ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------

Số: 38/CT-UB

TP. Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 9 năm 1984

CHỈ THỊ

VỀPHƯƠNG HƯỚNG SẢN XUẤT VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHUYẾN KHÍCH SẢN XUẤT TCN-TCN TẠIHÀNH PHỐ

Trong những năm qua, công táccải tạo xã hội chủ nghĩa và phát triển sản xuất TCN-TCN tại thành phố đã đạtđược những kết quả đáng kể, góp phần giải quyết việc làm, tạo thêm ngày càngnhiều sản phẩm cho xã hội, đưa một bộ phận lao động tiểu, thủ công nghiệp vàocon đường làm ăn tập thể và có mối quan hệ với Nhà nước.

Tuy nhiên trong quá trình pháttriển, ngành tiểu, thủ công nghiệp cũng bộc lộ một số mặt yếu, nhất là về tổchức và quản lý, do đó nhiều cơ sở sản xuất tiểu, thủ công nghiệp còn pháttriển tự phát, chưa theo đúng phương hướng và quy hoạch. Nhiều hiện tượng cựcphát sinh và phát triển, chậm được khắc phục. Tình hình trên đã gây nhiều khókhăn cho việc đẩy mạnh sản xuất TCN-TCN một cách hợp lý, hạn chế tốc độ và hiệuquả của khu vực sản xuất này.

Nguyên nhân của những mặt yếunói trên là do các cấp, các ngành chưa quán triệt đầy đủ đường lối của Đảng vềsản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, chưa nhận thức đúng đắn về vịtrí, vai trò của TCN-TCN, về sự gắn bó giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sảnxuất, về 5 thành phần kinh tế, về sự thống nhất giữa 3 lợi ích; mặt khác cácchính sách của nhà nước chậm được bổ sung và cải tiến một cách đồng bộ và chưađược vận dụng thật phù hợp vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương như Chỉ thị số 231/CT ngày 16/6/1984 của Hội đồng Bộ trưởng đã nhận định.

Để đẩy mạnh sản xuất TCN-TCN củathành phố phát triển đúng hướng và vững chắc, cần phải xác định phương huớngsản xuất và vận dụng một số chính sách, biện pháp khuyến khích sản xuất TCN-TCNđược đề ra tại Quyết định số 133/CT ngày 09/5/1983 của Chủ tịch Hội đồng Bộtrưởng, cho thích hợp với đặc điểm tình hình sản xuất TCN-TCN của thành phố.

Trong khi chờ các cơ quan Trungương hướng dẫn tiếp việc thi hành Quyết định số 133/CT và ban hành các chínhsách cụ thể để thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 của Ban chấp hành Trungương Đảng, trên cơ sở bàn bạc nhất trí giữa các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dânthành phố ban hành chỉ thị về phương hướng và một số biện pháp khuyến khích sảnxuất TCN-TCN để thực hiện thống nhất trong toàn thành phố như sau :

I. VỀ PHƯƠNG HƯỚNG SẢN XUẤT :

Nghị quyết Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ 5 của Đảng đã xác định “TCN-TCN nước ta có tiềm năng to lớn, làmột bộ phận quan trọng của công nghiệp hàng tiêu dùng, đã và đang được tổ chứclại thành một bộ phận quan trọng của kinh tế xã hội chủ nghĩa, có vị trí quantrọng lâu dài trong nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là trong chặng đường đầutiên này”.

Với vị trí đó, sản xuất TCN-TCNcủa thành phố phát triển theo huớng: phát triển mạnh mẽ sản xuất hàng tiêu dùngvà dịch vụ, đồng thời tham gia đáp ứng một phần nhu cầu về tư liệu sản xuất,trước hết là công cụ thông dụng phục vụ sản xuất nông nghiệp ; phát triển mạnhmẽ sản xuất hàng xuất khẩu, tạo ra những mũi nhọn quyết định để phát huy tối đanăng lực sản xuất hiện có, khuyến khích kinh tế gia đình và phát huy các ngànhnghề truyền thống của thành phố.

Phương hướng đó phải nhằm đạtđược mục tiêu : Bảo đảm cho sản xuất TCN-TCN thành phố có tốc độ tăng bình quânhàng năm tử 10%-15% về giá trị tổng sản lượng, phấn đấu đưa tỉ trọng giá trịsản lượng hàng xuất khẩu đến năm 1985 chiếm từ 15%-20% giá trị tổng sản lượngvà tiếp tục tăng trong các năm sau, khu vực kinh tế tập thể phấn đấu tạo ra 50%giá trị tổng sản lượng TCN-TCN trong năm 1984 và tăng lên 60% trong năm 1985;thực hiện tốt các chỉ tiêu sản phẩm chủ yếu và giao nộp cho Nhà nước từ80%-100% giá trị sản lượng hàng hóa.

II- VỀ CẢI TẠO XÃ HỘI CHỦNGHĨA

Về cải tạo và tăng cường củng cốquan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đối với TCN-TCN, Ủy ban nhân dân thành phố sẽra văn bản hướng dẫn cụ thể để thực hiện Chỉ thị số 231/CT ngày 16/6/1984 củaHội đồng Bộ trưởng.

Trước mắt cần tập trung các mụctiêu sau đây :

1. Phấn đấu đưa tỷ lệ lao độnghợp tác hóa tăng lên từ 60%-65% tổng số lao động tiểu thủ công nghiệp trong năm1984 và 70% trong năm 1985.

2. Ra sức cũng cố các hợp tác xãhiện có, nâng dần lên thành hợp tác xã cấp cao, phấn đấu năm 1985 đưa từ20%-30% lên hợp tác xã cấp cao. Trước mắt tập trung sức khắc phục các mặt cònyếu sau đây :

- Chế độ sở hữu tập thể vềtư liệu sản xuất.

- Tổ chức và quản lý hợp tác xãvề các mặt: công tác kế hoạch, công tác tài chính, công tác quản lý kỹ thuật,chất lượng sản phẩm giao bán sản phẩm cho Nhà nước, phân phối, thu thập, cảithiện đời sống…

3. Tích cực củng cố các tổ hợptác sản xuất hiện có, chuyển các tổ đủ điều kiện lên hợp tác xã, trước mắt làcác ngành đã có quy hoạch; dệt, hồ nhuộm, xe đạp và phụ tùng, nhựa, cao su,thủy tinh, mỹ phẩm, da giày, giấy dụng cụ gia đình…

4. Tổ chức lại và quản lý cácvựa thu mua vật tư nguyên liệu phế thải phục vụ cho sản xuất TCN-TCN.

5. Tăng cường quản lý sản xuấttư nhân cá thể, nắm chắc năng lực sản xuất, xây dựng đề án cải tạo cụ thể theocác hình thức thích hợp.

6. Phấn đấu mỗi năm sắp xếp chokhoảng 2 vạn đến 2,5 vạn lao động chưa có việc làm vào các ngành nghề TCN-TCN.

III- VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ :

1. Đẩy mạnh công tác quản lý kỹthuật, quản lý chất lượng sản phẩm theo phương hướng tận dụng tối đa công suấtmáy móc hiện có, tự trang, tự chế máy chuyên dùng, phục hồi thiết bị máy móccũ, cơ giới hoá một số khâu trong các ngành nghề thủ công mỹ nghệ, tiến tớithực hiện một số mô hình “tiểu công nghiệp hiện đại”, “thủ công nghiệp tinhxảo”.

2. Coi trọng việc áp dụng nhữngtiến bộ kỹ thuật nhằm mở rộng và cải tiến mặt hàng, sản xuất nhiều sản phẩm mớicó giá trị kinh tế cao, sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên vật liệu, nâng caochất lượng, tăng năng suất lao động và hạ giá thành sản phẩm. Tổ chức thực hiệntốt việc đăng ký nhãn hiệu và chất lượng, chống tệ làm ăn gian dối, nghiêm trịtội làm hàng giả để đảm bảo cho sản phẩm TCN-TCN thành phố ngày càng bền đẹp,có giá trị sử dụng cao, đáp ứng được yêu cầu của nhân dân trong nước và giữđược tín nhiệm với khách hàng nước ngoài.

3.Tăng cường sự lãnh đạo củaĐảng, tổ chức tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tích cực xây dựng lựclượng chính trị trong khu vực TCN-TCN nhất là xây dựng Đảng và Đoàn thanh niênCộng sản Hồ Chí Minh. Phấn đấu đến hết năm 1984, các hợp tác xã đều có chi đoànThanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Cuối năm 1985 các hợp tác xã đều có đảng viênlàm nòng cốt, xây dựng dược một số chi bộ, tổ Đảng hoặc tổ trung kiên.

4. Thắt chặt mối quan hệ giữacông nghiệp và TCN-TCN theo đúng chủ trương của Trung ương và thành phố về quyhoạch, tổ chức sắp xếp lại sản xuất thành ngành kinh tế kỹ thuật theo hướngchuyên môn hoá, hợp tác hoá nhằm tăng cường sự liên kết và phân công sản xuấtgiữa các thành phần kinh tế để đạt được hiệu quả kinh tế và xã hội.

5. Tăng cường công tác đào tạocán bộ quản lý cấp cơ sở (Phó Chủ tịch phụ trách TCN-TCN, cán bộ TCN-TCN phườngxã), cán bộ chủ chốt của hợp tác xã, chủ nhiệm, phó chủ nhiệm, kế toán trưởng,trưởng ban kiểm soát, bí thư thanh niên, hội trưởng hội lao động hợp tác…

6. Tích cực củng cố hệ thốngliên hiệp xã, cải tiến quản lý, phát huy hơn nữa tính năng động, sáng tạo củacác cơ sở kinh tế tập thể, nâng cao hơn nữa quyền chủ động sản xuất kinh doanhtrên cơ sở thực hiện sự thống nhất giữa 3 lợi ích.

IV- MỘT SỐ CHẾ ĐỘ CỤ THỂ ĐỐIVỚI LAO ĐỘNG TTCN :

1. Về lương thực :

Sở Lương thực thực hiện việc bángạo cho những người lao động TCN-TCN với giá chỉ đạo bán lẻ của thành phố theochế độ sau :

a) Tiêu chuẩn lương thực cơ bảncủa người thợ tiểu thủ công làm hàng xuất khẩu và xã viên hợp tác xã được muaổn định cho bản thân là 13kg/tháng và người ăn theo mỗi người được mua9kg/tháng.

Đối với đối tượng trên,nếu giao nộp toàn bộ sản phẩm cho Nhà nước (100%) thì được mua thêm phần gạochênh lệch theo định lượng lương thực áp dụng cho công nhân viên quốc doanhcùng ngành nghề; nếu giao nộp dưới tỷ lệ 100% sản lượng sản phẩm thì lượnglương thực chênh lệch được mua thêm tương ứng với tỷ lệ giao nộp sản phẩm. Hợpđồng sẽ được quyết toán hàng năm cùng với doanh thu để tính lượng gạo chênhlệch được mua thêm.

b) Những đơn vị sản xuất TCN-TCNtập thể và tư nhân cá thể không thuộc đối tượng nói ở mục a) nhưng có quan hệkinh tế với Nhà nước (trừ trường hợp có hợp đồng theo giá thỏa thuận) thì đượcmua lượng gạo (theo định mức lương thực 13kg/tháng) tương ứng với tỷ lệ % sảnphẩm giao nộp theo hợp đồng kinh tế với các cơ quan Nhà nước và các đơn vị kinhtế xã hội chủ nghĩa.

c) Sở Lương thực và Liên hiệp xãTCN-TCN thành phố sẽ quy định cụ thể về chế độ bán gạo với thủ tục đơn giản,tạo điều kiện thuận lợi cho người mua mà không sơ hở, phát sinh tiêu cực trongkhâu thực hiện.

2. Về nhu yếu phẩm cơ bản :

Sở Thương nghiệp bán đủ địnhlượng bằng hiện vật và ổn định các mặt hàng : vải, thịt, chất đốt, xà bông chothợ thủ công làm hàng xuất khẩu và cho xã viên các hợp tác xã theo giá chỉ đạobán lẻ của Nhà nước.

Đối với một số mặt hàng nếukhông đủ bán bằng hiện vật thì được bù giá, bảo đảm cho người thợ thủ công cóthể mua ở thị trường địa phương như thông tư số 801/VGNN-KHCS ngày 16/12/1983của Ủy ban vật giá Nhà nước đã quy định.

Về dụng cụ bảo hộ lao động, thợthủ công làm hàng xuất khẩu và xã viên hợp tác xã đựơc mua theo chế độ hiệnhành khi được Hội đồng bảo hộ lao động thành phố xét duyệt.

3. Về tiền công :

Tiền công của người thợ tiểu thủcông được tính đầy đủ theo các chế độ tiền lương, tiền thưởng, phụ cấplương…như công nhân viên chức Nhà nước cùng ngành nghề để định giá gia cônghoặc giá thu mua sản phẩm TCN-TCN. Tùy theo tình hình giá cả từng thời kỳ màtiền công được điều chỉnh cho thích hợp.

Đối với thợ thủ công làm hàngxuất khẩu và xã viên các hợp tác xã nếu chưa được mua các mặt hàng nhu yếu phẩmhoặc bù giá như đã nói ở mục 2 thì tiền công bình quân hàng tháng được tínhtăng thêm tương ứng với các khoản chênh lệch giá.

4. Về tài chính- thuế:

+ Về thuế : đối với các cơ sởkhai báo quyết toán được lỗ lãi hàng tháng thì thuế lợi tức được tính thu hàngtháng.

Đối với các cơ sở khai báo đượcquyết toán quý thì thuế lợi tức hàng tháng được tạm tính và thu sát với kết quảkinh doanh, đầu quý sau phải khai báo quyết toán lỗ lãi để cơ quan thuế tínhthu chính thức.

Việc tính thuế cần bàn bạc dânchủ giữa cán bộ thuế và cơ sở sản xuất như quyết định số 133/CT đã quy định.

Khi tính thuế lợi tức, cơ sởđược xét trừ đầy đủ các khoản kinh phí hợp lệ đã quy định như :

- Chi phí nguyên vật liệu

- Khấu hao tài sản cố định (cógởi ngân hàng).

- Bảo hộ lao động, bồi dưỡng độchại.

- Y tế phí, bảo hiểm xã hội.

- Chi phí quản lý.

- Chi phí tiếp tân, quảng cáo,điện nước.

- Chi phí tiêu thụ (vận chuyển,đóng gói, hoa hồng thuế doanh nghiệp…)

Cơ quan thuế thực hiện đầy đủcác điều khoản giảm thuế theo chế độ trong các trường hợp như sau :

- Cơ sở là hợp tác xã cấp cao vàvừa.

- Các cơ sở có quan hệ kinh tếvới Nhà nước (trừ hợp đồng theo giá thỏa thuận).

- Phần đang đầu tư thêm trangthiết bị để mở rộng sản xuất.

- Sử dụng phế liệu, phế phẩm củabản thân cơ sở để sản xuất sản phẩm phụ hoặc sử dụng phế liệu do sáng kiến, cảitiến kỹ thuật của cơ sở.

- Sử dụng nguyên vật liệu tạiđịa phương thay thế cho nguyên vật liệu nhập.

- Cơ sở có xã viên là thương binh(tùy theo số lượng mà xét mức giảm).

- Cơ sở gặp khó khăn đặc biệt.

5. Về tín dụng ngân hàng :

Các cơ sở sản xuất TCN-TCN có mởtài khoản tại ngân hàng, được ngân hàng cho vay vốn và rút tiền mặt nếu cơ sởthực hiện đầy đủ các yêu cầu sau đây:

- Tài khoản hoạt động đều đặn.

- Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đốivới tài chính Nhà nước.

- Có hợp đồng gia công hoặc bánsản phẩm cho Nhà nước

- Có kế hoạch vay vốn và kếhoạch tiền mặt được ngân hàng chấp thuận.

Ngân hàng cần nắm sát tình hìnhcơ sở sản xuất TCN-TCN để phục vụ kịp thời, có hiệu quả, đồng thời góp phầnthúc đẩy các cơ sở sản xuất kinh doanh, đúng hướng, đúng chế độ, chính sách Nhànước.

Các chính sách và biện pháp trênmới chỉ là bước đầu còn mang tính chất bao cấp Ủy ban nhân dân thành phố giaocho Liên hiệp xã thành phố cùng các cơ quan có liên quan dự thảo các chính sáchmột cách tổng hợp, trình Ủy ban nhân dân thành phố để xin ý kiến Trung ương chothực hiện.

V- TỔ CHỨC THỰC HIỆN :

Căn cứ Chỉ thị này, các sở, ban,ngành có liên quan cần nghiên cứu ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện (nếucần quy định cụ thể). Trong quá trình thực hiện nếu có gì cần bổ sung hoặc sửađổi phải báo cáo cho Ủy ban nhân dân thành phố giải quyết.

Ủy ban nhân dân thành phố giaotrách nhiệm cho Sở Công nghiệp cùng Liên hiệp xã tiểu thủ công nghiệp thành phốtheo dõi việc thi hành Chỉ thị này.

T/M ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
KT CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH




Lê Văn Triết