THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ******

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc********

Số: 85-TTg

Hà Nội, ngày 12 tháng 03 năm 1979

CHỈ THỊ

VỀ ĐẨY MẠNH VIỆCTHỰC HIỆN QUYẾT ĐỊNH SỐ 201-CP CỦA HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Hội đồng Chính phủ đã ban hànhquyết định số 201-CP ngày 30-8-1941(1) về sắp xếp việc làm cho nhữngngười có khả năng làm việc, trong đó có biện pháp bắt buộc lao động đối với nhữngngười trong tuổi lao động, có sức lao động mà không chịu lao động. Những năm gầnđây, các địa phương đã có nhiều cố gắng, sắp xếp cho hàng triệu người có việclàm. Các thành phố, thị xã lớn đã đạt được một số kết quả bước đầu trong việc bắtbuộc lao động đối với những người trốn tránh nghĩa vụ lao động, làm ăn tráiphép, gây rối trật tự trị an.

Tuy nhiên nói chung việc bắt buộcđối với các đối tượng nói trên chưa được thực hiện một cách kiên quyết, do đó, ởcác thành phố, thị xã vẫn còn nhiều người chưa có việc làm thích hợp, đặc biệtlà còn một số người có sức lao động mà không chịu lao động, du đãng, làm ăn phipháp, gây rối trật tự trị an, nhân dân công phẫn đòi hỏi phải xử lý kiên quyết.

Trong phiên họp ngày 08 tháng 02năm 1979, Thường vụ Hội đồng Chính phủ đã bổ sung một số điểm nhằm đẩy mạnhcông tác sắp xếp việc làm cho nhân dân và kiên quyết kịp thời xử lý đối với nhữngngười trong tuổi lao động, có sức lao động mà không chịu lao động, chuyên sốngvề các nghề làm ăn phi pháp, du đãng, gây rối trật tự trị an. Cụ thể là:

1. Ủy ban nhân dân các cấpphải tận dụng khả năng lao động, đất đai, rừng biển, máy móc, vật tư, nguyên liệu,phế liệu… hiện có mà lập kế hoạch phát triển kinh tế, bảo đảm cho mọi người đếntuổi lao động đều làm việc, nhằm ổn định đời sống nhân dân, tăng thêm của cảicho xã hội.

Công dân trong tuổi lao động, cósức lao động phải thực hiện nghĩa vụ lao động và phải làm việc có ích cho xã hộiphù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân. Trong hai năm 1979 và 1980,các thành phố, thị xã lớn phải tổ chức cho mọi người có đủ việc làm.

2. Đối vớinhững người trong tuổi lao động, có sức lao động, hiện không theo học văn hóa,nghiệp vụ, kỹ thuật mà không chịu lao động có ích cho xã hội, sống lêu lổng, duđãng, làm ăn phi pháp, gây rối trật tự trị an nhưng chưa đến mức tập trung cảitạo thì phải xử lý như sau:

a) Ủy ban nhân dân tiểu khu, phường,xã phải nắm được danh sách, gọi đến cảnh cáo và hạn trong 15 ngày phải tìm lấyviệc làm; người không tự tìm được việc làm thì phải làm việc do Ủy ban nhân dâncơ sở sắp xếp.

b) Đối với người không tự tìm lấyviệc làm lại không chịu làm việc do Ủy ban nhân dân cơ sở sắp xếp thì bắt buộclao động. Lệnh bắt buộc lao động tại chỗ do Chủ tịch Ủy ban nhân dân khu phố,quận, huyện ký. Lệnh bắt buộc lao động tập trung do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh,thành phố trực thuộc trung ương ký.

Người bị bắt buộc lao động đượchưởng các chế độ đãi ngộ như người đi làm hợp đồng có thời hạn cho Nhà nước (nếulao động tại công trường lao động do Nhà nước quản lý) hoặc như xã viên dự bị củahợp tác xã (nếu lao động tại hợp tác xã).

Trường hợp đương sự thấy biệnpháp xử lý không đúng theo quy định của Nhà nước thì có quyền khiếu nại. Trongkhi chờ giải quyết, đương sự vẫn phải chấp hành lệnh bắt buộc lao động. Cơ quanthanh tra hoặc cơ quan lao động có trách nhiệm xác minh đơn khiếu nại và trả lờicho đương sự chậm nhất trong 30 ngày.

Trong thời gian bắt buộc lao động,người làm tròn nhiệm vụ, thực hiện đúng nội quy, kỷ luật lao động của cơ quan,đơn vị trực tiếp quản lý, thì được xét giảm thời hạn, hoặc xóa kỷ luật bắt buộclao động. Người nào được xóa kỷ luật bắt buộc lao động thì lý lịch của người đósẽ không ghi kỷ luật đó và sẽ được cơ quan lao động sắp xếp việc làm hợp lý nhưnhững người lao động bình thường khác; người nào không chịu làm việc, không chấphành nội quy kỷ luật lao động, thì bị tăng thêm thời gian bắt buộc lao động. Việcxét giảm, xóa hoặc tăng thời gian bắt buộc lao động do cơ quan ra lệnh bắt buộclao động xem xét quyết định hàng năm.

Đối với người chống lại lệnh bắtbuộc lao động, người đang bị bắt buộc lao động lại có hành động phạm pháp, ngườiđã qua thời gian bắt buộc lao động nhưng vẫn tiếp tục không chịu lao động, tiếptục làm ăn phi pháp thì phải tập trung cải tạo.

3. Các ngành, các cấp phảicoi công tác sắp xếp việc làm cho những người có khả năng lao động và xử lý nhữngngười không chịu lao động là một công tác vận động cách mạng; phải phát động quầnchúng phê phán những người không chịu lao động, những người làm ăn phi pháp vàkiến nghị với chính quyền địa phương kiên quyết xử lý những người đó.

Để thực hiện chủ trương sắp xếpviệc làm cho người lao động và bắt buộc lao động đối với các đối tượng đã nói ởtrên, ở mỗi cấp tỉnh, thành phố, quận, huyện, khu phố cần thành lập một ban gồmcó:

- Một phó chủ tịch Ủy ban nhândân (đồng thời là Thường vụ cấp ủy Đảng) làm trưởng ban;

- Thủ trưởng hoặc phó cơ quanlao động làm phó ban thường trực;

- Thủ trưởng hoặc phó cơ quancông an làm phó ban;

- Thủ trưởng hoặc phó cơ quantài chính, ủy viên;

- Thủ trưởng hoặc phó cơ quanlương thực, ủy viên.

- Thủ trưởng hoặc phó cơ quanthương nghiệp, ủy viên.

- Đại diện công đoàn, đoàn thanhniên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ làm ủy viên.

Giúp việc ban có một số cán bộchuyên trách để nắm tình hình và phân loại số người cần sắp xếp việc làm hoặc cầnbắt buộc lao động, cần tập trung cải tạo rồi đề ra đề án (kể cả kinh phí) và biệnpháp thực hiện để trình cấp ủy và Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định; hướng dẫn,đôn đốc, kiểm tra các ngành và cấp dưới thực hiện.

Tại các thành phố, thị xã lớn cầntổ chức những công trường lao động (cơ sở sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệphoặc xây dựng cơ bản…) ở xa thành thị để quản lý, sử dụng và giáo dục người bịbắt buộc lao động tập trung. Các công trường lao động nói trên phải có phươnghướng, kế hoạch sản xuất cụ thể; phải chuẩn bị đủ nơi ăn, ở, công cụ lao động,dụng cụ sinh hoạt, thuốc men; có chương trình dạy nghề và biện pháp an toàn laođộng. Điều quan trọng nhất là phải điều đồng đủ số cán bộ quản lý gồm những ngườicó phẩm chất, đạo đức tốt, có nhiệt tình và lòng thương yêu những người có lầmlỗi, có khả năng quản lý lao động sản xuất, biết giáo dục chính trị, tư tưởngvà dạy nghề… Để có đủ số cán bộ này, cấp ủy và Ủy ban nhân dân phải điều động từcác ngành và các đoàn thể quần chúng ở địa phương.

Tùy hoàn cảnh của địa phương, cấpủy và Ủy ban nhân dân có thể giao cho đoàn thanh niên đảm nhiệm việc tổ chức,quản lý một số công trường bắt buộc lao động với sự giúp đỡ về kinh phí, công cụlao động, v.v… của chính quyền.

Đối với người bị bắt buộc lao độngtại chỗ do Ủy ban nhân dân khu phố, quận, huyện chỉ định và giao cho các côngtrường, xí nghiệp Nhà nước hoặc hợp tác xã ở địa phương quản lý thì cơ quan sửdụng phải cùng với đoàn thể quần chúng và chính quyền cơ sở phối hợp chặt chẽtrong việc giáo dục và quản lý họ cho đến khi họ tiến bộ được xóa kỷ luật bắtbuộc lao động.

4. Việc bắt buộc lao độngtrước hết phải tiến hành tại các thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, HảiPhòng, Quảng Nam - Đà Nẵng; ở các tỉnh, thành phố khác có thể tùy tình hình màvận dụng theo quyết định số 201-CP và theo chỉ thị này. Các Bộ Nội vụ, Lao độngcùng các ngành có liên quan và các đoàn thể ở trung ương phải giúp đỡ, chỉ đạocác địa phương tiến hành các công việc nói trên một cách đồng bộ, dứt điểmtrong thời hạn nhất định để tạo ra chuyển biến rõ rệt và tác động tốt đến kinhtế, xã hội ở địa phương.

Ủy ban nhân dân các thành phố, tỉnhphải chỉ đạo cấp dưới điều tra nắm chắc tình hình từng hộ, lập hồ sơ từng ngườicần bắt buộc lao động, lập phương án cụ thể và nếu có những việc không giải quyếtđược thì phải trực tiếp báo cáo xin ý kiến các ngành ở trung ương hoặc Thường vụHội đồng Chính phủ; nhất thiết không được vin cớ khó khăn mà không làm, Thườngvụ Hội đồng Chính phủ sẽ trực tiếp nghe các thành phố báo cáo kế hoạch triểnkhai công tác này.

Việc tổ chức sắp xếp việc làm vàbắt buộc lao động phải được kết hợp chặt chẽ với các công việc tăng cường khảnăng chiến đấu, tăng cường phòng gian bảo mật, giữ vững trật tự trị an trongtình hình mới.

Để các mặt quản lý xã hội ở cácthành phố, thị xã có nề nếp, đi đôi với tích cực sắp xếp việc làm và kiên quyếtbắt buộc lao động, các địa phương cần tăng cường chỉ đạo thực hiện các biệnpháp đăng ký kinh doanh, quản lý lương thực, quản lý hộ khẩu theo hướng sauđây:

- Mở rộng việc cấp đăng ký kinhdoanh sản xuất cho các hợp tác xã và cá thể để khuyến khích sản xuất những mặthàng không do Nhà nước quản lý và cung ứng vật tư; đặc biệt, cần khuyến khích sảnxuất những mặt hàng dùng nguyên liệu trong nước, dùng phế liệu, phế phẩm, tạothêm việc làm, thu hút những người chưa có việc làm.

- Tạm cắt hoặc cắt hẳn việc bánlương thực, thực phẩm và hàng công nghệ phẩm cho người trong tuổi lao động, cósức lao động mà không chịu lao động theo sự sắp xếp của chính quyền.

- Đối với những người không có hộkhẩu thường trú nhưng vẫn ở thành phố, thị xã, nếu đang có việc làm có ích vàcó lý do chính đáng cần ở thành phố, thị xã thì cho đăng ký thường trú; nếu làmăn trái phép và không có lý do chính đáng ở thành phố thì kiên quyết trả về nơicứ trú cũ, người nào không chịu về thì bắt buộc lao động hoặc tập trung cải tạo.

- Đối với những đối tượng phạmpháp hình sự hoặc bọn lưu manh chuyên nghiệp, tù hình sự được tha về, thì xử lýtheo pháp luật và theo các chủ trương chính sách đã có.

Trong vòng 6 tháng, các địaphương phải kiên quyết đưa đi tập trung cải tạo tất cả những đối tượng quy địnhtại thông tư số 121-CP ngày 09-8-1961 (2), quyết định số 154-CP ngày1-10-1973 (3) của Hội đồng Chính phủ và những đối tượng không chịuthi hành lệnh bắt buộc lao động nói trong mục 2, điểm b của chỉ thị này.

Đối với những người đã qua tậptrung cải tạo nói chung không cho về cư trú ở các thành phố, thị xã.

5. Bộ Lao động, Bộ Nội vụphối hợp với các ngành có liên quan, quy định chi tiết, hướng dẫn và kiểm trathực hiện chỉ thị này.




K.T. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
PHÓ THỦ TƯỚNG




Phạm Hùng

(1) In trong Công báo 1974, số 14,trang 196.
(2) Introng Công báo năm 1961, số 33, trang 493.
(3) In trong Công báo năm1973, số 16, trang 261.