tiêu và chính sách DS-KHHGĐ. Từ nay, các Bộ, ngành khi soạn thảo các vănbản pháp quy có liên quan đến chính sách DS-KHHGĐ cần tham khảo ý kiến của Uỷban Quốc gia dân số - kế hoạch hoá gia đình trước khi trình duyệt hoặc ban hành.

3. Uỷ ban Quốc gia dân số - kếhoạch hoá gia đình có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan có liên quan xâydựng kế hoạch, chương trình hành động, thường xuyên kiểm tra, đánh giá việcthực hiện Chỉ thị này và báo cáo kết quả với Thủ tướng Chính phủ.

Võ Văn Kiệt

(Đã ký)