ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
-------------

Số: 62/CT-UB

TP. Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 05 năm 1979

CHỈ THỊ

VỀVIỆC HUY ĐỘNG LAO ĐỘNG VÀ TỔ CHỨC CÁC ĐỘI LAO ĐỘNG CHUYÊN NGHIỆP Ở CÁC QUẬN,HUYỆN, PHƯỜNG, XÃ ĐỂ XÂY DỰNG CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI PHỤC VỤ SẢN XUẤT NÔNGNGHIỆP CỦA THÀNH PHỐ

Nhiệm vụ xây dựng các công trìnhthủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp của thành phố năm 1979 và các năm sau ,có khối lượng xây dựng, vốn đầu tư và yêu cầu sử dụng lực lượng lao động rấtlớn.

Riêng năm 1979 với khối lượngđào đấp 3,5 triệu m3 đất, 15.000m3 bê tông, gạch đá xâycác loại, vốn đầu tư 10,2 triệu đồng và yêu cầu sử dụng 4,5 triệu ngày công laođộng ; nhưng cho đến nay, mới thực hiện được 16,8% kế hoạch về khối lượng,13,8% vốn đầu tư và 7,3% ngày công lao động.

Có tình hình trên là do thờigian qua không huy động đủ lao động theo kế hoạch cho công tác thủy lợi ; sốngười huy động được đã ít, lại phần lớn làm chưa quen, năng suất kém, ảnh hưởngđến thu nhập, đời sống, làm cho người lao động không hăng hái tham gia, khó huyđộng …

Tình hình trên nếu không kịpthời chấn chỉnh, kế hoạch thủy lợi năm 1979 khó hoàn thành, ảnh hưởng lớn đếnsản xuất nông nghiệp cho năm nay và các năm sau.

Để khắc phục tình trạng trên,căn cứ các quy định của Nhà nước về tổ chức huy động lao động, các chế độ chínhsách đối với lao động đi làm thủy lợi và tình hình của thành phố, sau đây làmột số việc cấp bách phải làm ngay:

1/- Về đối tượng được huy động đi làm lao động thủy lợi, bao gồm :

a) Lực lượng lao động của cáchuyện ngoại thành ;

b) Lực lượng lao động của cácquận, huyện được chọn và tổ chức thành các Đội lao động chuyên nghiệp ;

c) Lực lượng lao động cưỡng bứccủa các quận, huyện ;

d) Lực lượng thanh niên xungphong của thành phố ;

e) Ngoài ra, trong từng thờigian, từng trường hợp, có thể huy động lực lượng lao động xã hội chủ nghĩa củacác quận, huyện đi làm (đợt ngắn ngày) để hỗ trợ cho việc xây dựng những côngtrình thủy lợi trọng điểm sớm hoàn thành đưa vào phục vụ kịp thời vụ.

Đối với những công trình thủylợi nhỏ (nội đồng) của xã, ấp, chủ yếu là huy động lao động tại chỗ để làm,thực hiện phương châm : đồng ruộng, công trình thủy lợi ở đâu, phải gắn liềnvới lao động ở đó, người nông dân tại chỗ có nghĩa vụ đóng góp công sức để xâydựng. Tùy theo tính chất, quy mô công trình mà Ủy ban nhân dân xã tổ chức huyđộng lao động thực hiện. Những nơi mà nhân dân bị thiếu đói thì sẽ được bán gạotheo giá cung cấp, một số nhu yếu phẩm và tiền thù lao theo qui định của Nhànước.

2/- Về việc tổ chức các Đội lao động chuyên nghiệp.

Để có lực lượng lao động chuyênmôn làm lâu dài, phục vụ việc xây dựng các công trình công cộng của thành phố,và trước mắt là các công trình thủy lợi ; Ủy ban nhân dân thành phố ban hànhkèm theo chỉ thị này “Quy định tạm thời về tổ chức các đội lao động chuyênnghiệp quận, huyện, phường, xã” để Ủy ban nhân dân các quận, huyện làm căn cứtiến hành tổ chức gấp, đưa vào hoạt động càng sớm càng tốt, tranh thủ hoànthành một số công trình trước mùa mưa.

3/- Về trách nhiệm các cấp, các ngành.

a) Ủy ban nhân dân mỗi quận,huyện căn cứ vào chỉ tiêu do Sở Lao động phân bổ (được Ủy ban nhân dân thànhphố thông qua), có trách nhiệm khẩn trương huy động tổ chức lao động theo tinhthần chỉ thị này và tổ chức gấp các đội lao động chuyên nghiệp quận, huyện,phường, xã, đặt dưới quyền quản lý và điều khiển trực tiếp của các Ban chỉ huycông trường lao động thủ công quận, huyện sẵn có, có đủ tư cách pháp nhân, đểtiến hành hoạt động được ngay.

Các trường hợp huy động lao độngkhác theo tinh thần trên, thuộc quận, huyện nào, cũng đặt dưới quyền điều khiểncủa Ban chỉ huy công trường lao động thủ công quận, huyện đó, để thống nhất mộtmối chỉ huy.

- Các Ban chỉ huy công trườnglao động thủ công quận, huyện có trách nhiệm ký kết hợp đồng với Sở Thủy lợi,chuẩn bị chu đáo về mặt dụng cụ, hậu cần cho các Đội lao động chuyên nghiệpthuộc quận, huyện mình ; tổ chức, sử dụng lao động hợp lý, đạt năng suất cao ;thực hiện tốt các chế độ, chính sách mà Nhà nước và Ủy ban nhân dân thành phốđã quy định ; bảo đảm an toàn lao động ; thực hiện tốt các chế độ bàn giao,nghiệm thu, thanh quyết toán ; trả công sòng phẳng và chăm lo đời sống cho sốngười lao động mà mình được phân công phụ trách.

b) Sở Lao động căn cứ yêu cầu,kế hoạch của Sở Thủy lợi được Ủy ban nhân dân thành phố phê chuẩn và căn cứtình hình thực tế của các quận, huyện, tính toán phân bổ kịp thời chỉ tiêu huyđộng cho từng quận, huyện ; theo dõi, giúp đỡ để các quận, huyện huy động đủ sốvà đúng thời hạn ; kiểm tra việc tổ chức sử dụng lao động, tình hình thi hànhcác chế độ, chính sách, bảo đảm an toàn cho người lao động ; thường kỳ báo cáovề Ủy ban nhân dân thành phố tình hình và đề xuất bổ sung, hoặc sửa đổi nhữngđiểm còn thiếu, hoặc chưa hợp lý nêu ở bản quy định.

c) Sở Thủy lợi đảm bảo thi hànhđúng các điều đã ký kết hợp đồng với các Ban chỉ huy công trường lao động thủcông quận, huyện nhất là về mặt cung cấp vật liệu xây dựng, nghiệm thu và thanhtoán tài chánh ; thường xuyên theo dõi tình hình hoạt động của các đội laođộng, cùng với Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố hết sức giúp đỡ khi các độigặp khó khăn về mặt phục vụ điều kiện lao động và đời sống.

d) Các Sở, Ban, Ngành khác : Ủyban kế hoạch, Ủy ban Vật gái, Sở Nông nghiệp, Sở Tài chánh, Ngân hàng kiếnthiết, Ngân hàng thành phố, Sở Công nghiệp, Ty Lâm nghiệp, Công ty vật tư tổnghợp, Sở Lương thực, Sở Thương nghiệp, Sở Y tế, Sở Giao thông vận tải, Sở Quảnlý phân phối điện, các đoàn thể Nông hội, Thanh niên, Phụ nữ thành phố theochức năng, nhiệm vụ của ngành mình cần có kế hoạch đóng góp tích cực, hướng dẫncác cơ sở trực thuộc ngành mình phục vụ tốt và kịp thời.

Nhận được chỉ thị này, yêu cầucác sở, ban, ngành và Ủy ban nhân dân các quận, huyện hết sức lưu ý ; khẩntrương tổ chức triển khai thi hành tốt.

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH



Lê Đình Nhơn

QUY ĐỊNH TẠM THỜI

VỀTỔ CHỨC CÁC ĐỘI LAO ĐỘNG CHUYÊN NGHIỆP Ở CÁC QUẬN, HUYỆN, PHƯỜNG, XÃ
(Ban hành kèm theo Chỉ thị số 62/TC-UB ngày 11-5-1979 của Ủy ban nhân dânTP)

I. HÌNH THỨC, CƠ CẤU VÀ BIÊNCHẾ TỔ CHỨC ĐỘI LAO ĐỘNG CHUYÊN NGHIỆP.

Điều 1. Đội lao độngchuyên nghiệp (tổ chức theo đơn vị quận, huyện và phường, xã) là một tổ chứclao động tập thể, gồm những người có sức lao động và trong độ tuổi lao động,nhưng chưa có việc làm, được sắp xếp tổ chức vào các Đội lao động chuyên nghiệp;

Việc thành lập các Đội lao độngchuyên nghiệp do Ủy ban nhân dân quận, huyện xét quyết định, tiến hành tổ chứcvà giao cho các Ban chỉ huy công trường lao động thủ công quận, huyện trực tiếpquản lý, điều khiển.

Các Ban chấp hành Công trườnglao động thủ công quận, huyện có tư cách pháp nhân ký kết hợp đồng với Sở Thủylợi, quan hệ với các ngành Tài chánh, Ngân hàng, lương thực, thương nghiệp đểnhận và thanh toán tiền bạc, vật tư, lương thực thực phẩm, hàng hóa, nhu yếuphẩm v.v…

Điều 2. Cơ cấu và biênchế tổ chức Đội lao động chuyên nghiệp :

a) Ở quận, huyện : Mỗi quận,huyện được tổ chức một Đội lao động chuyên nghiệp, với quy mô từ 300 đến 500người.

- Đội được chia ra làm nhiều tổlao động, mỗi tổ từ 20 đến 30 người ;

- Nếu trong Đội có người biếtcác nghề chuyên môn như : mộc, nề, sắt …, thì xếp những người cùng nghề vào mộtTổ để hình thành các tổ lao động chuyên môn xây lắp các công trình, các tổ cònlại chủ yếu làm đất ;

- Mỗi Đội có một Đội trưởng điềukhiển chung và từ 2 – 3 đội phó phụ trách từng mặt công tác của Đội, và một sốnhân viên giúp việc làm các công tác như : hậu cần, kế toán, tài vụ, y tế, quảnlý …, bảo đảm tỷ lệ gián tiếp theo quy định tối đa không quá 10% ;

- Mỗi tổ lao động do một Tổtrưởng và từ 1 – 2 Tổ phó điều khiển mọi mặt công tác của Tổ.

b) Ở phường, xã : Mỗi phường(quận ven có nông nghiệp) và mỗi xã được tổ chức một Đội lao động chưyênnghiệp, với quy mô từ 50 đến 150 người để làm thủy lợi tại chỗ.

- Đội được chia ra làm nhiều tổlao động, mỗi tổ từ 20 – 30 người ;

- Mỗi Đội do một Đội trưởng điềukhiển chung và từ 1 – 2 đội phó phụ trách từng mặt công tác của Đội, và một sốngười làm kế toán, vật tư, hậu cần, y tế, quản lý …, bảo đảm tỷ lệ gián tiếptheo quy định từ 10 – 12%;

- Mỗi tổ lao động do một Tổtrưởng và từ 1 – 2 tổ phó điều khiển mọi mặt công tác của Tổ.

II. CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI ĐỘI LAOĐỘNG CHUYÊN NGHIỆP :

Điều 3. a) Chế độ làmviệc : Chế độ làm việc trên các công trường thủy lợi, theo chế độ giao khoánkhối lượng, kỹ thuật và thời gian, theo định mức lao động của Nhà nước. Chỉnhững việc không thể tính định mức được mới làm việc theo thời gian, và nếu làmviệc theo thời gian thì mỗi ngày làm việc 8 giờ. Sau 6 ngày làm việc liên tụcđược nghỉ 1 ngày. Những đợt huy động lao động nghĩa vụ từ 10 ngày trở lại thìlàm xong nhiệm vụ rồi về, không nghỉ giữa đợt.

Phụ nữ làm việc trên công trườngthủy lợi những ngày hành kinh thì làm việc nhẹ 7 giờ trong ngày và không giaoviệc phải ngâm mình dưới nước hoặc trèo cao ;

b) Tiền công lao động : Nguyêntắc tiền công lao động là dựa trên cơ sở khối lượng đạt được, theo định mức laođộng giao khoán. Người lao động được trả tiền công theo đơn giá gồm : giá gốc +phụ cấp khu vực + phụ phí thi công theo quy định của Nhà nước.

- Lương của Đội trưởng, Tổtrưởng các Đội lao động chuyên nghiệp được xếp bằng lương người lao động giỏivà cộng thêm phụ cấp 5 – 7% lương trách nhiệm tùy theo hưởng lương theo thờigian hay lương sản phẩm.

- Lương của nhân viên giúp việccác Đội lao động chuyên nghiệp được xếp bằng lương người lao động trung bình.

Kinh phí để trả lương sẽ lấytrong khoản phụ phí thi công công trình, được trả cùng với khi nghiệm thu,thanh toán khối lượng chính mà các Đội thực hiện :

c) Lương thực : Hàng tháng Nhànước bảo đảm bán lương thực theo giá cung cấp cho đội viên các Đội lao độngchuyên nghiệp (kể cả nội, ngoại thành) đều được mua đủ thức ăn cho từng đốitượng như sau :

- Lao động trực tiếp được mua15kg lương thực/tháng ;

- Lao động gián tiếp được mua10kg lương thực/tháng ;

(không kể 9 kg lương thực đượcmua hàng tháng tại địa phương).

- Nếu người nào làm giỏi, tăngnăng suất lao động 100% trở lên, được xét khen thưởng thỏa đáng bằng vật chấttheo quy định của Nhà nước.

Đi đôi với việc cấp lương thựcnói trên, Sở Thủy lợi phải có định mức giao khoán khối lượng, và trong một thờigian nhất định (khoảng 1 tháng), nếu người lao động không đạt được định mứcgiao khoán khối lượng đó, thì phải xem xét lại mức cấp lương thực cho phù hợpvới công sức lao động của họ, bảo đảm sự công bằng giữa người làm giỏi và ngườilàm kém, không đạt định mức.

d) Về thực phẩm và nhu yếu phẩm :

Đội viên các Đội lao động chuyênnghiệp, khi đi xây dựng các công trình thủy lợi của thành phố, nếu làm việcliên tục trên công trường sẽ được mua thực phẩm, nhu yếu phẩm theo giá cungcấp, tiêu chuẩn như cán bộ, công nhân viên Nhà nước.

e) Quần áo lao động : Đội viêncác Đội lao động chuyên nghiệp, khi đi xây dựng các công trình thủy lợi củathành phố, nếu làm việc liên tục 6 tháng trở lên, sẽ được bán thêm một bộ quầnáo lao động ngoài tiêu chuẩn bán vải hàng năm ;

Nếu làm lao động liên tục trêncông trường từ 3 tháng trở lên đối với nam được mua thêm 1 quần đùi + 1 áo thunvà đối với nữ được mua thêm 3m vải.

f) Các chế dộ khác bao gồm chếđộ nghỉ phép, tiền tàu xe, nghỉ ốm đau, chờ việc, khám điều trị bệnh, thuốcmen, tai nạn lao động, chế độ thương tật …, đối với đội viên các Đội lao độngchuyên nghiệp, khi đi xây dựng các công trình thủy lợi của thành phố, do Nhànước đầu tư vốn, áp dụng đúng theo quy định của Thông tư Liên Bộ Lao động –Thủy lợi số 5/TT-LB ngày 29-6-1978.

Điều 4. Khen thưởng, kỷluật :

a) Những người làm thủy lợi đạtnăng suất cao, có sáng kiến cải tiến tổ chức lao động, cải tiến công cụ, hoànthành xuất sắc nhiệm vụ, được bằng khen đến tặng huân chương, danh hiệu anhhùng lao động ;

b) Người trốn tránh nghĩa vụ laođộng làm thủy lợi, có hành động cản trở việc thực hiện nghĩa vụ lao động, phaotin nhảm, xúi dục người khác không đi làm thủy lợi…, những cán bộ vì thiếutrách nhiệm hoặc cố ý làm sai chế độ quy định của Nhà nước như : không chuẩn bịchu đáo, gây ra lãng phí lớn sức lao động, gây thiệt hại cho Nhà nước, cho tậpthể, cho sức khỏe và tính mạng của người lao động thì tùy theo tính chất và mứcđộ phạm lỗi sẽ bị khiển trách, cảnh cáo hoặc truy tố trước tòa án.

III. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 5. Các quy định trênđây có giá trị thi hành trong phạm vi toàn thành phố kể từ ngày Ủy ban nhân dânthành phố ký ban hành.

- Những quy định đã ban hànhtrước đây trái với các quy định này nay bãi bỏ.

- Việc bổ sung, sửa đổi các điềutrong bản quy định này do Ủy ban nhân dân thành phố quyết định.