PHÓ THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ******

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc********

Số: 548-TTg

Hà Nội, ngày 01 tháng 12 năm 1978

CHỈ THỊ

VỀVIỆC TỔ CHỨC LIÊN HIỆP SẢN XUẤT TRONG CÁC NGÀNH KINH TẾ QUỐC DÂN

Trong cơ cấu kinh tế của nước tahiện nay, nhiều ngành kinh tế - kỹ thuật đã được hình thành và một số hình thứctổ chức liên hiệp sản xuất kinh doanh đang hoạt động có kết quả bước đầu nhưcác liên hiệp các xí nghiệp, công ty, xí nghiệp liên hợp, nhóm sản phẩm.

Song đến nay việc tổ chức lạisản xuất và các hình thức tổ chức liên hiệp sản xuất có một số nhược điểm nhưcơ cấu kinh tế và tổ chức sản xuất còn mang nặng tính chất sản xuất nhỏ phântán, chia cắt; chưa thực hiện được việc phân công sản xuất chuyên môn hóa sâukết hợp với sử dụng tổng hợp các năng lực sản xuất, chưa có sự phân công hợp lývà hợp tác chặt chẽ giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa các cơ sở trung ươngvà địa phương, giữa quốc doanh tập thể và cá thể trong cùng ngành sản xuất; chưacó sự phân công quản lý rõ ràng giữa các bộ, tổng cục đối với một số ngành quantrọng, trong nhiều ngành sản xuất, hình thức tổ chức quản lý chưa thích hợp,phương thức quản lý còn nặng tính chất bao cấp, chưa thực hiện được chế độ hạchtoán kinh tế; bộ máy quản lý của nhiều tổ chức sản xuất còn cồng kềnh, kém hiệulực.

Để phát huy hiệu quả trong việcliên hiệp sản xuất và tổ chức lại các ngành kinh tế - kỹ thuật theo tinh thầnnghị quyết Hội nghị lần thứ tư của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Thủ tướng Chínhphủ yêu cầu các ngành, các cấp tiến hành việc tổ chức lại sản xuất và xàc địnhnhững hình thức tổ chức quản lý liên hiệp sản xuất theo những quy định và hướngdẫn chung sau đây.

I. NẮM VỮNG MỤC ĐÍCH, YÊU CẦUCỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ CẢI TIẾN CÁC TỔ CHỨC LIÊN HIỆP SẢN XUẤT.

Việc tổ chức các liên hiệp sảnxuất nhằm mục đích:

1. Bảo đảm quá trình tái sảnxuất đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất: tận dụng và phát huy đầy đủ năng lựcsản xuất và sở trường của các đơn vị trong toàn ngành và trong từng tổ chứcliên hiệp, nâng cao năng suất lao động, tăng khối lượng sản phẩm và bảo đảmchất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất.

2. Hình thành và phát triểnnhanh chóng các ngành kinh tế kỹ thuật trên cơ sở phát triển mạnh mẽ lực lượngsản xuất và đẩy mạnh cách mạng khoa học- kỹ thuật, góp phần xây dựng cơ cấucông - nông nghiệp của nền kinh tế quốc dân tiến lên sản xuất lớn xã hội chủnghĩa.

Căn cứ vào mục đích nói trên,việc tổ chức liên hiệp sản xuất phải đạt được các yêu cầu sau đây:

a) Tổ chức lại sản xuất cácngành công nghiệp theo hướng thúc đẩy quá trình tích tụ, chuyên môn hóa, hợptác và liên hiện sản xuất đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, phù hợp vớitrình độ phát triển của những ngành khác nhau trong giai đoạn hiện nay.

b) Thực hiện phương thức quản lýkinh doanh xã hội chủ nghĩa theo chế độ hạch toán kinh tế, xóa bỏ lối quản lýbao cấp thúc đẩy các tổ chức liên hiệp và các đơn vị sản xuất – kinh doanh cơsở hoạt động mạnh mẽ và có hiệu lực.

c) Tăng cường quản lý theongành; kết hợp tổ chức và hoạt động của các ngành ở từng địa phương và trêntừng vùng lãnh thổ. Bảo đảm hiệu lực quản lý thống nhất toàn ngành của bộ trênphạm vi cả nước, đồng thời đề cao chức năng và hiệu lực quản lý của chính quyềnđịa phương trên lãnh thổ.

d) Xây dựng hệ thống quản lý ítcấp nhất, giảm bớt các khâu quản lý trung gian, đưa quản lý sát với sản xuất,nâng cao tính linh hoạt, tinh chủ động trong việc chỉ huy tác nghiệp và điềuhành của bộ máy quản lý sản xuất kinh doanh.

Các ngành, các địa phương tùytheo những điều kiện cụ thể, tổ chức những loại hình liên hiệp sản xuất sau đâycho phù hợp với tình hình thực tế:

- Liên hiệp các đơn vị kinh tếthuộc một số ngành khác nhau để phân công sản xuất chuyên môn hóa hợp lý, đồngthời tổng hợp nhiều mặt sản xuất kinh doanh khác như liên hiệp giữa các ngànhcông nghiệp, giữa công nghiệp và nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, giữa sảnxuất và lưu thông phân phối;

- Liên hiệp giữa các khâu trongquá trình tái sản xuất: từ khâu khai thác, chế biến nguyên liệu ra thành phẩmđến khâu tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ sau bán hàng; hoặc có thể gồm cả khâunghiên cứu khoa học kỹ thuật, thiết kế, cung ứng vật tư kỹ thuật;

- Liên hiệp các đơn vị có quy môsản xuất và trình độ trang bị kỹ thuật khác nhau, xí nghiệp trung ương và xínghiệp địa phương, xí nghiệp quốc doanh và hợp tác xã, các cơ sở sản xuất thuộccác hình thức sở hữu khác;

- Liên hiệp trong một tổ chứcđược chỉ huy và quản lý thống nhất, chặt chẽ, hoặc liên hiệp trên cơ sở tựnguyện qua hợp đồng kinh tế, được tổ chức từ nhỏ đến lớn, quy mô từ hẹp đếnrộng về phạm vi ngành, nghề và về lãnh thổ.

II. XÁC ĐỊNH CÁC HÌNH THỨC TỔCHỨC LIÊN HIỆP SẢN XUẤT.

1. Liên hiệp các xí nghiệpquốc doanh.

Hình thức này được áp dụng đốivới những ngành kinh tế - kỹ thuật đã được hình thành, có nhiều đơn vị cơ sở,có quy mô tương đối lớn, được phân bổ trên phạm vi cả nước hay trên một địabàn rộng lớn, có những yêu cầu về liên hiệp sản xuất để bảo đảm sự phân côngsản xuất theo hướng chuyên môn hóa kết hợp với hợp tác xã sản xuất, phối hợp sửdụng tốt nhất các năng lực sản xuất nhằm tăng nhanh năng suất lao động và hiệuquả kinh tế chung của ngành.

Liên hiệp các xí nghiệp quốcdoanh được xác định là một tổ chức sản xuất – kinh doanh gồm các xí nghiệp cómối liên hệ mật thiết với nhau trong một ngành kinh tế - kỹ thuật và là một cơquan quản lý sản xuất – kinh doanh.Liên hiệp hoạt động theo chế độ hạch toánkinh tế và có tư cách pháp nhân.

Các xí nghiệp trực thuộc liênhiệp có tư cách pháp nhân đầy đủ và có những nhiệm vụ, quyền hạn như điều lệ xínghiệp công nghiệp quốc doanh đã quy định các nhiệm vụ, quyền hạn này được bổsung, điều chỉnh cho phù hợp với chức năng của liên hiệp các xí nghiệp.

Liên hiệp chịu sự chỉ đạo trựctiếp của Bộ chủ quản, Tuỳ theo điều kiện và khả năng cụ thể, liên hiệp đượcgiao một số nhiệm vụ quản lý ngành trong phạm vi cả nước theo những quy địnhchung của Nhà nước và những quy định cụ thể của Bộ chủ quản.

Để tránh tình trạng có nhiều cấpquản lý, việc thành lập những liên hiệp các xí nghiệp theo vùng phải được xemxét cụ thể và được vận dụng đối với một số ngành gắn với điều kiện tự nhiên củatừng vùng về nguồn khai thác và cung ứng nguyên liệu, về tiêu thụ.

Các bộ quản lý ngành phải duyệtcác điều lệ riêng của từng liên hiệp, phù hợp với tinh thần và nội dung cơ bảncủa điều lệ mẫu về liên hiệp các xí nghiệp quốc doanh đã được Chính phủ banhành.

2. Xí nghiệp liên hợp.

Hình thức này được áp dụng đốivới những tổ chức sản xuất – kinh doanh có các xí nghiệp, nhà máy, hầm mỏ, côngxưởng… có quan hệ chặt chẽ với nhau về kinh tế, kỹ thuật và công nghệ, liên kếtvới nhau trong một tổ chức sản xuất (cung ứng, chế biến nguyên liệu và nửathành phẩm kế tiếp nhau, hoặc sử dụng tổng hợp nguyên liệu) để làm ra một haymột số sản phẩm khác nhau và có yêu cầu phải được chỉ huy, quản lý thống nhấtđể đạt hiệu quả kinh tế cao.

Xí nghiệp liên hiệp là một đơnvị cơ sở hoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế, có tư cách pháp nhân đầy đủ.

Các bộ quản lý sản xuất, các địaphương phải nghiên cứu xây dựng hình thức xí nghiệp liên hợp cho một số công tysản xuất công nghiệp có những tính chất như đã nói trên.

3. Nhóm sản phẩm.

Nhóm sản phẩm là hình thức hợptác sản xuất trên cơ sở tự nguyện, dân chủ và bình đẳng, dưới sự chỉ đạo của cơquan quản lý ngành, giữa các đơn vị thuộc một ngành hoặc một số ngành. giữa cácđơn vị thuộc các cấp quản lý và quan hệ sở hữu khác nhau (xí nghiệp Trung ương,xí nghiệp địa phương, công tư hợp doanh, hợp tác xã).

Khi tố chức, nhóm sản phẩm phảixác định được một đơn vị đầu đàn làm nòng cốt về sản xuất, kỹ thuật và quản lý,có đủ năng lực thiết lập và điều phối các mối quan hệ trong phân công và hợptác sản xuất của nhóm theo quy hoạch và kế hoạch của ngành, Giám đốc đơn vị nàylà chủ tịch nhóm sản phẩm, có nhiệm vụ điều hòa phối hợp sự hoạt động của nhómtheo sự chỉ đạo của cơ quan quản lý ngành.

Để tận dụng và phát huy hợp lýsở trường và năng lực sản xuất nhiều mặt của mình, một đơn vị sản xuất có thểtham gia một số nhóm sản phẩm.

Hoạt động của nhóm sản phẩm lấynhiệm vụ kế hoạch của ngành làm mục tiêu chung. Nhóm sản phẩm tiến hành việcphân công sản xuất chuyên môn hóa những sản phẩm trong danh mục mặt hàng củanhóm, phù hợp với năng lực, sở trường của từng đơn vị thành viên, hoặc cùng hợptác xã sản xuất những sản phẩm phức tạp có giá trị về kinh tế và kỹ thuật, vậndụng kỹ thuật mới và trao đổi những kinh nghiệm tiên tiến về tổ chức và quản lýsản xuất; bàn bạc cùng nhau lập bản cân đối kế hoạch chung về sản xuất, cungứng vật tư kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm, thống nhất trong nhóm về hướng đầu tưtheo quy hoạch phát triển ngành.

4. Liên hiệp sản xuất giữacông nghiệp và nông nghiệp.

Cần nghiên cứu đẩy mạnh việc tổchức những hình thức liên hiệp sau đây:

- Xí nghiệp liên hợp nông –công nghiệp. Tổ chức theo vùng, gồm chủ yếu những nông trường (trồng trọt,chăn nuôi) và những nhà máy chế biến sản phẩm của các nông trường ấy. Hoạt độngcủa xí nghiệp liên hợp nông – công nghiệp có thể bao gồm cả các khâu thu mua,bảo quản, chế biến, vận chuyển, tiêu thụ (bán buôn trong nước và xuất khẩu),đặt quan hệ hợp tác chặt chẽ và ký hợp đồng trực tiếp với các hợp tác xã trongvùng.

- Liên hiệp các xí nghiệpnông – công nghiệp, tổ chức chủ yếu đối với những ngành sản xuất có trìnhđộ tích tụ, chuyên môn hóa tương đối cao, bao gồm các nông trường, xí nghiệpcông nghiệp, xí nghiệp liên hợp nông – công nghiệp cùng hoạt động trong hệthống trồng trọt hoặc chăn nuôi, thu mua, bảo quản, chế biến, vận chuyển vàtiêu thụ những sản phẩm nhất định đã được chuyên môn hóa sản xuất.

- Xí nghiệp liên hợp hay liênhiệp các xí nghiệp chăn nuôi thep phương pháp công nghiệp, có trình độ cơgiới hóa, tích tụ, chuyên môn hóa và hợp tác hóa sản xuất cao.

- Các hình thức liên doanhgiữa các nông trường, hợp tác xã, xí nghiệp quốc doanh trên một số khâu nhấtđịnh (sản xuất và cung ứng nguyên liệu, chế biến, tiêu thụ…)

- Theo chủ trương xây dựng huyệnnông – công nghiệp, cần tổ chức sự liên hiệp giữa các cơ sở nông nghiệp vớicông nghiệp, quốc doanh địa phương và hợp tác xã tiểu công nghiệp, thủ côngnghiệp trên địa bàn huyện, hình thành cơ cấu nông – công nghiệp huyện đặt dướisự quản lý của chính quyền cấp huyện.

III. NHỮNG CÔNG VIỆC CẦN TIẾNHÀNH ĐỂ THỰC HIỆN TỐT LIÊN HIỆP SẢN XUẤT.

 Trên cơ sở phân định rõ cácngành kinh tế - kỹ thuật, xác định cơ cấu ngành trong phạm vi quản lý cùa từngBộ và phân công, phân cấp quản lý giữa các Bộ, giữa Bộ với chính quyền địaphương, cần tiến hành song song ba việc sau đây:

1. Tổ chức hợp lý sự liên hiệpsản xuất ở các đơn vị cơ sở; xây dựng các tổ chức liên hiệp sản xuất theo ngànhkinh tế - kỹ thuật và giữa các ngành kinh tế - kỹ thuật với nhau; giao chứcnăng trực tiếp quản lý sản xuất – kinh doanh cho các tổ chức kinh tế ấy.

2. Cải tiến phương thức quản lý,khắc phục lối quản lý hành chính quan liêu và bao cấp, thực hiện phương thứcquản lý kinh doanh xã hội chủ nghĩa theo chế độ hạch toán kinh tế, bảo đảm cácquyền chủ động trong sản xuất – kinh doanh của các liên hiệp và đơn vị cơ sởdưới sự quản lý tập trung đúng mức của Nhà nước.

3. Chấn chỉnh bộ máy của các Bộ,Tổng cục quản lý ngành sản xuất, chuyển mạnh tổ chức và hoạt động của các Bộsang thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với toàn ngành, đồng thời trựctiếp chỉ đạo các đơn vị sản xuất – kinh doanh trực thuộc Bộ, không bao biện làmthay các tổng giám đốc liên hiệp và giám đốc xí nghiệp.

Điều mấu chốt là các Bộ phảichọn lọc, bồi dưỡng và bố trí cán bộ có đủ phẩm chất, đủ năng lực quản lý cáctổ chức liên hiệp (tổng giám đốc và phó tổng giám đốc liên hiệp các xí nghiệp,giám đốc và phó giám đốc xí nghiệp liên hiệp, kế toán trưởng…).

Để làm tốt ba việc kể trên, cácngành, các cấp có liên quan cần nghiêm chỉnh thực hiện các công việc sau đây (1):

- Công việc của các Bộ, Tổng cụcquản lý ngành và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố …

……………………………

……………………………

- Công việc của các Bộ tổng hợpvà các cơ quan nghiên cứu quản lý kinh tế….

……………………………

……………………………

- Về chỉ đạo của Thường vụ Hộiđồng Chính phủ từ tháng 12 năm 1978 đến hết quý I năm 1979…

……………………………

……………………………

KT. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
PHÓ THỦ TƯỚNG

Lê Thanh Nghị

(1): Không in những vấn đề cụ thể.